Có lần, một linh mục bạn của tôi chia sẻ: Có một nam sinh viên có ý hướng
muốn đi tu, đang trọ trong lưu xá của một dòng tu gởi thư và nêu thắc mắc
bao gồm một nỗi khổ rất lớn, liên quan nhiều đến lý tưởng ơn gọi của bản
thân anh. Anh hỏi rằng: “Thưa Cha, hiện nay con đang hoang mang lo lắng
cho ơn gọi của con không được bền đỗ. Con luôn bất an vì linh cảm rằng,
rất có thể mình sẽ rời bỏ nhà dòng trong một thời gian không xa.
Bởi từ khi ba con qua
đời, nhà nội con không bằng lòng để con đi tu. Mọi người bên nội chống đối
ơn gọi của con ra mặt dữ dội, không cần che đậy gì. Con lo sợ lắm, vì nội
con nói rằng, nếu đi tu thì từ nay đừng nhìn mặt nội nữa. Nặng hơn, nội
không cho để tang khi nội qua đời.
Có hai lý do để nội
cấm con vào nhà dòng, thứ nhất, đó là vì con là đứa cháu trai duy nhất của
nội. Nhưng lý do thứ hai mới là điều quan trọng. Tuy vậy, đối với con
chẳng đáng là gì, nhưng đối với nội, đó là một chuyện quá lớn. Nội bảo,
ngày xưa nội rất tin các linh mục, nhưng từ khi cha sở của nội có một vấn
đề gì đó, mà nội cho rằng cha sở xúc phạm Mình Thánh Chúa và xúc phạm giáo
dân, cho nên nội không còn tin bất cứ một nhà tu nào.
Con xin thú thật,
nhiều lúc con thấy bên nội cố chấp quá đáng, nhưng phận làm con cháu, con
không thể nói gì hơn, chỉ còn cách trình bày suy nghĩ của mình, nhưng
chẳng ai nghe. Con hiểu rằng, lỗi lầm của một ai đó, dù là giáo hoàng đi
nữa, cũng đâu phải là cớ đánh mất ơn gọi của mình phải không cha? Nếu nghĩ
như nội của con, chắc Giáo Hội sẽ không còn ai đi tu. Từ đó, chắc đến một
ngày sẽ không còn Giáo Hội? Nhưng Giáo Hội làm sao mà mất được. Vì bên
cạnh nhiều người sống chưa tốt, vẫn có rất nhiều người khác đã nên thánh
và vẫn tiếp tục nên thánh trong ơn gọi của mình. Thưa cha, con hiểu rằng,
một bên vẫn còn nhiều gương mù, nhưng bên kia vẫn có đó rất nhiều tấm
gương sáng. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ để con thấy rằng, sự ham thích đi
tu của mình là niềm ao ước quý giá. Nhưng con buồn vì gia đình bên nội của
con không thể hiểu được điều đó.
Chỉ có mỗi mình mẹ
con vẫn âm thầm chiều ý con, và chấp nhận để cho đứa con trai duy nhất của
bà đi tu. Bản thân con thì không sao, vì đi học xa nhà, sống tạm trú tại
lưu xá của nhà dòng, nơi con muốn nhập tu. Chỉ có mẹ con là phải chịu đựng
mọi nỗi khổ, mọi lời trách móc, thậm chí có lúc nội không dằn lòng được,
đã nói những lời lẽ rất khó nghe, nghe rất xót xa, đau đớn, do mẹ con
không đứng về phía nhà nội.
Thương mẹ, không muốn
để mẹ phải chịu đựng vì mình, đã có lần con nói dối với nội rằng, con đã
thay đổi ý định, không muốn đi tu nữa. Chính lúc ấy, nội con có vẻ vui
nhưng mẹ con lại đau khổ hơn. Mẹ đã gọi con lại và mắng con như được dịp
trút tất cả nỗi đau của bà. Chỉ khi con cho mẹ con biết rằng, con đã nói
dối nội, mẹ con mới yên tâm. Nhưng ngay sau đó, con lại giật mình vì biết,
mình vừa lừa dối mẹ. Vì thực tế, đã không ít lần, con muốn bỏ ý định đi
tu.
