CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Tình trạng "họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt"
chỉ có vào thời Đức Giê-su, hay vẫn còn tồn tại đến ngày nay? Bạn có cảm
thấy mình có trách nhiệm khi tình trạng này đang tồn tại trong xã hội và
Giáo Hội không?
2. Những người được Đức Giê-su chọn làm môn đệ có gì đặc sắc, xuất chúng
không? Tại sao họ lại làm nên lịch sử như thế?
3. Trước tình trạng thiếu "thợ gặt", bạn có nghe thấy lời mời gọi của Đức
Giê-su ngỏ với chính bạn không? Bạn có đáp lại không?
Suy tư gợi ý:
1. "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít"
Mở đầu bài Tin Mừng hôm nay là câu: "Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh
lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt".
Ta ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao thế? Đạo Do Thái đã đào tạo nên biết bao tư
tế, kinh sư, luật sĩ, Pha-ri-siêu, họ là những người lãnh đạo tinh thần,
lãnh đạo tôn giáo. Sao lại có tình trạng "họ lầm than vất vưởng, như bầy
chiên không người chăn dắt"? Như thế thì các tư tế, kinh sư, luật sĩ,
Pha-ri-siêu có mặt trong xã hội Do Thái để làm gì? Đức Giê-su nói như thế
có động chạm gì đến họ không?
Nói xưa lại nghĩ đến nay, liệu ngày nay, sau khi Đức Giê-su xuống thế 20
thế kỷ, tình trạng ấy có còn hay không, khi mà trong Giáo Hội có biết bao
nhiêu là linh mục, giám mục, tu sĩ? Liệu tình trạng thừa kinh sư, thừa
luật sĩ, nhưng vẫn thiếu những người chăn dắt có còn không? Nghĩa là có
tình trạng thừa linh mục, thừa giám mục, thừa tu sĩ, nhưng vẫn thiếu tông
đồ, thiếu ngôn sứ, thiếu mục tử, thiếu người thật sự lo cho dân chúng
chăng? Đây là câu hỏi mà mỗi người Ki-tô hữu từ giáo hoàng, giám mục, linh
mục, tu sĩ đến giáo dân nên tự suy nghĩ và trả lời trước mặt Chúa. Nếu quả
thật có tình trạng ấy, thì ngay cả người giáo dân nhỏ bé nhất trong Giáo
Hội cũng có trách nhiệm. Tương tự như câu "quốc gia hưng vong, thất phu
hữu trách"!
Thiết tưởng chúng ta cần phải xin Thiên Chúa sai đến trong xã hội những
tông đồ, mục tử hay ngôn sứ đích thực, biết thật sự yêu thương dân chúng,
quan tâm và sẵn sàng hy sinh lo cho đời sống tâm linh cũng như thể chất
của họ, dám nói sự thật để bênh vực họ là những kẻ bị đàn áp và thiệt thòi
nhất trong xã hội, nghĩa là biết sẵn sàng "hy sinh mạng sống mình cho đoàn
chiên" (Ga 10,11). Chứ không chỉ xin Chúa ban cho Giáo Hội những linh mục
hay giám mục chỉ biết làm các bí tích và giảng! hay các tu sĩ chỉ biết học
hành, nghiên cứu, cầu nguyện trong nhà dòng! Có lẽ cần phân biệt hai loại
phạm trù, vì tông đồ và mục tử không nhất thiết cứ phải là linh mục hay
giám mục, và linh mục hay giám mục không hẳn lúc nào cũng là những tông đồ
hay mục tử! Thiết tưởng, Giáo Hội, cụ thể là các chủng viện, cần ý thức sứ
mạng của mình là đào tạo nên những tông đồ, những mục tử, những ngôn sứ
đích thực, hơn là chỉ tạo nên những con người… hành nghề linh mục, chỉ
biết quan tâm làm một số công việc cố định nào có thù lao hay quyền lợi mà
thôi!
Sự thường và theo lý thì các linh mục, các giám mục cũng là những tông đồ,
mục tử hay ngôn sứ, và mọi người đều rất có lý khi hiểu như thế. Nhưng dẫu
sao cũng phải đau lòng mà công nhận rằng trong Giáo Hội vẫn có những linh
mục hay giám mục không phải là tông đồ, chẳng phải mục tử hay ngôn sứ như
thiên chức đã lãnh nhận đòi buộc. Đương nhiên trong các tôn giáo khác cũng
có tình trạng tương tự như thế. Tình trạng ấy dường như luôn luôn xảy ra ở
mọi nơi, mọi thời!
