|
Vào năm 1989 ở nước Armenia xảy ra một trận động đất khủng khiếp. Nhiều khu phố bị san bằng. Hàng ngàn người chết thảm thương. Qua 18 ngày đào bới, người ta đã lôi ra được từ những đống gạch vụn hoang tàn đổ nát hàng ngàn nạn nhân mà tử thi đã thối rữa. Thật lạ lùng, dưới đống gạnh vụn không ai ngờ rằng có thể có một mạng người còn sống sót. Ấy vậy mà dưới đống tro tàn còn lửa, vẫn còn một bà mẹ với đứa con nhỏ hãy còn bình an vô sự. Suốt 18 ngày bị chôn vùi dưới đống gạch vụn, mỗi ngày bà mẹ anh hùng này đã hy sinh cắn đứt đầu từng ngón tay cho đứa con nhỏ yêu quý bú từng giọt máu của mình. Nhờ những giọt máu từ lòng mẫu tử ấy, bà đã nuôi sống đứa con của mình. Lúc đó Mẹ Têrêsa Calcutta cùng các nữ tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ cũng có mặt ở đó để cứu các nạn nhân. Ngước mắt nhìn Mẹ Têrêsa, bà mẹ anh hùng đó đã đưa tay yếu ớt chỉ vào cây thánh giá đeo trước ngực của Mẹ và thều thào trong hơi thở: “Đây Chúa Giêsu, chính Ngài đã dạy tôi làm việc này, bởi Ngài đã chết vì yêu thương tôi. Theo gương Chúa Giêsu, tôi đã hiến sự sống của tôi cho con tôi được sống”. Tấm gương hy sinh này gợi lại cho ta hình ảnh loài chim bồ nông. Đây là loài chim có tình mẫu tử đặc biệt. Trong những lúc mưa gió không tìm đâu ra thức ăn, chim mẹ đã tự xẻ thịt mình để nuôi sống các con của chúng. Khi nói về tình yêu ruột thịt giữa cha mẹ với con cái, Chúa Giêsu đã từng nói: vốn là những kẻ xấu, mà khi con cái xin cá, chẳng ai lấy rắn cho nó; hoặc xin quả trứng, lại cho nó bò cạp bao giờ! (x. Lc 11,11-13). Chao ôi, là loài chim vô tri mà còn biết yêu thương con cái mình như thế! Và loài người yếu đuối tội lỗi, nay còn mai mất như một loài hoa sớm nở tối tàn, mà còn biết thương yêu con cái đến dám hy sinh cả thịt máu mình cho chúng như vậy! Ôi, máu mủ tình thâm cao vời khôn xiết kể, biết lấy gì ca ngợi cho cân! Nói thế nào cho đủ! Song, ta tự nhủ, loài người cũng như muông chim cầm thú yêu thương con cái mình như thế là để làm gì? Há chẳng phải là chúng đang muốn lưu tồn sự sống cho con cái mình đó sao! Vì yêu thương con cái, và muốn cho chúng được nối dài sự sống ở trần gian này, mà chúng ta nhiều lúc đã chẳng ngại hy sinh, và có khi còn chấp nhận cả cái chết để cho con cái được sống! Đây là một thực tế của lòng phụ mẫu tình thâm! Chúa Giêsu cũng thế thôi. Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Ngài không còn là một Thiên Chúa xa lạ với con người, nhưng là một Thiên Chúa rất gần với thân phận con người. Cả cuộc sống nhập thể của Ngài là một cuộc đời vì yêu thương nhân loại. Thế nhưng, Ngài không chỉ yêu nhân loại bằng cách xuống thế gian sống với con người để đồng cảm với con người trong thân phận con người mà thôi. Hơn thế nữa, Ngài còn muốn lưu lại với con người ngày mỗi ngày cho đến tận thế. Như Ngài đã hứa: “Thầy sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chúa Giêsu ở lại với chúng ta bằng nhiều cách: Ngài hiện diện qua Giáo hội; qua hình ảnh tha nhân; qua Lời Hằng sống của Ngài, và đặc biệt hơn, Ngài còn hiện diện với chúng ta qua Bí tích tình yêu là thịt và máu cực châu báu của Ngài. Loài chim bồ nông, và người đàn bà anh hùng kia, đã lấy chính máu thịt mình cho con cái được sống, thì Chúa Giêsu cũng đã lấy chính thịt và máu mình để nuôi sống chúng ta. Thiên Chúa có thể nuôi sống