Thưa cha, trong suy
nghĩ của con bây giờ nhiều mâu thuẫn quá, lòng con hoang mang quá. Con
không biết mình chọn lý tưởng tu trì là đúng hay sai? Con cảm thấy thánh
giá Chúa gởi cho con lớn quá. Ba mất, con đã mất đi một điểm tựa. Giờ chỉ
còn lại mẹ. Mẹ lại phải gánh nặng vì con mình chọn đường tu.
Giờ con rối lắm,
không tìm thấy lối thoát. Có những khi con ngồi bên Thánh Thể suốt ngày,
mong tìm sự bình an, nhưng rồi trở về với cuộc sống, con lại mất hy vọng.
Thưa cha, con phải làm gì bây giờ. Nhiều lúc chính con cũng không thể hiểu
nổi mình nữa. Con đã cau có, nặng lời không ít với nhiều người. Dù không
dám ghét nội, nhưng con thầm trách nội không ít. Không những thế, nhiều
lúc con còn nặng lời một cách thầm kín với vị linh mục đã để lại ác cảm
trong lòng nội con. Con có tội không, khi tự mình nổi loạn như thế? Con
phải làm sao để có bình an?”
Và trong lá thư hồi
âm cho người thanh niên ấy, vị linh mục viết: “Tôi hiểu bạn lắm. Nỗi khổ
tâm của bạn quả là một vấn nạn lớn không dễ gì có thể giải quyết ngay,
cũng không dễ gì một mình bạn lại có thể đảm nhận trách nhiệm giải quyết
nó. Và nếu tôi có trả lời cho bạn, thì một vài con chữ trên một lá thư như
thế này, cũng sẽ không đi tới đâu. Nó không thể giúp bạn giải tỏa những gì
mà bạn phải mang, phải gánh, càng không thể giúp người thân của bạn đứng
về phía bạn. Vì mọi quyết định cho chính đời sống của mình, tùy thuộc và
trở nên quan trọng bởi chính mình, người khác, nếu có, chỉ là một đóng góp
rất nhỏ bé mà thôi. Về phần tôi, chỉ có mấy điều tôi có thể làm được cho
bạn đó là:
1. Xin cho tôi được
đồng cảm bằng một sự cảm thông, chia sớt sâu xa nỗi buồn của bạn. Ước mong
với sự thông cảm này, bạn có thêm một người hiểu mình, để bạn hiểu rằng
bạn không cô đơn. Chính vì thế, cũng giống như người mẹ kính yêu của bạn,
tôi ủng hộ bạn đến cùng trong quyết định dấn thân cho ơn gọi tu trì. Vì đó
là một ước muốn tốt; một lý tưởng đẹp; một con đường mà mỗi cá nhân đều có
quyền và hết sức tự do quyết định theo hay không theo; một chuẩn bị cho
tương lai bằng tất cả sự chọn lựa của cá nhân chứ không phải ai khác có
thể chọn lựa thay thế; một hướng sống mà sau khi đã chọn lựa rồi, chính
bản thân là người trực tiếp sống cho chọn lựa ấy chứ không phải một người
thứ hai nào có thể “nhảy vào” để có thể sống “giùm” mình, sống “giúp”
mình, sống “thay cho” mình.
2. Bạn thân mến, chọn
lựa có khi là cả một thái độ can đảm, đòi hỏi sự cứng rắn, dứt khoát. Chọn
lựa là đón nhận nhưng cũng là hy sinh. Đón nhận điều mình chọn lựa và hy
sinh để sự chọn lựa thành toàn. Đã gọi là hy sinh chắc chắn không bao giờ
là điều dễ dãi. Ngược lại hy sinh nào cũng đòi phải chết đi, phải chấp
nhận thương tích, chấp nhận đớn đau, có lúc ê chề, có lúc nặng nề tưởng
như khó có thể mang vác nổi. Tắt một lời: mãi mãi chọn lựa cần chiến đấu.
