|
Trong mầu nhiệm Chúa Kitô, cứ nhìn một cách nông cạn, ta chỉ thấy nơi Chúa
Kitô là chính bản thân Người mà thôi. Nhưng nếu nhận ra một cách sâu xa,
và lắng nghe Lời Người mạc khải, thì hoàn toàn khác. Nơi Chúa Kitô là tất
cả những gì Thiên Chúa cần để tỏ bày cho trần gian. Nơi Chúa Kitô, Thiên
Chúa tự hiến mình để trao ban cho trần gian, trở thành tác giả của ơn cứu
độ. Ơn cứu độ ấy do Chúa Kitô thực hiện, và được ơn thánh hóa của Chúa
Thánh Thần tác động để (ơn cứu độ của Thiên Chúa) nên hiệu lực cho trần
gian.
Nếu bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi, ta không thể nói hết trong một khung giấy
ngắn ngủi thế này, chỉ xin nhìn vào một khía cạnh rất gần cận và hiển hiện
trong cuộc sống hôm nay, nhưng mang lại hiệu quả tuyệt vời, hiệu quả vĩnh
cửu mai ngày cho trần gian, đó chính là: CHÚA THÁNH THẦN. Chính Người là
Đấng làm cho ta được đến cùng Chúa Kitô, để rồi nhờ Chúa Kitô, ta đến cùng
Thiên Chúa.
Dù vậy, chúng ta cũng không tìm kiếm gì xa xôi, nhân dịp Hội Thánh đang
sống trong mùa trọng đại, mùa Phục Sinh và những tuần lễ liên tiếp cuối
mùa Phục sinh, được cử hành những mầu nhiệm trọng đại về Thiên Chúa (Thăng
Thiên, Hiện Xuống, Ba Ngôi), chúng ta cùng ôn lại một cách tóm lược một số
chân lý giáo lý đức tin thuộc về mầu nhiệm Chúa Thánh Thần, có liên quan
đến Ba Ngôi.
Giáo lý Công giáo dạy: Thiên Chúa là Chúa tể loài người và Chúa tể mọi
loài, mọi sự. Người có Ba Ngôi, nhưng duy nhất. Người duy nhất trong Ba
Ngôi vị. Loài người nói riêng, mọi thụ tạo nói chung, phải tôn thờ Người,
yêu mến Người vì Người tạo dựng và cứu độ tất cả chúng ta. Ta tôn thờ
Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi là tôn thờ Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.
I. CHÚA
THÁNH THẦN.
Thánh Kinh dùng nhiều hình ảnh để nói về Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, Chúa
Thánh Thần là: Thần Khí Giavê, là Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Đấng Bàu Chữa,
Thần Khí Sự Thật.
Trong lời tuyên xưng đức tin của mình (kinh Tin Kính), Hội Thánh tin tưởng
Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa
Con. Người cùng là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con. Vì thế, Người đồng
một bản thể như Chúa Cha và Chúa Con.
Lịch sử cứu độ, bằng chứng là Thánh Kinh Cựu ước cho thấy, Chúa Thánh Thần
đã có mặt từ trong Cựu Ước, ngay từ thuở tạo thiên lập địa (St 1,2). Nhưng
với Cựu ước, khuôn mặt của Chúa Thánh Thần chưa rõ ràng.
Trong Tân ước, nhất là trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu
nhiều lần mạc khải minh nhiên về Ngôi vị Thánh Thần. Theo Chúa Giêsu, Chúa
Thánh Thần được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu,
sau khi phục sinh, cũng sai Thánh Thần đến từ nơi Chúa Cha, để thánh hóa
Giáo Hội và dạy dỗ các môn đệ (Ga 16, 4-15).
II. CHÚA
KITÔ, ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT.
Một chân lý căn bản, được thư Do thái khẳng định mạnh mẽ, đó là: “Chúa
Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất,hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho đến
muôn đời.” (Dt 13, 8).
1. Chúa
Thánh Thần thúc giục ta đi tìm chân lý.
Nhập thể, cuộc sống và cái chết cứu độ của Chúa Kitô bày tỏ tất cả tình
yêu kỳ diệu của Thiên Chúa: một tình yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn đau
khổ và có sức cứu độ loài người. Đó là chân lý mà Hội Thánh tin kính.
Nhưng chân lý ấy, loài người không thể tự mình lãnh hội. Chính Chúa Thánh
Thần đưa ta vào chân lý. Chúa Thánh Thần làm cho ta thông hiệp với Chúa
Kitô, để ta biết cách chắc chắn rằng, Chúa Kitô là Đấng Cứu chuộc ta.
