|
ĐỨc
Thánh Cha và
bỨc vẼ biẾm hỌa.
(theo lời kể của Đức Cha
FALCO LEANDRI - Giám mục Giáo Phận Gap)
Tôi được đặc ân dùng bữa nhiều
lần với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Trong các kỳ thượng hội đồng qui
tụ các hồng y và giám mục trên toàn thế giới, lúc nào cũng cần có 5 phát
ngôn viên để trình bày công việc cho các nhà báo: một người nói tiếng
Đức, một người tiếng Ý, một người tiếng Tây Ban Nha, một người tiếng Anh
và một nguời tiếng Pháp. Như một cử chỉ cám ơn, cuối kỳ thượng hội đồng
Đức Thánh Cha mời chúng tôi dùng bữa với ngài.
Thật là một ngạc nhiên thú vị
khi phát hiện sự khiêm nhường và đơn sơ, cũng như thái độ lắng nghe của
ngài , khi nói với chúng tôi bằng tiếng mẹ đẻ của mỗi người. Ngài hỏi
thăm về đời sống giáo hội trong từng đất nước của chúng tôi. Một vài hôm
trước một bữa ăn như thế, một tờ báo châm biếm đã vẽ bức tranh hí họa
trong đó có Đức Thánh Cha cùng với các hồng y Pháp và vài vị giáo sĩ
khác. Tôi đã đưa cho các giám mục thân hữu xem và họ muốn có một bản sao.
Trong bữa ăn, một vị lấy khuỷu tay khều tôi, trao bức họa mà nói khe khẽ:
“Đưa cho Đức Thánh Cha xem”. Hành vi này không tránh được cặp mắt của
Đức Thánh Cha, và ngài bảo trao cho ngài xem. Làm sao bây giờ? Làm sao
mà từ chối ngài bây giờ? Chúng tôi giống như các cậu học trò bé con bị
bắt quả tang đang vẽ tranh biếm họa về thầy giáo của mình. Không còn
cách nào tránh né, tôi trao cho ngài. Ngài cầm lấy, rồi lấy tay chỉ từng
người mà nêu tên những người ngài nhận ra: “Lustiger, Decourtray, Cha
Pierre”, rồi quay sang tôi ngài chỉ vào bức họa mà nói: “À, người này là
cha đây!”. Sau đó, ngài trỏ ngón tay vào hình mình mà nói: “Tốt lắm, tốt
lắm, nếu Giáo Hoàng làm cho người ta cười được, thì có nghĩa là ngài đem
lại hạnh phúc đấy!” Tôi không lấy gì làm tự hào! Tôi vẫn còn nhớ lại
hình ảnh ngài ngồi nán lại sau khi chào từ biệt, để viết một câu trong
cuốn kinh nhật tụng của một anh em chúng tôi. Nếu tôi kể lại giai thoại
này ngày hôm nay, chính là để cho chúng ta quên đi một khoảnh khắc nỗi
đau buồn của mình.
LỜi
PhẢn ĐỐI TẠi
Bàn
Ăn
(theo lời kể của Tổng Giám
Mục
Daniel
E.
Pilarczyk của Giáo Phận Cincinati, Hoa Kỳ)
Cứ mỗi
năm năm một lần, khi các giám mục đến Rôma để viếng mộ hai thánh Tông Đồ
và tiếp kiến Đức Thánh Cha theo luật, thường được ăn tối với Ngài.
Trong lần thăm
viếng vừa qua, phái đoàn của chúng tôi quây
quần quanh bàn ăn tối của Đức Giáo Hoàng, tôi thấy bảng tên tôi bị in
sai. Máu nghịch ngợm trong người tôi nổi lên, nên sau khi Đức Thánh Cha
đã đọc kinh và mọi người an toạ, tôi long trọng tuyên bố, “Thưa Đức
Thánh Cha, con muốn chính thức phản đối.” Các giám mục trong nhóm giật
mình, hoảng hốt. Đức Thánh Cha nhìn tôi và nói, “Phản đối à?” Tôi đáp,
“Thưa vâng. Tại Giáo phận của con là Cincinati, tên của con thường bị in
sai, bởi vì đa số dân ở đó là người gốc Đức hay Ái Nhĩ Lan. Nhưng ngay
tại đây, nơi bàn ăn của vị Giáo Hoàng người Ba Lan đầu tiên, con nghĩ
tên con bằng tiếng Ba Lan sẽ được in đúng. Thế mà nó vẫn bị in sai, nên
con phản đối!”
Đức Giáo Hoàng mỉm cười nói,
“Này Đức Tổng Giám Mục, nếu cha muốn phản đối, thì phải gửi đơn lên Quốc
Vụ Khanh. Chúng ta ai cũng phải theo đúng thủ tục cả.”