Chiến đấu để vươn lên cho chọn lựa thành toàn.
3. Trong thư có chỗ
bạn viết rằng: “Có những khi con ngồi bên Thánh Thể suốt ngày.” Đúng lắm!
Bạn đã làm một điều đúng trên tất cả mọi điều đúng. Hãy tiếp tục làm như
thế. Vì ơn gọi theo Chúa, chứ không phải theo một ai khác, phải được chính
Chúa quyết định cho theo hay không cho theo. Đàng khác, theo ai phải bộc
lộ, phải tỏ tình với người mình theo để chiếm lấy họ. Theo Chúa mà không
bày tỏ lòng mình, không lo chiếm lấy Chúa thì làm sao có thể theo. Vì thế,
cầu nguyện là điều kiện trước nhất và trên hết cho bất cứ ai dấn thân cho
ơn gọi tu trì. Không thể hiểu được nếu ai đó nói rằng mình muốn đi tu mà
lại lãng tránh sự cầu nguyện.
Bạn đừng lo mỗi khi
đến với Chúa Giêsu Thánh Thể “mong tìm sự bình an, nhưng rồi trở về với
cuộc sống, con lại mất hy vọng” rồi chán nản bỏ cuộc. Đừng bỏ cuộc dẫu mất
hy vọng đến ngàn lần. Càng mất hy vọng và chới với bao nhiêu, càng phải
cầu nguyện nhiều bấy nhiêu. Vì chính sự cầu nguyện đã là sức mạnh, là niềm
an ủi, là trợ lực giúp ta có khả năng chấp nhận mình, chấp nhận hoàn cảnh,
chấp nhận anh chị em quanh mình. Ngay chính sự cầu nguyện đã là biểu hiện
của đức tin, càng cho ta thêm lòng tin, thêm niềm yêu mến.
Mặt khác, nếu những
khi không còn ai có thể hiểu mình, không còn biết thổ lộ cùng ai, không
còn có sức mạnh nào để mình nương tựa, mà lại bỏ luôn cả sự cầu nguyện,
nghĩa là bỏ luôn nguồn an ủi cuối cùng, sẽ cô đơn, sẽ đau thương, sẽ mất
mát, sẽ càng quay quắt trong chính nội tâm đau khổ không lối thoát của
mình… Đó là nguy hiểm lớn bạn ạ. Không còn có nguy hiểm nào bằng khi lòng
người chỉ còn mỗi một mình đối diện với thương đau của chính mình. Nó có
thể cướp mất đức tin của ta. Có người đã đầu hàng số phận đến nổi tự tìm
đến cái chết, coi như đó là cách giải quyết cuối cùng cho một kiếp người
bi ai. Có thể người chọn đường tu trì không đi theo cách giải quyết cuối
cùng ấy, nhưng tự để mình cô đơn với chính nỗi đau của mình, vẫn là một
nguy hiểm khó có thể nói trước điều gì. Vì thế, ngoài sự cầu nguyện, bạn
cũng có thể chọn một vị linh hướng đáng tin cậy để vị ấy giúp bạn làm sáng
vấn đề. Vị linh hướng cũng sẽ là người cầu nguyện cho bạn, đồng hành với
bạn như một người bạn đáng tin cậy.
Quan trọng hơn, khi
cầu nguyện, bạn đừng đòi Chúa phải “làm phép lạ” y như mình là chúa của
Chúa, Chúa phải nghe mình, phải chiều theo ý muốn của mình lập tức vậy.
Không! Bạn đừng hiểu sự cầu nguyện một cách lệch lạc như thế. Đúng hơn,
cầu nguyện là tìm thánh ý Chúa để vâng theo, là tìm sức mạnh trong ơn
Chúa, nhờ đó giúp mình can đảm chấp nhận thực tại mà mình đang đối diện.