Trong bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho ta. Người làm cho
ta trở nên Con Thiên Chúa, xứng đáng nhận lãnh ơn cứu độ từ Chúa Kitô.
Chính Chúa Thánh Thần, trong bí tích rửa tội, làm cho đức tin chúng ta
phát triển ngày một hơn trong đời sống Kitô hữu của mình.
Trong bí tích Thêm sức, Chúa Thánh Thần củng cố đức tin, làm cho ta trở
thành môn đệ của Chúa Kitô, xứng đáng lãnh nhận Lời Thiên Chúa và loan
truyền cho thế giới.
Chúa Thánh Thần còn hướng dẫn người tín hữu trong đời sống. Chính Người là
“môi sinh” giúp ta hằng đến với Chúa Kitô qua những hoạt động thường nhật
của mình. Chỉ khi nào ta thực sự để Chúa Thánh Thần hành động, và hành
động theo sự thúc giục của Chúa Thánh Thần, ta mới được kết hợp và hiệp
thông hoàn toàn với Chúa Kitô.
Vậy chân lý đích thật là Chúa Kitô. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta biết và
đến được với chân lý.
2. Chúa
Thánh Thần giúp ta lãnh hội Lời Chúa Kitô.
“Nhưng Đấng Bàu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài
sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta đã
nói với các ngươi.” (Ga 14, 26).
Chính Chúa Thánh Thần giúp Hội Thánh và từng người hiểu và sống Lời Chúa
Kitô. “Ngài dạy các ngươi mọi sự và nhắc các ngươi nhớ lại.” Chính Chúa
Thánh Thần làm cho Lời Chúa Kitô thấm nhập nơi tâm hồn chúng ta. Cũng
chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời đó phát triển và trổ sinh hoa trái.
3. Chúa
Thánh Thần giúp ta hiệp thông với Chúa Kitô.
a. Hiệp
thông trong đức tin.
Đức tin cần phải có đối tượng. Đối tượng của đức tin nơi người tín hữu là
chính Thiên Chúa, là Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần làm cho ta biết đặt
niềm tin trọn vẹn vào Chúa Kitô, Đấng đã được Chúa Cha sai đến. Đấng có
nguồn gốc từ đời đời nơi Thiên Chúa, và có một khởi điểm khi đến trần gian.
Chúa Thánh Thần giúp ta tin rằng, Đấng ấy, dù sống giữa trần gian, vẫn là
Thiên Chúa.
b. Hiệp
thông trong đức cậy.
Chúa Kitô cho ta biết và hứa với ta về một đời sống vĩnh cửu. Chúa Thánh
Thần giúp ta, nung đốt trong tâm hồn ta niềm hy vọng và khát vọng mãnh
liệt về lời hứa ấy. Người luôn luôn thôi thúc và củng cố niềm hy vọng vĩnh
cửu trong ta. Bởi chính nhờ hy vọng vĩnh cửu mà ta luôn thành tâm và luôn
cố gắng vươn lên nhằm hoàn thiện đời mình. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần
luôn luôn khơi dậy mãi mãi trong ta niềm hy vọng ấy.
Cuộc sống lữ hành của mỗi người là một hành trình tiến về đích của hy vọng.
Trên hành trình đó, Chúa Thánh Thần giúp ta bằng cách ban ơn trợ lực, để
ta đạt tới niềm hy vọng cứu độ và kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô.
c. Hiệp
thông trong đức ái.
Nếu không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa, yêu
mến Chúa Kitô. Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính nơi
Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tự hiến và trao ban chính mình cho trần gian
dưới hình thức ân huệ. Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Thiên Chúa được đổ tràn
vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.” (Rm 5,
5).
Vì là Tình yêu bản vị nơi Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần “thấu suốt
mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nhất nơi Thiên Chúa: (1Cr 2, 10). Vì thế,
hơn ai hết, Chúa Thánh Thần là đấng trợ giúp ta đi vào huyền nhiệm của
tình yêu Thiên Chúa cách hoàn bị nhất, tốt đẹp và chính đáng nhất.
Là tình yêu thần linh, đưa ta đi vào tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, vì
thế chính Người làm cho ta, cho toàn bộ đời sống của ta thành “mạch nước
vọt lên sự sống đời đời.” (Ga 4, 14).
III. CHÚA
KITÔ MẠC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA.