Ngài thật là một ngưòi dễ mến và
dí dỏm. Tôi có nhiều chuyện đáng nhớ về ngài, và chuyện này tôi lưu nhớ
mãi. Đến hôm nay, tôi vẫn còn giữ bảng tên in sai này.
ĐỨc
Giáo Hoàng KhẢo Bài
(theo lời kể của Hồng Y
Edward Egan, Tổng Giám Mục New York)
Ngay sau khi được bổ nhiệm làm
Tổng Giám Mục New York, tôi được mời ăn tối với Đức Thánh Cha và hai
linh mục thư ký. Đấng kế vị thánh Phêrô nhìn tôi, nháy mắt. Ngài mang
vào bàn ăn một cuốn niên giám của Vatican, Annuario Pontifico, mở ra và
bắt đầu hỏi tôi về Tổng Giáo Phận của tôi: có bao nhiêu giáo xứ, bao
nhiêu linh mục, bao nhiêu trường học, bao nhiêu tu sĩ,..v..v... Tôi hồi
hộp và trả lời đại khái, cuối cùng Ngài đóng sách lại và cười to.
Tuy nhiên, ngay sau đó Ngài
nghiêm nghị và bắt đầu nói về New York. Ngài rất hiểu biết và có những
nhận định sâu sắc, cuối cùng Ngài kết thúc bằng lời hứa sẽ cầu nguyện
cho tôi và đoàn chiên mà tôi được trao phó để phục vụ.
Sau bữa tối đó, khi vị linh mục
thư ký đón tôi và hỏi chuyện ra sao, tôi trả lời cho biết là Vị Giám Mục
Giáo Phận Rôma thường cầu nguyện cho Tổng Giáo Phận New York và biết về
giáo phận còn hơn vị tân Tổng Giám mục phụ trách. Tôi cũng tự nhắc mình
lần sau đến Kinh Thành Vĩnh Cửu phải nhớ mang theo một cuốn Niên Giám
chuẩn bị, để nếu Ngài có cho tôi thi lại lần nữa thì còn biết đường mà
trả lời.
NgưỜi
NhiỀu Ngôn NgỮ
(theo lời kể của TGM John
Foley- Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông)
Đức Thánh Cha thường theo dõi
công việc của các ban bộ trong Giáo Triều bằng cách mời các viên chức
hàng đầu tại Vatican dùng bữa trưa. Trong một lần như thế, Ngài hỏi,
“Buổi truyền hình nào đã làm cha gặp nhiều khó khăn nhất?”
Tôi trả lời, “Thưa Đức Thánh
Cha, đó là Thánh Lễ của ngày Hoà Bình Thế Giới tại Phi-líp-pin vào năm
1995.”
Ngài hỏi, “Tại sao vậy?”
Tôi đáp, “Lý do chính là do Đức
Thánh Cha trễ một giờ rưỡi, vì đông người quá, người ta không cho Đức
Cha đi xe Papamobile”
Ngài cười và hỏi tiếp: “Thế thì
cha làm gì trong thời gian đó?”
Tôi đáp, “Trước hết, con nói về
lịch sử ngày Giới Trẻ Thế Giới, kế đến là lịch sử Giáo Hội Phi-líp-pin,
rồi sau đó là lịch sử Giáo Hội.”
Đức Giáo Hoàng mỉm cười; tôi nói
tiếp: “Nhưng chưa hết. Vào cuối thánh lễ, Đức Cha nói không cầm giấy
bằng tiếng Anh, rồi tiếng Tây Ban Nha, là tiếng dùng tại Phi, và con
thông dịch được; rồi bằng tiếng Ý, vì có một số người Ý, con cũng dịch
được. Nhưng khi Đức Cha thấy cờ của xứ Bosnia-Herzegovina, thì Đức Cha
nói bằng tiếng Serbo-Croatian, lúc này thì con chịu, mãi cho đến khi con
nghe được tiếng mir, mà con biết nghĩa là ‘hoà bình’ theo ngôn ngữ
Slave.”
Đức Thánh Cha tiếp lời, “Nó cũng
có nghĩa là ‘toàn cầu’ hoặc ‘vũ trụ.’”
Tôi trả lời: “Con nói trên
truyền hình rằng Đức Thánh Cha thấy cờ của Bosnia-Herzegovina và Đức Cha
hứa cầu nguyện cho quốc gia đang bị chiến tranh này sớm có hoà bình.”
Đức Thánh Cha mỉm cười đáp lời:
“Đó đúng là lời tôi nói.”
Tôi thở phào nhẹ nhõm và thầm
dâng lời tạ ơn Chúa.