2. Cách chọn môn đệ của Đức Giê-su
Để đáp ứng tình trạng thiếu "thợ gặt", Đức Giê-su đã mời gọi nhiều người
làm tông đồ, làm mục tử, ngôn sứ và trực tiếp đào tạo họ. Nhưng cách lựa
chọn của Ngài không giống như cách của loài người. Đức Giê-su là một ông
đạo, một đạo sư hoàn toàn không trường lớp, không được đào tạo về tôn giáo,
về Kinh Thánh hay Lề Luật theo kiểu loài người như các thầy tư tế, luật sĩ
và người Pha-ri-siêu. Do đó Ngài không có một bằng cấp gì về tôn giáo cả
(x. Ga 7,15). Và các môn đệ Ngài chọn đều là những người ít học (x. Cv
4,13), đa số làm nghề đánh bắt cá, một nghề không cần trình độ văn hóa.
Ngài cũng không chọn và mời gọi một ai trong số các tư tế, luật sĩ và
người Pha-ri-siêu - là những người có bằng cấp về tôn giáo - làm môn đệ
Ngài cả. Theo cách nghĩ của trần thế, xem ra Ngài chẳng khôn ngoan tí nào,
vì những người không trình độ như thế thì làm nên trò trống gì?!
Đó là xét về khả năng. Còn về luân lý đạo đức thì mấy tông đồ cũng chẳng
có gì đặc biệt. Cứ nghe mấy ông tranh nhau về việc ngồi bên hữu bên tả Đức
Giê-su khi Ngài làm vua (Mt 20,21-23; Mc 10,37-40), hay thấy mấy ông trốn
chạy hết khi ngài bị bắt (Mt 26,56b; Mc 14,50), thậm chí Phê-rô sẵn sàng
chối Thầy những ba lần trước một phụ nữ yếu đuối (Mt 26,69-75), v.v… ta
thấy về mặt nghĩa khí các ông còn thua xa những người như Trần hưng Đạo,
Lê Lai, Bùi thị Xuân, v.v… Khó hiểu nhất nhất là trường hợp chọn Mát-thêu,
một người thu thuế mà noi chung bị xã hội khinh bỉ, mặc dù có thể ông rất
giàu có.
Trái với suy nghĩ của con người, những môn đệ có vẻ tầm thường, mà cũng có
thể thật sự tầm thường này đã làm thay đổi thế giới, các ông đã làm được
những việc hết sức vĩ đại. Cách Thiên Chúa làm quả thật rất khác với cách
của con người! Còn những kẻ có vẻ đầy khả năng, có vẻ đạo cao đức cả như
những tư tế, luật sĩ, Pha-ri-siêu kia thì nhiều lắm là làm được một số
những việc cao hơn bình thường một chút, đôi khi cũng lạ thường, nhưng
chẳng thể so sánh được với các tông đồ. Điều này khiến chúng ta phải thay
đổi cách quan niệm của mình về cách nhìn người hay dùng người, nhất là
cách Chúa dùng chính chúng ta trong công việc của Ngài.
3. Vì sao những người tầm thường ấy lại trở nên vĩ
đại?
Thiên Chúa rất cần và cần rất nhiều người cộng tác với Ngài để cứu độ và
phục vụ thế giới, để biến đổi và đem hạnh phúc đến cho thế giới. Công việc
của Ngài thật vĩ đại. Ngài có thể mời gọi bất kỳ ai Ngài muốn, theo sự tự
do của Ngài, để cộng tác với Ngài trong công việc vĩ đại này. Ngài có thể
mời gọi những người rất tài giỏi, đạo cao đức cả, mà cũng có thể mời gọi
những người rất tầm thường cả về tài năng lẫn đạo đức. Và không nhất thiết
ai sẽ làm được việc hơn ai!