1. Thiên
Chúa mạc khải chính mình nơi Chúa Kitô.
Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cách trọn vẹn và hoàn hảo. Trong Cựu ước,
Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng sự tỏ mình ấy được bắt đầu nơi những con
người được tuyển chọn.
Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cho ta qua chính người Con duy nhất của
Người. Thư Do thái khẳng định: “Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên
Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri; vào thời sau hết, tức là những
ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con.” (Dt 1, 1-2).
2. Chúa Kitô
dạy ta biết Thiên Chúa.
Rất nhiều lần, Chúa Kitô nói về Cha: Cha là Đấng quyền năng. Chúa Kitô
lãnh nhận quyền năng nơi Chúa Cha. Cha ban cho Người sự sống, ban hành
động, đặt Người làm chủ ơn cứu độ của trần gian. Nhờ Chúa Cha, Chúa Kitô
được đặt làm thủ lãnh và xét xử trần gian. Chính Chúa Cha đã đặt mọi sự
quy phục Chúa Kitô. Trong Chúa Kitô, Chúa Cha trao ban Thánh Thần, để tiếp
theo Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần phục vụ, và làm cho ơn cứu độ do Chúa
Kitô thực hiện trở nên hiện thực và hiệu quả cho trần gian.
Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng sáng tạo, là Đấng
cứu độ. Vì là tình yêu, Thiên Chúa không chối từ ai, nhưng sẵn sàng tha
thứ. Chính hành động sáng tạo và cứu độ cũng xuất phát từ tình yêu.
Chẳng hạn, trong dụ ngôn về Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32), Chúa Kitô
cho thấy Thiên Chúa:
- là Thiên Chúa giàu lòng từ bi.
- là Thiên Chúa khiêm nhường.
- là Thiên Chúa yêu thương.
- là Thiên Chúa tha thứ.
- là Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi loài người.
- là Thiên Chúa hy vọng.
- là Thiên Chúa hạnh phúc khi loài người trở về với Người.
3. Chúa Kitô
dạy ta biết Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta.
Nhiều lần Chúa Kitô khẳng định Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng
ta. “Ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta cũng là
Thiên Chúa các ngươi:
Chúa Kitô dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Các môn đệ, trong kinh Lạy Cha, đã
thực sự nhận được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, điều mà từ ngàn xưa,
không ai dám gọi thế. Trong kinh Lạy Cha, Thiên Chúa trở nên gần gũi vô
cùng với loài người. Từ nay họ là con Thiên Chúa và Người chấp nhận họ là
con của Người.
Tuy nhiên, dù dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, Chúa Kitô không đặt mình ngang
hàng trên cùng bình diện với họ. Người phân biệt rạch ròi: “Cha Ta và Cha
các ngươi.” Người là Con duy nhất của Cha, được Cha yêu thương, bằng một
tình yêu hiệp nhất thâm sâu giữa Cha và Con.
Chúng ta sung sướng và hạnh phúc được gọi Thiên Chúa là Cha. Chúng ta hãy
gọi tiếng
“Cha”
với tất cả lòng yêu mến và cố gắng sống xứng đáng với tình yêu của Cha.
4. Chúa
Thánh Thần giúp ta khám phá ra khuôn mặt Thiên Chúa nơi Chúa Kitô.
a. Người
là Thiên Chúa yêu thương.
Chúng ta không thể không đề cập đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc
nhận biết Chúa Cha qua mạc khải của Chúa Kitô.
Chính Chúa Thánh Thần giúp ta nhận ra nơi Chúa Kitô, nguồn mạc khải duy
nhất, tuyệt vời của Chúa Cha, khuôn mặt của chính Thiên Chúa là Đấng yêu
thương tuyệt đối. Chúa Cha yêu ta, tình yêu ấy thể hiện trọn vẹn nơi Con
của Người. Chính việc trao ban Người Con duy nhất cho thế gian cũng để
chứng minh tình yêu ấy.
b. Người
là Thiên Chúa đau khổ.
Trên thánh giá, Chúa Kitô đã thể hiện khuôn mặt đau khổ vô hạn của Thiên
Chúa. Nhưng không phải chỉ trên thánh giá, Người vẫn còn đau khổ khi nhân
loại vẫn không nhìn nhận Người, từ chối tình yêu của Người.
Trên thánh giá Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa
khắc sâu vào đó. Và nơi đó, Người cũng làm thể hiện nỗi đau lớn lao của
nhân loại khi mang thân phận lữ hành,và khi bị tội lỗi thống trị.
c. Người
là Thiên Chúa hạnh phúc.
