|
Tháng 1 năm 1974, Thánh Bộ Đức Tin của Tòa
Thánh đã công bố một văn kiện không những cảnh giác các tín hữu mà còn mở
lời kêu gọi đến mọi người không phân biệt tín ngưỡng trên toàn cầu về việc
chống lại tội ác phá thai. Văn kiện nêu rõ:
“Không bao giờ được dùng sự phá thai như một
phương tiện để điều hòa kế hoạch sinh sản. Phạm đến các giá trị luân lý
luôn luôn là một mối hại lớn hơn bất cứ một sự phi lý nào về mặt kinh tế
hay dân số đối với lợi ích chung của nhân loại...”
Nói chung, lập trường của Giáo Hội Công Giáo
về việc phá thai vẫn hết sức dứt khoát và ghiêm ngặt. Phá thai chính là
mang trọng tội sát sinh, là tiếm quyền quyết định số phận một con người,
vốn là quyền của riêng Thiên Chúa, Đấng hiếu sinh và hay thương xót.
Vậy, để các đôi vợ chồng vừa lãnh nhận Bí
Tích Hôn Phối hiểu rõ vấn đề, các Giáo Lý Viên cần trình bày kỹ lưỡng các
điểm sau đây:
* Con cái là thành quả của tình yêu vợ chồng
và được Thiên Chúa chúc phúc. Giáo Hội không chủ trương cha mẹ sinh sản
con cái một cách vô tội vạ, thiếu trách nhiệm.
* Cha mẹ cần phải có suy nghĩ, quyết định
khôn ngoan trong việc điều hòa sinh sản ( sinh sản có trách nhiệm ) phù
hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội của gia đình mình để xác định số con cái
có thể nuôi nấng, giáo dục chu đáo.* Giáo Hội cho phép sử dụng phương pháp
Tiết Dục Định Kỳ, còn gọi là Ngừa Thai Tự Nhiên ( kiêng cữ trong thời kỳ
người phụ nữ có khả năng thụ thai theo tiến trình tự nhiên mà Thiên Chúa
đã sắp đặt ). Đó là các phương pháp như: Ogino-Knauss, Đo Nhiệt Độ,
Billings.
* Ngoài ra, Giáo Hội dứt khoát không cho
phép sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo ( dùng thuốc, dụng cụ ngừa
thai cho người nam hoặc cho người nữ ) vì nó đi ngược lại tiến trình tự
nhiên, làm tổn hại đến sức khỏe và hạnh phúc vợ chồng.
* Giáo Hội tuyệt đối cấm phá thai, vì phá
thai là giết người, giết trẻ em vô tội còn trong lòng mẹ. Cha mẹ và những
người cộng tác hoặc khuyến khích trong việc phá thai, đều phạm tội trọng
và bị mắc vạ tuyệt thông.
CÂU TRUYỆN
MINH HỌA: CƯU MANG VÀ SINH THÀNH
Tôi xin tự thú là tôi đã có lần suýt nữa
giết đi một mạng người mà Thiên Chúa đã ban cho tôi. Mỗi lần tôi mang thai
thì thai nhi hàng hạ tôi rất khổ sở: ăn uống không được, ngủ trằn trọc,
con sinh ra rồi thì lại khóc suốt đêm, bệnh hoạn thất thường. Vì thế, khi
đã có được 1 trai và 1 gái, tôi quyết định không sinh nữa. Thế nhưng, tôi
lại có thai cháu thứ ba. Thai nhi này hành hạ tôi còn nhiều hơn các cháu
trước. Tôi đành phải quyết định phá thai. Tôi không dám làm công khai vì
sợ cha mẹ tôi. Tôi đã âm thầm tìm cách trục thai nhi, nhưng tôi lại không
thành công !
Dạo ấy, dù tôi không phải là thành phần
ngoan đạo trong Giáo Hội, nhưng tôi cũng hay chạy đến cùng Chúa và Mẹ Ma-ri-a.
