|
Maranatha 41
Lưu ý:
Để cho gọn, bài viết giả tạm sử dụng (và chỉ có giá trị trong bài này
thôi) cụm từ ‘Giáo Hội Phương Đông’ để chỉ định các Giáo Hội Chính Thống;
và ‘Giáo Hội Phương Tây’ để chỉ định các Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành.
I. Xác định Ngày Phục Sinh.
“Phục
Sinh là ngày Chúa Nhật sau ngày 14 âm lịch, và đấy là ngày 21 tháng 3 hoặc
ngày hôm sau.”
Đấy là qui tắc mà Công Đồng Nicê đề ra năm 325, để xác định ngày mừng lễ
Phục Sinh trong Giáo Hội Phương Đông cũng như Phương Tây. Như thế ta hiểu
vì sao Chúa Nhật Phục Sinh không bao giờ có một ngày nhất định theo dương
lịch. Và đối với Giáo Hội Tây Phương, ngày Chúa Nhật Phục Sinh sớm nhất là
ngày 23 tháng 3 (nếu trăng tròn ngày 22, và chúa nhật ngày 23); và ngày
trễ nhất là ngày 25 tháng 4 (nếu trăng tròn 28 ngày sau ngày 21 tháng3, và
6 ngày sau ngày trăng tròn mới đến chủ nhật). Ta cũng nghe nói một cách
ngắn gọn hơn:
“Phục Sinh là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn mùa xuân.”
Theo hai câu trên, thì phải xem ngày bắt đầu mùa xuân là ngày 21 tháng 3.
Thế nhưng đối với các nhà thiên văn, mùa xuân bắt đầu vào ngày Xuân Phân,
nghĩa là lúc mà ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Vào thời Cộng Đồng Nicê,
thì Xuân Phân rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, nhưng dần dần (như ta sẽ thấy
ở phần sau) hai ngày này không còn trùng nhau nữa.
Mặt khác, trên lý thuyết, phải xem là trăng tròn ở ngày thứ 14 kể từ ngày
Xuân Phân.
Bởi lẽ ngày Phục Sinh được xét trên cùng một qui tắc, thế thì vì sao lễ
Phục Sinh trong Giáo Hội Chính Thống lại ít khi trùng với lễ Phục Sinh
trong Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành?
Có hai lý do:
1. Phương đông và phương tây sử dụng hai lịch khác nhau: Phương tây đã
thay đổi lịch để đúng hơn với vòng xoay của mặt trời.
2. Không cách tính nào căn cứ vào ngày trăng tròn thực tế, mà theo một
cách tính toán khác.
II. Ngày 21 tháng 3 không trùng nhau trên hai lịch.
Ngày Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương căn cứ theo lịch Juliô, còn Phương
Tây thì sử dụng lịch Grêgôriô. Lịch Juliô do Juliô Xêsa lập ra năm 708 La
Mã, nghĩa là năm 45 trước Công Nguyên. Đây là nguồn gốc của niên lịch quốc
tế mà hiện nay mọi nơi đều sử dụng, được gọi là lịch Grêgôriô, vì do Đức
Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ấn định cho các xã hội công giáo La Mã vào năm
1582.
Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lịch là cách xác định năm nhuần: Theo lịch
Juliô, mọi năm chia chẳn cho 4 đều là năm nhuần; còn theo lịch Grêgôriô,
chỉ những năm tận cùng bằng 00 (hai số không) mà chia chẳn cho 400 thì mới
là năm nhuần. (Như vậy, năm 2000 là nhuần, các năm 1700, 1800, 1900 không
phải là nhuần).
Lý do có sự cải cách này là vì năm Dương Lịch – từ Xuân Phân này đến Xuân
Phân kia – kéo dài độ chừng 365,2422 ngày. Thế nhưng một năm trong lịch
Juliô dài 365,25 ngày, còn đối với lịch Grêgôriô là 365,2425 ngày.
Khoảng cách 0,0078 ngày (0,2500 – 0,2422) là một thời gian rất nhỏ, nhưng
sau 400 năm thì cũng đã trở thành 0,0078 x 400 nghĩa là 3,12 ngày. Như
vậy, lịch Juliô, sau 400 năm, lại chậm thêm hơn 3 ngày so với mặt trời. Do
đó, theo lịch Julien thì Xuân Phân đến sớm hơn thực tế.
Năm 1582, khi Giáo Hội La Mã quyết định sử dụng lịch Grêgôriô thì người ta
quyết định bắt lại 10 ngày đã trễ so với mặt trời, và như vậy, năm 1582,
sau ngày 4 tháng 10 là đến ngay ngày 15 tháng 10. Thế là có một sai biệt
10 ngày giữa lịch Juliô và Grêgôriô. Rồi đến các năm 1700, 1800, 1900, thì
lại thêm 1 ngày cách biệt. Như thế, hiện nay, lịch Juliô trễ hơn 13 ngày
so với lịch Grêgôriô.