Để làm được việc cho Ngài, điều quan trọng không phải là tài năng hay đạo
đức cá nhân của ta. Mà trước hết là thái độ nhanh nhẹn và quảng đại đáp
lại lời mời gọi của Ngài. Kế đó là tinh thần tự hủy, khiêm tốn, ngoan ngùy
của ta trong tay Ngài, để Ngài tự do biến đổi và sử dụng ta như một dụng
cụ hoàn toàn theo ý Ngài. Các tông đồ của Đức Giê-su ai cũng nhanh nhẹn
đáp lại lời mời gọi của Ngài, không so đo tính toán (x. Mt 4,20.23; 9,9;
Ga 1,43-51). Các ông sẵn sàng bỏ cả công ăn việc làm, bỏ cả cha mẹ, vợ
con, anh em, bỏ mọi sự (x. Mt 19,27; Mc 10,28) đi theo Đức Giê-su sống bụi
đời, bữa đói bữa no, vất vả, nay đây mai đó khắp đất nước Do Thái, để nghe
Ngài nói, để được Ngài dạy dỗ, huấn luyện.
Về tài năng, đức độ, rất có thể các ông kém chúng ta, nhưng về sự quảng
đại và nhanh nhẹn đáp lại lời mời gọi của Đức Giê-su, về niềm tin vào Ngài
ngay từ khi mới gặp Ngài đến hết cuộc đời, thì các ông đáng là gương mẫu
cho chúng ta. Chính nhờ sự quảng đại, niềm tin, sự trung thành và phó thác
đó, các ông đã lãnh nhận được Thần Khí của Đức Giê-su, nhất là khi Thánh
Thần hiện xuống trên các ông sau khi Đức Giê-su về trời. Nhờ hoàn toàn để
mặc Thánh Thần tự do biến đổi theo ý Ngài, các ông đã trở nên những con
người phi thường, có tài năng và tình yêu hơn những người mà trước đó đã
từng hơn các ông vượt bậc. Vậy, điều quan trọng để trở nên tông đồ, mục tử
hay ngôn sứ đích thực của Thiên Chúa không phải là tài năng hay đức độ cho
bằng sự quên mình, hủy mình, để mặc Thánh Thần Ngài tự do biến đổi ta. Cha
sở họ Ars - thánh Gio-an Vi-an-ney - là một bằng chứng hùng hồn cho điều
này.
Ý thức được tình trạng thiếu thốn tông đồ, mục tử hay ngôn sứ đích thực
trong Giáo Hội và thế giới, chắc chắn chúng ta sẽ nghe thấy lời mời gọi
của Đức Giê-su. Cho dù ta là giáo dân, giáo sĩ hay tu sĩ, Ngài cũng vẫn
mời ta trở nên những tông đồ, những mục tử hay ngôn sứ để làm việc cho
Ngài ngay trong môi trường chúng ta đang sống. Đừng bao giờ nghĩ rằng là
giáo dân thì không thể làm tông đồ, mục tử hay ngôn sứ được! Chính Đức
Giê-su, Mẹ Ma-ri-a, các tông đồ, các ngôn sứ xưa có mấy ai ở trong hàng
ngũ tư tế hay tu sĩ Do Thái đâu! Nhưng chính các Ngài mới là những tông đồ,
mục tử hay ngôn sứ tuyệt hảo nhất! Các Ngài có cần phải vào chủng viện hay
đi tu, chịu chức linh mục hay giám mục rồi mới có thể trở nên như thế đâu?
Trước tình trạng thiếu "thợ gặt" hiện nay, Đức Giê-su đang mời gọi chính
bạn đấy! Bạn có đáp lại lời mời gọi ấy như các tông đồ xưa không?
CẦU NGUYỆN
Có lần tôi nghe Đức Giê-su nói với tôi: "Tại sao anh lại nghĩ một giáo
dân như anh thì không thể làm tông đồ, mục tử hay ngôn sứ? Anh vẫn có thể
trở nên như thế, một cách vô danh nhưng đích thực, mà không cần phải làm
linh mục hay tu sĩ gì cả. Chắc gì khi anh là linh mục hay tu sĩ thì anh sẽ
là tông đồ, mục tử hay ngôn sứ đích thật?! Thầy mời gọi anh đấy! Miễn là
anh cứ để Thầy biến đổi anh theo ý Thầy, đừng xen ý riêng của anh vào thì
mọi sự đều tốt đẹp".
|
|
JKN |