Có lẽ vì vậy mà Chúa và Mẹ Ma-ri-a đã cứu giúp tôi thoát khỏi trọng tội
sát nhân khi giết chính đứa con máu mủ của mình. Cuối cùng, tôi đã sinh ra
một đứa con mà tôi hết sức hãnh diện, bởi nó rất ngoan, rất chăm chỉ, lại
biết tánh cha mẹ, với đặc biệt nó rất quấn quít yêu thương tôi. Tôi thật
lòng hối lỗi và tạ ơn Chúa cùng Mẹ Ma-ri-a. Thế nhưng, dẫu sao, tôi vẫn
hay ray rứt với lương tâm mỗi khi nghĩ đến nó...
Được ơn soi sáng, tôi xin viết ra đây những
giòng chữ này để cảm tạ Chúa và Mẹ Ma-ri-a đã ban ơn lành cho tôi, cho
chồng con của tôi. Sau nữa, tôi muốn xin những phụ nữ như tôi, hãy tránh
vấp phạm những điều tôi đã vấp phạm, hay xa hơn nữa, tới cảnh giết chết
bào thai con mình. Xin các chị hãy luôn nhìn lên Chúa và Mẹ Ma-ri-a để tâm
hồn được tràn ngập trong ánh sáng dẫn lối và ơn lành của các Ngài.
Mùa Giáng Sinh đến, chúng ta mừng Thiên Chúa
đã ban cho chúng ta Đức Giê-su, trong sự hiệp thông cộng tác của Mẹ Ma-ri-a,
hầu cứu chuộc chúng ta. Chúng ta hãy nguyện xin Chúa Giê-su Hài Đồng và Mẹ
Ma-ri-a nhân lành hãy ban ơn cho chúng ta sống theo cuộc đời các Ngài để
chúng ta biết yêu thương, nhất là yêu thương con cái của mình ngay khi
chúng mới còn là phôi thai !
Mùa Giáng Sinh, chúng ta thường nhắc đến sự
sinh ra trong nghèo khó của Chúa Giê-su. Chúng ta ít nói đến Đức Mẹ với
những đau đớn khốn khó của Ngài. Một sản phụ phải sinh đẻ tại một vùng
nông thôn hẻo lánh, thiếu tất cả mọi phương tiện và nhu cầu tối thiểu. Một
người đàn bà, trước khi sinh thì đau đớn biết chừng nào, và sau khi sinh
thì mệt mỏi đến thế nào ? Thế nhưng, Đức Mẹ đã sinh Chúa Giê-su nơi chuồng
súc vật, không một người phụ giúp, ngoại trừ thánh Giu-se, thật khác xa
với những cảnh sinh nở chúng ta thường gặp hôm nay. Trên đất Mỹ thì khỏi
phải nói, những người mang thai được ưu tiên săn sóc. Nhiều cơ quan xã hội
của chính phủ, các tổ chức tôn giáo, hội đoàn sẵn sàng quan tâm đến các bà
mẹ ngay từ khi mới mang thai cho đến cả khi sinh đẻ...
Vậy mà chúng ta cũng đã thấy có biết bao phụ
nữ hôm nay đã khước từ trách nhiệm làm mẹ của họ, một trách nhiệm trọng
đại nhất mà Thiên Chúa toàn năng đã giao phó cho người phụ nữ. Vậy mà, một
khi họ đã tạo ra thai nhi trong lòng mình, họ lại không ngần ngại đi phá
thai, giết chết chính con mình. Không chỉ những người thiếu lòng tin tôn
giáo hay vô thần, ngay cả những người theo Chúa Giê-su cũng không ít kẻ
vấp phải trọng tội này !
Đức Ma-ri-a cưu mang Chúa Giê-su, đã chịu
cảnh hiểu lầm ngay đối với người bạn đời là thánh Giu-se khi ông chưa được
Thiên Chúa soi sáng để nhận biết Ơn Cứ Độ Chúa đã ban cho nhân loại qua Mẹ.
Với niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Mẹ đã không ngần ngại chịu
đựng mọi nỗi khổ tâm. Con đường của Chúa Giê-su sẽ đi là con đường khổ giá.