Tôi
ĐỂ LẠc MẤt ĐỨc Thánh Cha
(theo lời kể của Hồng Y
Roger Mahony, Tổng Giáo Phận Los Angeles)
Vào tháng 9 năm 1987, Đức Giáo
Hoàng Gioan-Phaolô II nhân chuyến đi mục vụ tại Hoa Kỳ, và ghé thăm Los
Angeles hai ngày.
Trong đêm đầu tiên ngụ tại nhà
xứ của Vương Cung Thánh Đường Los Angeles, sau khi dâng Thánh lễ tại Vận
Động Trường Coliseum tại đây, chúng tôi về sớm hơn dự kiến. Theo chương
trình thì sẽ có ăn tối tại phòng ăn nhỏ trên lầu ba của toà nhà xứ.
Khi Đức Thánh Cha, thư ký của
Ngài là Đức ông Stanislaw Dziwisz và tôi ra khỏi thang máy, bước vào
phòng ăn, chúng tôi ai cũng ngửi thấy mùi thức ăn trong bếp. Tuy nhiên,
chẳng thấy đầu bếp, người phục vụ, hay nhân viên đâu cả. Hơi hoảng, tôi
trấn an Đức Thánh Cha rằng nhân viên chắc đi đâu đó gần đây. Tôi mời
Ngài ngồi và đi tìm nhân viên nhà ăn.
Thì ra là An Ninh Mật Vụ đã lùa
mọi người xuống từng trệt để kiểm tra, mà quên cho phép đầu bếp và nhân
viên phục vụ được phép về phòng ăn.
Khi
tôi trở lại phòng ăn thì chẳng thấy Đức Thánh Cha và thư ký của Ngài đâu
cả, Tôi nghe tiếng nói trong bếp, và khi đi vào, tôi thấy Đức Thánh Cha
đang mở nồi niêu xoong chảo. Chưa kịp nói gì thì thấy Đức Thánh Cha và
Đức ông thư ký đã tự lấy súp cho mình.
Đức
Thánh Cha trông thật thoải mái, tự nhiên trong nhà bếp, và làm cho mọi
người chúng tôi cảm thấy như là người thân, bè bạn cùng đến ăn uống với
nhau.
Trí
NhỚ TuyỆt VỜi và NgưỜi BiẾt Đùa
(theo lời kể của Hồng Y
Theodore McCarrick, Tổng Giám Mục Washington)
Lần đầu tiên tôi gặp Đức Thánh
Cha tại Đại Hội Thánh Thể Thế Giới trong năm 1976, trước khi Ngài làm
Giáo Hoàng. Bấy giờ Ngài làm Tổng Giám Mục Krakow, đến Hoa Kỳ với một
phái đoàn Giám mục Ba Lan, và Ngài là khách của Hồng Y Cooke tại New
York. Tôi đang đi nghỉ thì được triệu về để đón tiếp phái đoàn.
Trong một bữa ăn sáng, trước khi
Đức Hồng Y Cooke đến dâng Thánh Lễ, Đức ông Larry Kenney, một viên thư
ký và tôi ngồi cùng với Đức Thánh Cha (khi ấy còn làm Tổng Giám Mục) và
viên thư ký (bây giờ là Tổng Giám mục Dziwisz). Tôi nói đùa về việc phải
bỏ kỳ nghỉ và than phiền rằng Đức ông Kenney chẳng bao giờ cho tôi nghỉ
bù thời giờ đã phải hy sinh. Tôi nói trong văn phòng chẳng công bình
chút nào. Hồng y Wojtyla cũng đùa theo và hóm hỉnh góp chuyện trả lời
một lúc trước khi Đức Hồng y Cooke đến, sau đó Ngài nói về những đề tài
quan trọng, cần thiết. Thế là tôi quên bẵng chuyện tôi đã nói.
Sau đó ít lâu, tôi nhận được
thiệp cám ơn của Đức Hồng Y Wojtyla. Trên tấm thiệp, Ngài viết, “Tôi hy
vọng cha đã được nghỉ bù vì đã hy sinh dịp tôi đến viếng thăm.”
Hai năm sau tại Rô-ma, trong lần
triều kiến đầu tiên với tân Giáo Hoàng, tôi đứng cùng hàng với cả trăm
Giám mục đến nhân dịp đặc biệt này. Đến phiên tôi, Đức Thánh Cha chận
lại, suy nghĩ như lục lại trí nhớ, và rồi quay ra hỏi tôi, “Thế Đức Cha
đã được nghỉ bù chưa?”
Lúc này thì tôi biết chúng ta
không những có một Đức Thánh Cha với trí nhớ tuyệt vời, mà còn là món
quà tuyệt diệu cho mọi người●
Trích
John-Paul II: A Light for the World
– Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ xuất bản 2003 |