1. «Ai giữ lấy
mạng sống mình, thì sẽ mất»
Người ta ai cũng yêu
mình. Đó là điều rất tự nhiên và chính đáng. Chính Đức Giêsu đã từng nói:
«Hãy
yêu đồng loại như yêu chính mình» (Mt 19, 19). Thánh Phaolô
cũng nói: «Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ
là yêu chính mình. Không ai ghét thân mình bao giờ» (Ep 5,
28-29). Chính vì yêu mình, nên ai cũng có bản năng tự vệ, tự giữ lấy mạng
sống, và không ai chịu liều mất mạng sống mình nếu không phải vì những lý
do rất đặc biệt. Thế mà Đức Giêsu lại nói: «Ai giữ lấy mạng sống mình,
thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được».
Có gì mâu thuẫn và không hợp lý chăng?
Ai cũng yêu mình, nhưng có hai cách yêu:
yêu mình cách sáng suốt,
và yêu mình cách ngu xuẩn. Yêu mình cách sáng suốt là yêu làm sao để chính
mình được hạnh phúc. Còn yêu mình cách ngu xuẩn là yêu mình nhưng lại làm
cho mình đau khổ.
Vấn đề mấu chốt của việc yêu mình sáng suốt là ở chỗ nhận định được mình
là gì, và những gì là mình.
2. Yêu mình cách sáng suốt và yêu mình cách ngu xuẩn
a)
Minh họa 1:
Một người thích uống
rượu, thích ăn những đồ ăn nhiều chất mỡ. Nhưng bác sĩ khuyên anh ta đừng
uống rượu kẻo hại gan, đừng ăn đồ nhiều mỡ kẻo hại mạch máu. Nhưng anh ta
nghĩ: gan không phải là mình, mạch máu cũng không phải là mình, chúng làm
sao thây kệ chúng, không liên quan gì tới mình cả. Mình thương mình thì
mình cứ ăn uống cho thỏa thích: «Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng
sộc nó thì theo sau»! Chẳng bao lâu sau, anh bị viêm gan và cao huyết
áp trầm trọng, phải đau đớn rất nhiều, và cuối cùng chết sớm.
Cái sai lầm của anh này là nghĩ gan của mình, dạ dày của
mình, phổi của mình… không phải là mình, nên không thương chúng, bỏ mặc
chúng không thèm chăm sóc, để rồi chúng bị thương tổn, bị bệnh. Khi chúng
bị bệnh thì bản thân anh cũng bị bệnh theo. Lúc đó anh mới biết
chúng cũng là
mình, thương chúng chính là thương mình, chăm sóc chúng chính là chăm sóc
mình. Còn
thương mình kiểu cứ ăn uống cho mình được thỏa thích bất chấp chúng ra sao
thì ra, chính là làm hại mình, là tự giết mình.
b)
Minh họa 2:
Một anh có vợ và một bầy con, nhưng anh
chẳng quan tâm gì tới vợ con, anh chỉ biết lo cho bản thân anh, thậm chí
còn đánh đập vợ con không thương tiếc khi bị trái ý. Anh còn mèo chuột
lăng nhăng làm vợ con rất đau khổ. Chẳng bao lâu sau anh bị bệnh, không
còn làm được việc gì. Lúc này anh rất cần vợ con nuôi dưỡng, chăm sóc anh.
Nhưng vì anh đã đối xử quá tệ với vợ con, nên bây giờ anh bị hất hủi và
đau khổ. Bây giờ anh mới nhận ra thương vợ con là thương chính bản thân
mình, và chăm sóc vợ con cũng là chăm sóc chính bản thân mình.
Chúng ta còn có thể đưa ra nhiều minh họa khác chứng tỏ
quần áo ta
mặc, đôi giày ta đi dưới chân cũng là bản thân ta, những người sống chung
quanh ta cũng chính là bản thân ta, v.v… Bên Phật giáo, từ ngữ «tăng
thân» có nghĩa là thân
được thêm vào bản thân của ta,
bao gồm tất cả mọi người, mọi vật trong
vũ trụ mà ta có cảm tưởng là ở bên ngoài ta. Theo giáo lý Đức Phật, tất cả
mọi chúng sinh và tất cả những vật vô tri trong vũ trụ cũng là bản thân ta.
Ta yêu chúng cũng là yêu chính ta, ta ghét chúng cũng là ghét chính ta. Ta
làm cho chúng tốt đẹp hạnh phúc cũng chính là làm cho ta nên tốt đẹp hạnh
phúc. Ta làm cho chúng xấu xa đau khổ cũng chính là làm ta nên xấu xa đau
khổ. Vì thế, yêu mình một cách sáng suốt chính là biết yêu thương tất cả
mọi người, mọi vật.
Yêu mình một cách ngu xuẩn là do quan niệm về mình một cách quá giới hạn,
tưởng rằng mình chỉ là thân xác mình, và chỉ biết đối xử tốt với nó, còn
mặc kệ không thèm quan tâm chăm sóc đến những gì không phải là thân xác
mình.