Con đường Mẹ đi cũng là con đường khổ ải sầu đau. Do đó, khi nhắc đến thập
giá Chúa Giê-su đã vác và chịu đóng đinh thì chúng ta phải hiểu rằng: sự
kiện Mẹ mang lấy Chúa Giê-su trong chín tháng mười ngày, cùng những nỗi
đau khổ mà Mẹ đã vượt qua cũng là một ơn trọng đại của Thiên Chúa ban cho
chúng ta, đặc biệt là phái nữ !
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta ánh sáng Đức
Ki-tô và ánh sáng của Mẹ Ma-ri-a để soi rọi cho chúng ta bước đi vững vàng
trên cuộc đời. Những người phụ nữ luôn sống trong Đức Ki-tô thì không thể
nào chối từ tấm gương của Mẹ, mà trái lại, phải suy gẫm về cuộc đời yêu
thương của Mẹ để từ đó theo chân Mẹ mà làm tròn bổn phận cao trọng của
Thiên Chúa đã trao phó.
Phụ nữ chúng ta phải tin vào lòng nhân lành
yêu thương vô bờ của Thiên Chúa và Mẹ Ma-ri-a, để từ đó, mỗi khi chúng ta
được mang thai, thì dẫu có gặp phải nghịch cảnh thế nào đi nữa, chúng ta
cũng biết chạy đến cùng Mẹ, xin Mẹ trợ giúp để chúng ta có thể làm tròn
thiên chức làm mẹ...
Bài của một phụ nữ Việt Nam xin giấu tên,
hiện sống tại Hoa Kỳ
CHỨNG TỪ CỦA THỜI ĐẠI: THẢM TRẠNG PHÁ
THAI
Dưới đây là một ghi chép của một sinh viên
Công Giáo yêu cầu được giấu tên, sau đợt thực tập tại một bệnh viện phụ
sản lớn ở Sài-gòn năm 1995. Bản thân anh đã xin chuyển công tác sang phục
vụ Khoa Nhi vì nỗi ám ảnh tinh thần cứ đeo đẳng mãi. Có thể coi đây là một
chứng từ sống động đến rùng mình về thảm trạng nạo phá thai hiện nay ở
Việt Nam và trên toàn thế giới !
“Điều Hòa Kinh Nguyệt” thực chất là phương
pháp để phá thai sớm. Nó còn được ngụy trang dưới nhiều cách gọi có vẻ
mang tính khoa học để đánh lừa những phụ nữ bình dân ít học, như: Hút Điều
Hòa Kinh Nguyệt (menstrual regulation), Hút Tối Thiểu (minisuction), Hút
Tạo Kinh Nguyệt (menstrual extraction).
Còn “nạo phá thai” là cách gọi nôm na của
phương pháp đình chỉ thai nghén, chủ động qua đường âm đạo. Thủ thuật được
tiến hành bằng cách nong cổ tử cung để gắp thai nhi và nhau thai ra khỏi
bụng người mẹ, sau đó, nạo sạch các thành vách của buồng tử cung. Trên
nguyên tắc của nhà nước hiện nay về việc kế hoạch hóa, chỉ được phép nạo
phá thai khi thai còn nhỏ dưới 12 tuần tuổi. Thế nhưng, trong thực tế thì
khác xa !
Rất hiếm khi vấn đề tai họa trước mắt và lâu
dài của việc nạo phá thai được thẳng thắn trình bày cho giới phụ nữ. Họ
không ngờ đó sẽ là nguy cơ băng huyết, vỡ tử cung, nhiễm khuẩn tử cung và
gây tổn thương đường sinh dục. Về lâu về dài, người phụ nữ phá thai có thể
bị triệt sản, không thể có thai nữa. Nếu có thai thì tử cung đã bị chai,
cứng đơ ra và rất khó sanh. Sau khi sanh, sản phụ còn có thể bị băng huyết
nặng.
Trong các tai hại nêu trên, nổi cộm lên nguy
cơ bị băng huyết sau khi nạo thai hoặc băng huyết sau khi sanh, bởi nạo
thai chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng này. Các biến chứng do
băng huyết gây ra gồm có: phần đáy tử cung sẽ bị tăng cao thể tích lên dần,
to bề ngang và mềm nhão, rất dễ bị tổn thương.