4. Điều cuối cùng,
tôi muốn mời gọi bạn, đó là hãy mở Thánh Kinh ra và suy niệm mỗi ngày,
những tấm gương kiên trung của đức tin nơi những con người dám đặt đời
mình trong tay Thiên Chúa. Chẳng hạn: ông Abraham, ông Môisen, ông Gióp,
ông Samson, tiên tri Êlia, tiên tri Giêrêmia, thánh Gioan Tẩy Giả, các
tông đồ của Chúa Giêsu, nhất là tấm gương của Đức Mẹ, cũng như của chính
Chúa Giêsu...
Mở Thánh Kinh ra và
suy niệm về đời sống của cha ông mình, ta sẽ thấy nơi các ngài cả một lòng
tin đáng kính phục, sẽ thêm nghị lực, thêm sức mạnh giúp ta chấp nhận
những gì đang phải đối mặt. Bởi những gì ta phải gánh lấy hôm nay, đâu
phải chỉ riêng ta, nhưng Con Thiên Chúa và biết bao nhiêu người đi trước
cũng đã từng gánh lấy.
Mở Thánh Kinh ra, bạn
cũng sẽ nhận thấy một sự thật rằng, hình như tất cả những ai theo Chúa,
được Chúa yêu thương đều phải sống trong thử thách triền miên, có lúc nặng
nề đến mức như không thể thoát ra khỏi màn đêm của u uất, của thất bại.
Bạn và tôi đang đối mặt với đau khổ, phải chăng, đó chính là dấu ấn của
tình thương Thiên Chúa dành cho ta như đã dành cho nhiều kẻ mà Người yêu
thương đã từng có mặt trong cuộc đời, trước chúng ta!”.
Hôm nay, sống mùa
Phục Sinh, tôi muốn ghi lại hai lá thư trên để bạn và tôi cùng cảm nhận
điều mà người bạn thân của tôi, một linh mục đã cảm nhận: Đau khổ “chính
là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta.” Bởi không phải đơn
giản, và nếu không có chiều sâu nội tâm, hay thiếu tinh thần cầu nguyện,
lại có thể thốt lên những lời đáng trân trọng như thế. Tôi nghĩ rằng, cả
hai lá thư, nhất là những lời động viên của vị linh mục rất cần thiết cho
bạn và tôi. Vì có những lúc đau khổ tột cùng, những lúc tưởng như cuộc đời
mình bế tắt…, chúng ta có dám đặt đời mình, đặt cả con người mình trong
vòng tay Thiên Chúa nữa hay không? Ta có cảm nhận rằng “đó chính là dấu ấn
của tình thương Thiên Chúa dành cho ta”?
Đọc các bài tường
thuật về việc Chúa Phục Sinh hiện ra bằng chính hình ảnh của Đấng đã chịu
đóng đinh, nay sống lại, sẽ là câu trả lời quý giá về nỗi đau trong cuộc
đời của bạn và của tôi. Vì hiểu được ý nghĩa của Tin Mừng Phục Sinh, sẽ
giúp ta vững tin hơn. Chẳng hạn Ga 20, 19-31 mà Giáo Hội suy niệm trong
Chúa nhật thứ II Phục sinh, chỉ là một bài Tin Mừng không dài lắm, nhưng
thánh Gioan có đến hai lần kể lại việc Chúa Phục sinh hiện ra với các môn
đệ.