3. Thiên Chúa chính là bản thân sâu thẳm nhất của ta
Thánh Âu Tinh nói:
«Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn
chính bản thân tôi thân mật với tôi» (Deus intimior intimo meo). Nói
cách khác, Thiên Chúa còn là tôi hơn cả chính bản thân tôi, Thiên
Chúa là «cái tôi» sâu xa nhất của tôi. Chính vì thế, yêu Chúa bao
nhiêu thì cũng là yêu mình bấy nhiêu. Và tương tự, yêu tha nhân thế nào
cũng chính là yêu mình thế nấy. Thiên Chúa, tha nhân, và bản thân ta,
một cách nào đó chỉ là một.
Theo triết lý nhất nguyên của Đông phương, thì toàn thể những gì hiện hữu
chỉ là một bản thể duy nhất, được thể hiện thành muôn vật dưới muôn hình
vạn trạng trong thế giới hiện tượng. Trong nhãn quan của triết lý này, ta
cảm thấy rất dễ hiểu việc yêu Thiên Chúa, yêu tha nhân cũng là yêu chính
bản thân ta.
Chỉ có một điều là ta có thể cảm nghiệm được thân xác ta là
ta một cách trực tiếp, nhưng phải có trí tuệ cao mới có thể cảm nghiệm
được Thiên Chúa hay tha nhân cũng chính là ta một cách gián tiếp. Thực ra,
ta chỉ có thể cảm nhận một cách trực tiếp nhất ý nghĩ của ta là ta, rồi
mới cảm nghiệm được thân xác ta với các cơ quan của nó là ta. Vì thế,
những gì ta lo cho thân xác ta thì có hậu quả thấy được ngay trước mắt.
Còn những gì ta lo cho Thiên Chúa, cho tha nhân thì phải một thời gian sau
– nghĩa là lâu hơn ít nhiều – mới thấy được hậu quả nơi ta.
Điều ấy có khác gì hai cách dùng tiền: một đằng là dùng
tiền để mua ngay những gì cần thiết hay ích lợi cho bản thân, một đằng là
dùng tiền để kinh doanh hầu có lợi lâu dài về sau. Cách trước thì sự hưởng
thụ ích lợi đến ngay với mình, nhưng chỉ một thời gian là hết. Cách sau
thì sự hưởng thụ đến với mình có thể rất chậm, nhưng sẽ rất lâu dài, thậm
chí không bao giờ hết. Từ đó ta hiểu được tại sao
yêu Thiên Chúa và tha
nhân thì có được sự sống đời đời hay hạnh phúc vĩnh cửu, còn lối sống ích
kỷ thì chỉ có được sự sống hay hạnh phúc tạm bợ mà thôi, để rồi sau đó là
sự chết hay đau khổ lâu dài.
4. Hãy yêu Thiên Chúa hơn cả cha mẹ, anh em, con cái mình
Như đã nói trên, Thiên Chúa và tha nhân một cách nào đấy
cũng chính là bản thân mình, nên yêu Thiên Chúa và tha nhân cũng là yêu
chính bản thân mình. Nhưng
Thiên Chúa mới chính là bản thân mình
một cách sâu xa nhất. Vì thế, để yêu mình một cách sáng suốt và đem lại
hạnh phúc lâu dài, người ta nên hy sinh bản thân cho tha nhân và Thiên
Chúa. Và yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa thì trừu
tượng, không thấy được, nên yêu Chúa một cách cụ thể là yêu tha nhân,
nhưng hãy ưu tiên yêu người gần gũi với mình nhất, rồi đến những người xa
hơn, và phải yêu thương tất cả không trừ một ai, dù là kẻ thù. Thánh Gioan
viết: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình,
người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông
thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,
20). Nhưng giả như có sự xung đột giữa việc yêu Chúa và yêu tha nhân, thì
ta luôn luôn phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa. Nhưng một cách thực tế, yêu
Thiên Chúa luôn luôn đồng nghĩa với yêu tha nhân, nên trong những trường
hợp có sự xung đột này, ta thường phải hy sinh tình yêu tha nhân mang tính
cá biệt cho tình yêu tha nhân mang tính đại đồng. Một cách cụ thể là phải
đặt tình yêu chung lên tình yêu riêng,
tình yêu đối với thế giới, với quê hương đất nước, với xã hội và Giáo Hội
lên trên tình yêu đối với cha mẹ, anh em, con cái. Và làm như thế chính là
yêu cha mẹ, anh em, con cái một cách sáng suốt nhất.
Chính trong nhãn quan này, ta sẽ dễ hiểu hơn câu nói của
thánh Phanxicô:
«Chính lúc quên mình (để yêu Thiên
Chúa và tha nhân) là lúc gặp lại bản thân».
Vậy, để yêu mình cách sáng suốt nhất, hãy yêu Thiên Chúa và tha nhân một
cách tích cực và chân thành.
|