Nguy hiểm nhất là chảy máu. Có thể máu vừa
chảy ra ngoài, vừa đọng lại trong buồng tử cung. Máu đỏ tươi lẫn với máu
cục, hoặc nhiễu từng giọt, cứ mỗi cơn co lại thì lại tống máu cục ra ngoài.
Sản phụ sẽ bị mất máu cấp tính, da và niêm mạc xanh hay trắng bệch, tay
chân lạnh ngắt, thấy khát nước vật vã, vẻ mặt hoảng hốt, mạch tim đập
nhanh, huyết áp tuột thấp bất thường. Nếu không phát hiện kịp thời, sản
phụ sẽ bị trụy tim mạch, choáng nặng đưa đến tử vong, hoặc do lượng máu
mất quá nhiều sẽ dẫn đến việc rối loạn đông máu.
Ngoài ra còn có hội chứng Shechan làm cho
sản phụ bị gầy rạc đi, rụng tóc, mất sữa, mất kinh nguyệt do bị hoại tử ở
tuyến yên. Người nạo thai còn có thể bị các chứng như: nhiễm trùng hậu sản;
suy thận trầm trọng, viêm tắc tĩnh mạch; nhiễm khuẩn máu đưa tới 100 % tử
vong vì ung thư tử cung; viêm phúc mạc toàn bộ xảy ra trong khoảng 3, 4
ngày sau khi nạo do bị nhiễm khuẩn bộ phận sinh dục, mắt trũng, môi khô,
tim đập nhanh và loạn nhịp, thân nhiệt cao, nôn mửa, đau bụng dữ dội, bí
trung tiện và đại tiện, âm đạo viêm to hết sức đau đớn, từ đó, vùng bị
viêm sẽ tạo ra mủ chảy ngược vào ổ bụng, gây ra viêm phúc mạc, dễ bị thủng
tử cung đột ngột làm bệnh nhân tử vong không thể cấp cứu được !
Trong thực tế, tại khoa sản, phòng khám nạo
thai của một bệnh viện phụ sản lớn ở Sài-gòn, trung bình mỗi ngày có trên
30 người đến nạo phá thai. Số thai nhi bị nạo nhiều gấp 3 lần số được sinh
ra. Có khi thai bị phá quá trễ, tình trạng giống như sinh non, đứa bé bị
trục xuất ra ngoài, bật khóc to, bác sĩ lạnh lùng úp mặt em xuống một
chiếc gối trong một phút để nó sẽ chết vì ngạt. Lại có những đứa bé như
linh cảm sẽ bị giết, đã không chịu bị trục ra ngoài bụng mẹ, bác sĩ đã
điềm nhiên dùng kìm, kéo và dao đưa thẳng vào tử cung để cắt vụn các chi
của em bé, rồi gắp ra từng phần !
Đa số những người đến nạo phá thai đều tỏ ra
dửng dưng, cho đây là một phong trào tốt cần phải làm để kế hoạch hóa dân
số. Hơn nữa, họ còn được thưởng kha khá dưới hình thức bồi dưỡng. Có thể
nói lương tâm của họ như thể bị chai đá. Có người đã nạo đến 5, 6 lần !
Đặc biệt, phải kể đến tình trạng phá thai của các cô gái vị thành niên.
Chỉ riêng tại Việt-nam đã có gần 30.000 ca phá thai mỗi năm của riêng độ
tuổi từ 13 đến 17.
Bản thân tôi đã tìm cách khéo léo và kín đáo
để phỏng vấn 3 người vào nạo thai, một người mang thai đã 3 tháng, hai
người kia có thai 2 tháng. Tôi hỏi: “Tại sao chị lại đi phá thai ?” Chị
thứ nhất trả lời: “Vì tôi sợ lại sẽ sinh ra con gái !” Chị thứ hai biện
bạch: “Gia đình tôi nghèo quá, sợ không nuôi nổi nó !” Còn chị thứ ba thì
thản nhiên bảo: “Vì tôi thích nạo, quen rồi !”
|