chúng ta bằng nhiều thứ lương thực từ trời, như xưa Ngài đã hoá bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no nê hầu khỏi bị ngã xỉu trên đường về. Và xa hơn nữa, trong thời Cưu ước, Thiên Chúa vì yêu dân chúng, nên đã ban Manna từ trời để nuôi sống họ trên đường lữ hành vào Đất hứa. Song, trong thời cứu độ, Thiên Chúa chỉ muốn nuôi sống con cái Ngài bằng thịt và máu Con Một yêu dấu của Ngài là Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Một của ăn thần linh ai ăn sẽ được sống đời đời. Ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu, con người sẽ có sự sống trường cửu, không như cha ông người Do Thái thuở xưa, ăn Manna trong sa mạc mà vẫn không tránh khỏi lưỡi hái tử thần (x. Ga 6,48-51). Ăn thịt và uống máu Ngài, là ta ăn và uống chính sự sống của Ngài, và được thông phần vào nguồn hạnh phục vô biên là có Ngài cùng sống trong ta. Thực tế đời thường cho thấy, yêu ai là ta muốn được gần gũi với người ấy; gần gũi để tâm sự. Yêu nhau, xa nhớ, gần thương. Và có khi ngồi bên người yêu, dẫu chẳng biết nói gì, chỉ cần nhìn nhau cũng đủ. Chúa Giêsu cũng thế, vì yêu thế gian nên Ngài đã chấp nhận lưu lại với thế gian bằng cách thế hiện diện nhân bản nhất. Đó là hiện diện bằng cả thân mình, bằng cả máu thịt. Ngài hiện diện không chỉ để nhìn ngắm nhân loại là “người yêu” của Ngài, nhưng Ngài còn muốn hiện diện bằng cách động chạm đến “người yêu” mình và được “người yêu” mình động chạm đến. Mà sự động chạm thân tình nhất giữa chúng ta với Ngài không gì hơn là được nên một với Ngài, bằng cách rước lấy Ngài vào lòng. Và đó cũng là cách thế chúng ta đi vào tương quan tình yêu với Ngài cách tốt đẹp nhất. Thiết tưởng, không còn cách thế nào tuyệt hảo khiến cho Ngài vui thích hơn! Ngài đã chẳng vui sướng khi nói với chúng ta đó sao: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi. Thì ở mãi trong tôi. Và tôi ở lại trong người ấy!” (Ga 6,56). Để được lưu lại trong tình yêu của Thiên Chúa, chính Chúa Giêsu cũng đã từng nói với chúng ta rằng: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy." (Ga 14,21). Như thế, thịt và máu Chúa Giêsu đích thực là của ăn tình yêu, mà ai ăn và uống thịt máu ấy, cũng đòi hỏi phải luôn sống trong tình yêu của Ngài. Khi Chúa Giêsu tiên báo về Bí tích Thánh Thể, Ngài kêu mời hết mọi người hãy đến lãnh nhận mà ăn, mà uống. Một của ăn, và của uống hằng sống được ban ra cho mọi người không trừ ai. Tuy nhiên, ai ăn thịt và uống máu Ngài, cũng cần phải có những điều kiện nhất định, như lời Thánh Phaolô đã căn dặn chúng ta: “Anh em hãy xem xét cách ăn nết ở, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan… Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa đến truỵ lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí” (Ep 5,15-18). Vì “khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?