Ví dụ: Năm 1919, Nước Nga sử dụng lịch Grêgôriô thay cho lịch Juliô, nên
họ phải nhảy từ thứ tư 31 tháng 1 sang ngày thứ năm 14 tháng 12. Do đó
‘Cách Mạng Tháng Mười’ (24 /10/1917 lịch Juliô) lại được mừng hàng năm vào
tháng Muời Một (6/11 lịch Grêgôriô).
Tuy nhiên, các Giáo Hội Phương Đông vẫn dùng lịch Juliô để tính một số các
ngày lễ, trong đó có Lễ Phục Sinh. Sự thay đổi lịch này còn nảy sinh một
sự sai biệt khác liên quan đến Giáng Sinh. Năm 1800, ngày 25 tháng 12
trong lịch Julien tương đương với ngày 6 tháng 1 trong lịch Grêgôriô. Vì
thế, Giáo Hội Phương Tây Mừng Lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng mừng
ngày 6/1 là lễ Hiển Linh. Trong khi đó Giáo Hội Chính Thống vẫn mừng Lễ
Giáng Sinh vào 6/1 hàng năm. (Hiện nay, mặc dù ngày 6/1 vẫn là lễ Hiển
Linh trong GH công giáo, nhưng ngày lễ Giáng Sinh trong Giáo Hội Chính
thống là
ngày 7/1).
Tuy nhiên sự khác biệt về các ngày trong hai lịch không phải là yếu tố duy
nhất khiến cho ngày Lễ Phục Sinh không trùng với nhau ở hai Giáo Hội. Yếu
tố thứ hai là cách tính ngày trăng tròn.
III. Mỗi lịch có một cách tính ngày trăng tròn khác nhau.
Lễ Phục Sinh còn tùy thuộc vào ngày trăng tròn mùa xuân, vì thế mà người
ta muốn biết trước thật lâu ngày nào là ngày trăng tròn. Bởi lẽ không thể
chờ đợi xem mặt trăng rồi mới xác định ngày, nên hai lịch có cách tính
khác nhau.
Hai ngày trăng rằm cách nhau khoảng 29,53 ngày. Từ năm 433 trước Công
Nguyên, Méton thành Athènes đã khám phá rằng 235 tuần trăng thì tương
đương với 19 năm dương lịch. Thật vậy, một năm trung bình có 365,24 ngày
và như thế 235 x 29,53 = 6939, 55 ngày, nghĩa là rất gần với 19 x 365,24 =
6939,56 ngày.
Vào khoảng năm 532, đan sĩ Denys le Petit sử dụng chu kỳ Méton để tính
ngày rằm mỗi tháng trong vòng 19 năm rồi bắt đầu trở lại. Và vì thế mà có
các tháng 29 và 30 ngày xen kẽ nhau. Thời gian đầu thì cách tính này khá
chính xác, nhưng trên thực tế thì sau 19 năm dương lịch có sai biệt là
1giờ 29 phút so với 235 tuần trăng. Tuy sai biệt này là ít, nhưng sau 3
thế kỷ thì sai biệt giữa ngày rằm lý thuyết (theo lịch Juliô) và ngày rằm
thực tế là 1 ngày. Và cách tính này đã kéo dài gần 1500 năm, vì thế cách
tính ngày rằm theo lịch Juliô lại thêm một sai biệt 4 đến 5 ngày sao với
lịch Grêgôriô (gần đúng với chu kỳ mặt trời hơn). Đó là lý do vì sao có sự
khác biệt giữa hai cách tính ngày Lễ Phục Sinh của các Giáo Hội Phương
Đông và Phương Tây.
Và cũng vì thế năm nay, Giáo Hội Phương Tây mừng lễ Phục Sinh ngày 27 – 03
thì Giáo Hội Phương Đông sẽ mừng vào ngày 01-05 (cách nhau hơn một tháng).
4. So sánh lễ Phục Sinh của Giáo Hội Phương Đông và Giáo Hội Phương Tây:
Từ
2003 đến 2008
|
Năm |
|
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
2007 |
2008 |
|
Trăng tròn
theo lịch Juliô |
Lịch Juliô |
CN 7/4 |
T6- 27/3 |
T5- 15/4l |
T2- 4/4l |
T6 - 24/3 |
T6 – 12/4 |
|
Tương đương
Lịch Gregorio |
CN 20/4
|
T5 9/4 |
T5 28/4 |
T2 17/4 |
T6 6/4 |
T6 25/4
|
|
Lễ PS GH
Phương Đông |
Lịch Jjuliô |
CN 14/4l |
CN 29/3 |
CN 18/4 |
CN 10/4 |
CN 26/3 |
CN 14/4 |
|
Tương đưong
Lịch Gregorio |
CN 27/4 |
CN 11/4 |
CN 1/5 |
CN 23/4 |
CN 8/4 |
CN 27/4 |
|
Trăng tròn
theo lịch Grêgôriô |
|
T4-16/4 |
T2- 5/4 |
T6-25/3 |
T5-13/4 |
T2 - 2/4 |
T7 22/3 |
|
Lễ PS GH
Phương Tây |
|
CN 20/4
|
CN 11/4 |
CN 27/3 |
CN 16/4 |
CN 8/4 |
CN 23/3 |
|