Chúa Giêsu cho ta biết, Thiên Chúa sẽ hạnh phúc khi nhân loại trở về với
Người. “Người Cha chạy lại, ông bá cổ nó mà hôn lấy hôn để.” (Lc 15, 20).
Và chính Chúa Kitô, trên thánh giá cũng thể hiện niềm vui ấy trong lời hứa
với người trộm lành: “Ngay hôm nay, anh ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23,
48).
Nhưng để có thể làm cho khuôn mặt tình yêu của Thiên Chúa trở thành tình
yêu hạnh phúc, chính sức mạnh của Chúa Thánh Thần được ban cho ta, để ta
can đảm nhận ra mình, biết thường xuyên kiểm điểm đời mình, trở về với
Chúa bằng cách dâng hiến tình yêu thanh sạch của bản thân ta. Cũng chính
khi làm cho ta trở thành món quà hạnh phúc của Thiên Chúa, chính lúc ấy,
Chúa Thánh Thần là Đấng đổi mới: đổi mới lòng ta, đổi mới Hội Thánh, đổi
mới xã hội để tất cả nên tinh ròng hơn, xứng đáng với tình yêu của Thiên
Chúa.
5. Qua Chúa
Kitô, chúng ta đến với Thiên Chúa.
Chúng ta tin Chúa Kitô, cũng là tin Thiên Chúa.
Thiên Chúa ban mệnh lệnh của Người cho Chúa Kitô, để Chúa Kitô truyền lại
cho chúng ta. Khi tuân giữ mệnh lệnh đó, chúng ta tiến gần tới Thiên Chúa.
Chỉ khi ta làm môn đệ Chúa Kitô, ta mới xứng đáng làm con Thiên Chúa. Kết
hiệp với Chúa Kitô là kết hiệp với Thiên Chúa. Xa Chúa Kitô là xa Thiên
Chúa. Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Thiên Chúa. Chính khi ta lưu lại trong
Chúa Kitô, lưu lại trong Lời Người, là chính lúc Cha được vinh hiển: “Nơi
điều này, Cha Ta được vinh hiển, là các ngươi sai hoa kết quả, và nên môn
đệ của Ta.”(Ga15,7- 8).
IV. KẾT
LUẬN:
THIÊN CHÚA CHÚNG TA LÀ THIÊN CHÚA DUY NHẤT.
1. Người là
Thiên Chúa duy nhất, Đấng Sáng Tạo.
Người sáng tạo bằng Lời. Nhời Lời mà mọi sự được tạo thành từ hư không.
Người cũng ban Thần Khí Người, để nhờ đó, mọi loài có sức sống.
2. Người là
Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.
Khi loài người sa ngã, Thiên Chúa đã không hủy bỏ loài người và vũ trụ mà
Người dựng nên. Chính Người đã cứu độ và cứu độ thật sự bằng
tình yêu.
3.
Người là Thiên Chúa, Đấng Thánh Hóa.
Thiên Chúa không ngừng bảo vệ, yêu thương loài người. Trong thế giới hôm
nay, bàn tay quan phòng của Người không ngừng hoạt động. Thiên Chúa hoạt
động để thánh hóa và đưa dẫn loài người bước vào đời sống thần linh của
Người.
4. Mãi Mãi,
Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa duy nhất.
Giáo lý về Thiên Chúa duy nhất là giáo lý căn bản và quan trọng của Kitô
giáo. Loài người chỉ nhờ một mình Người để được sống và được cứu độ.
*******
Nhờ Chúa Thánh Thần, ta đến với Chúa Kitô. Nhưng nhờ Chúa Kitô, ta mới
biết được Thiên Chúa. Đó là đức tin của Hội Thánh. Đó là sự sống và sức
sống của chúng ta. Suốt hai ngàn năm qua, Hội Thánh đã không làm gì khác
hơn là tôn thờ, yêu mến, tin kính và rao truyền chân lý ấy. Qua chân lý ấy,
trong khi rao giảng, Hội Thánh làm sáng lên tình yêu vô cùng của Thiên
Chúa, để mời gọi mọi người đến với Người, và sống cho nhau. Nếu gọi Chúa
Thánh Thần là: “môi sinh,” thì các nào đó, ta cũng có thể gọi Hội Thánh là
“môi trường.” Vì đó là nơi để ơn Chúa tuôn đổ, và cũng là “môi trường” để
loài người tiếp cận và sống trong ơn Chúa |