… Anh em không thể vừa uống chén của Chúa, vừa uống chén của ma quỷ được; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được.” ( 1 Cr 10,6; 21). Cũng chính vì vậy, “bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.” (1 Cr,11,27-29). Vì Thánh Thể là của ăn tình yêu, nên khi ăn và uống của ăn của uống đích thực này, chúng ta không thế sống thiếu tình yêu được! Và vì đây là của ăn thần linh, nên mỗi lần ăn hay uống chúng ta không thế vẫn sống mãi trong tình trạng tội lỗi, bê tha rượu chè như trước! Mà mỗi lần ăn và uống thứ lương thực hằng sống này, Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta luôn phải sống trong tình trạng thánh thiện, biết yêu thương tha nhân; yêu bằng một tình yêu vị tha như chính Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta nên đã thí mạng sống vì chúng ta. Thánh Phaolô khuyên: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,19-20). Qua điều này, Thánh Phaolô muốn nói với chúng ta rằng, Bí tích Thánh Thể còn là của ăn tạ ơn. Khi rước Mình Máu Thánh Chúa Giêsu chúng ta phải có tấm lòng tạ ơn; tạ ơn Thiên Chúa vì yêu thương nên đã lấy thịt máu mình nuôi sống chúng ta. Ngoài ra, Thánh nhân còn muốn nhắn với chúng ta rằng: miệng lưỡi chúng ta rước lấy Mình và Máu thánh Chúa Giêsu, cũng phải là miệng lưỡi luôn biết hát thánh ca và thánh vịnh; và là miệng lưỡi luôn biết nói lời tạ ơn; tạ ơn Trời, tạ ơn người, chứ không phải là miệng lưỡi luôn nói những lời phàm phu tục tử. Để xứng đáng đón nhận Bí tích Thánh Thể là thịt máu Chúa Giêsu vào lòng, người Kitô hữu cần phải xét mình kiểm thảo lại cách ăn nết ở của mình, mỗi lần trước khi đến với bàn tiệc thánh. Dĩ nhiên, cũng không nên lo lắng thái quá khi mong có được một sự thánh thiện tuyệt đối, vì trước thiên nhan Chúa, nào ai được coi là thanh sạch tuyệt đối. Hương Việt, tác giả cuốn Tìm Hiểu Và Sống Thánh Lễ, đã lý giải: “Những người tham dự thánh lễ không nên tách rời cộng đoàn và tự cô lập mình, khi nghĩ rằng mình không xứng đáng lên rước lễ. Bạn không nên quên điều này: rước lễ không phải là một phần thưởng nhưng là một lương thực. Bạn hãy nhớ lại câu mà mọi người đều đọc trước khi rước lễ: ‘Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự đến cùng con, nhưng xin Chúa chỉ phán một lời thì con được lành mạnh’. Như thế, vấn đề ở đây không phải là việc nêu lên phẩm giá của mình, nhưng trái lại, ý thức được rằng rước lễ không phải là một quyền lợi, nhưng là một ân huệ. Khoảng cách giữa sự thánh thiện của Chúa và của ta ví như trời cao với vực thẳm, cho nên đây không phải là lúc đặt vấn đề, mình có xứng đáng hay không để rước Chúa vào lòng… Tham dự thánh lễ mà không rước lễ là chưa thấu hiểu ý nghĩa đích thực của Bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, có một vài ngoại lệ. Ngoài những người bị vạ tuyệt thông hoặc phạm tội nặng không được rước lễ, có thể vào lúc rước lễ, với đức tin cao độ, chúng ta thực sự cảm thấy chưa sẵn sàng trong nội tâm để tiến lên đón nhận Mình Thánh Chúa. Vì rước lễ đòi hỏi cả con người chúng ta, nên phải làm hết sức để tránh làm sao cho việc rước lễ khỏi trở nên máy móc, nhàm chán. Có lẽ trong một vài trường hợp, ta không nên lên rước lễ, không phải vì ưu tư về sự thanh khiết của mình, nhưng vì không phù hợp vơi lòng thành của mình trước cử chỉ ta sắp thực hiện.”[1] Ước mong rằng, mỗi lần lên rước lấy Mình Máu Thánh, chúng ta luôn được Thiên Chúa thánh hoá tâm hồn và miệng lưỡi, ngõ hầu chúng ta phần nào xứng đáng với của ăn tình yêu, mà Ngài đã hứa ban cho những ai biết chạy đến với Ngài trong mọi cảnh huống cuộc đời. Và xin cho Bí tích Thánh Thể luôn là nguồn năng lực giúp chúng ta, sau mỗi lần rước Chúa vào lòng, về nhà biết sống tốt hơn trong cuộc sống mỗi ngày. |
| Đan Lê |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|