Có lẽ bạn sẽ thắc
mắc: hôm nay Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Phục sinh là mầu nhiệm của
niềm vui, một niềm vui lớn. Đàng khác bài Tin Mừng kể lại việc Chúa Phục
sinh hiện ra với các môn đệ, lại là một niềm vui không nhỏ. Vậy mà từ đầu
tới giờ, tôi chỉ toàn nói đến đau khổ. Vì sao lại nói đến đau khổ giữa mùa
Phục sinh? Là bởi vì Chúa không tự nhiên mà phục sinh. Nhưng Chúa phục
sinh từ trong đau khổ. Chúa phục sinh từ trên thánh giá. Hôm nay, dù đã
sống lại, đã chiến thắng khải hoàn, thân xác Phục sinh chói ngời đã cùng
quyền năng Thiên Chúa bước vào vô biên, bước vào vĩnh cửu… nhưng bây giờ
hiện ra với các môn đệ, thân xác Phục sinh rạng rỡ ấy vẫn còn y nguyên dấu
của thập giá.
Cả hai lần trong Ga
20, 19-31 đều chứng minh Chúa hiện ra chỉ có cùng một hình ảnh như thế.
Lần thứ nhất, thánh Gioan ghi nhận, ngay khi hiện ra “Người cho các ông
xem tay và cạnh sườn Người.” Bạn có biết điều gì trên tay và trên cạnh
sườn mà Chúa cho xem ? Vì nơi ấy, dấu thập giá không bị phai nhòa. Trên
đôi cánh tay ấy và trên cạnh sườn ấy, còn nguyên dấu tích của những cây
đinh, của lưỡi đòng đâm thấu qua. Chỉ sau khi xem tay và cạnh sườn bị
thương tích như thế, các môn đệ mới hết nghi ngờ, mới cảm thấy “vui mừng
vì xem thấy Chúa.” Như vậy dấu của thập giá là bảo đảm cho đức tin của các
môn đệ.
Nhưng lần ấy, khi
Chúa hiện ra, thánh Tôma không có mặt, nên thánh Tôma nhất quyết không
tin. Bởi đó tám ngày sau, Chúa lại hiện ra một lần nữa, có mặt thánh Tôma.
Lần này thái độ của Chúa mạnh hơn lần trước, dứt khoát hơn lần trước.
Người không chỉ đưa tay và cạnh sườn cho xem, nhưng Chúa Giêsu Phục sinh
còn lên tiếng đòi: “Tôma, hãy xỏ ngón tay của con vào lổ đinh trên tay
Thầy đây, hãy thọc bàn tay của con vào cạnh sườn của Thầy. Con đừng cứng
lòng tin nữa, mà hãy tin”. Ví dụ có một ngày nào Chúa hiện ra và cũng nói
với bạn những lời mà Chúa đã từng nói với thánh Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con
vào đây, hãy thọc bàn tay con vào đây”, bạn có còn dám nhìn Chúa nữa
không? Chẳng những không dám nhìn, càng không dám đưa ngón tay, đưa bàn
tay, mà có khi run rẫy chết khiếp, bạt vía kinh hồn. Thánh Tôma cũng không
hề là trường hợp ngoại lệ. Mới hôm nào dõng dạc tuyên bố: “Nếu tôi chưa xỏ
ngón tay tôi vào lỗ đinh của Chúa, nếu tôi chưa thọc bàn tay tôi vào cạnh
sườn Người, tôi không tin.” Tuyên bố mạnh mẽ là thế, kiên quyết là thế,
dứt khoát là thế, nhưng bây giờ trước dấu thập giá còn in sâu một cách
hùng hồn trên thân thể của Đấng Phục sinh, thánh Tôma đã phải cúi đầu
tuyên xưng: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.” Một lần nữa, thánh
Gioan lại cho thấy, dấu thập giá là bảo đảm cho đức tin của chúng ta.
Vì dấu thập giá là
bảo đảm cho đức tin, nên trong mùa phục sinh, ta lại bàn đến vấn đề đau
khổ, đó cũng là điều hợp lý. Chúa Phục sinh đã không tự xóa bỏ dấu vết đau
khổ trên thân thể của mình. Trái lại, dấu vết của đau khổ, của thập giá
vẫn còn trên thân thể sáng láng của Đấng Phục sinh, lại làm cho các môn đệ
dễ nhận ra đức tin, vững tin và được củng cố đức tin.
Người ta nói: “Lửa
thử vàng, gian nan thử sức”. Cũng vậy, đau khổ rèn luyện đức tin của người
có đạo. Đau khổ là trường dạy đức tin cho những ai dám dấn mình theo Chúa.
Trường hợp của anh
sinh viên bên trên, tôi tin rằng, nếu anh chịu khó nghiền ngẫm Lời Chúa,
suy nghĩ nhiều về cuộc đời của Chúa Kitô, về sự chết và sống lại của
Người, chắc anh sẽ có một chọn lựa đúng đắn, phù hợp với Thánh Ý Thiên
Chúa và phù hợp với chính niềm hy vọng của anh. Chính khi phải chọn lựa
giữa muôn vàn thử thách, chọn lựa trong đau đớn nhưng ngoan cường và dứt
khoát, anh mới nhận ra giá trị lớn vô cùng của ơn gọi. Cái giá phải trả
cho ơn gọi mà mình chọn lựa không phải là vật chất, hay chỉ một tiếng đáp
trả là xong, nhưng là cả một sự tự hiến rát xót. Vì thế, ơn gọi không bao
giờ là một chọn lựa dễ dãi, càng không bao giờ là một trò chơi để khi
thích thì tham gia, hết thích thì nghỉ chơi. Có nhận ra ơn gọi quý giá như
thế, mới mong sự chọn lựa của anh là một chọn lựa tinh ròng trong tự do,
trong sự quả cảm, cả đến hy sinh nhức buốt
Nhưng đâu chỉ là
người thanh niên ấy. Mỗi chúng ta đều có nỗi buồn: gia đình đang sum họp,
bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng khác. Gia đình
đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn, mà người thân đó
có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình, như trường hợp anh
thanh niên mất cha, chỗ dựa của cần thiết của anh. Hay con đường tương lai
của mình, hay sự thành công đang ở trước mặt, bỗng dưng một biến cố đau
thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hay hy vọng đang ngời ngời sáng phía,
bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời mình… Mất mát thật to, nỗi buồn
càng lớn. Những lúc bi đát đến cùng cực ấy, bạn và tôi hãy nhớ lại lời vị
linh mục: “Đó chính là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta” mà
cố giữ lấy đức tin, vượt qua mọi thác ghềnh, chèo chống đến cùng để tự tin
đạp trên mọi sóng gió, mọi thăng trầm của đời mình.
Chúng ta rất may mắn
vì được tôn thờ một Thiên Chúa đã từng biết đến đau khổ. Và hôm nay, sau
khi phục sinh, Chúa của chúng ta vẫn còn nguyên trên thân thể dấu tích của
khổ giá. Chính vì thế, những lỗ gai nhọn đâm vào đầu, những lỗ đinh xuyên
thủng bàn tay, bàn chân, và dấu của cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thấu… mãi
mãi vẫn là câu trả lời trọn vẹn nhất cho chính đau khổ của chúng ta. Bởi
Chúa đã phục sinh từ trên thánh giá, ta cũng đi qua “chốn lưu đày” mà bước
vào vinh quang của Đấng Cứu Chuộc, nay đã Phục Sinh.
Đó cũng chính là lý
do vì sao tôi cứ miên man suy nghĩ về sự đau khổ, trong khi những ngày này
vẫn vang vọng lời ca Allêluia hạnh phúc, chúc tụng Đấng Phục Sinh vinh
quang và khải hoàn. Bởi lẽ Chúa cứu chuộc chúng ta trên thánh giá của
Chúa, nhưng Người không làm điều đó một mình, mà cần đến sự cộng tác của
ta, cần đến thánh giá đời ta tháp nhập vào thánh giá của Người. Mới hay
rằng Chúa đã chiến thắng, nhưng Người không xóa vết tích của thánh giá.
Điều đó có nghĩa là PHỤC SINH KHÔNG BAO GIỜ GIẾT CHẾT THÁNH GIÁ
|