|
I.
VỊ TRÍ ĐỊA LƯ :
Phần
đất Giáo Xứ Sông Cầu bao trọn huyện Sông Cầu,
tỉnh Phú Yên. Phía Bắc giáp huyện Vân Canh tỉnh
B́nh Định và đèo Cù Mông, phía Nam giáp huyện
Tuy An, phía Tây giáp huyện Đồng Xuân, phía Đông
giáp Biển Đông. Trên đường thiên lư từ Nam ra
Bắc lên tới đỉnh dốc Găng, làn gió mát từ biển
xanh, núi xanh và rừng dừa xanh bạt ngàn như
chào đón người lữ hành đến thị trấn Sông Cầu.
Nhà thờ Sông Cầu ở tại trung tâm thị trấn, trên
quốc lộ IA cách đỉnh dốc Găng chừng 01 km, từ
Bắc vô Nam cách cầu Thị Thạc khoảng 300 m. Nhà
thờ, tháp chuông và nhà xứ Sông Cầu với những
nét tân thời nhưng không thể quên được tuổi thọ
lâu dài của giáo xứ.
II. ĐÔI D̉NG LỊCH
SỬ :
Theo thống kê của
Hội Thừa Sai Paris năm 1747 th́ phần đất thuộc
giáo xứ Sông Cầu hiện nay có Vũng Lắm được 60
Kitô Hữu. Vũng Lắm có nhiều tên gọi khác như
Vũng Lấm, Ao Xóm Lưới
(Dân gian), Lâm Úc
( Đại Nam Thực Lục Tiền Biên), Vịnh Lâm (Đại Nam
Nhất Thống Chí). Vũng Lắm là một vũng nhỏ trong
vịnh Xuân Đài, nằm sát quốc lộ IA thuộc thôn Tân
Thạnh, xă Xuân Thọ II, huyện Sông Cầu. Nơi đây
đă từng là một thương cảng sinh hoạt sầm uất như
Đại Nam Nhất Thống Chí đă ghi : “Trong cửa Vũng
Lắm (Vịnh Lâm), dân cư dựa theo núi ở bên bờ
biển, khách buôn tụ tập, nhà cửa tốt đẹp hơn cả
trong hạt. Thuở trước có đặt Trấn Thủ, nay giảm
bỏ, đặt sở Thương Chánh”. Trong thời Trịnh
Nguyễn phân tranh cũng là lúc triều đại nhà Minh
ở Trung Quốc suy vong, nhà Thanh nắm quyền. Số
người không phục quyền nhà Thanh đă di cư sang
đất Việt, đáng kể nhất là cuộc di cư năm 1679 do
Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên dẫn đầu. Số
người di cư nầy thường được gọi là người Minh
Hương được chúa Nguyễn cho định cư nhiều nơi ở
Đàng Trong, tại Vũng Lắm cũng có làng Minh Hương
với sự hiện của họ. Năm Minh Mạng thứ XIII
(1832) phái bộ ngoại giao của Hoa Kỳ do Edmund
Roberts dẫn đầu trên chiếc tàu Peacock đă cập
bến và đàm phán với phái bộ Việt Nam do quan
Viên Ngoại Nguyễn Tri Phương tại Vũng Lắm. Khi
người Pháp đến Phú Yên c̣n chứng kiến sự phồn
thịnh nầy nên năm 1887 đă đặt Toà Công Sứ tại
đây. Năm 1888 Tỉnh đường Phú Yên được dời từ An
Thổ ( Thôn An Thổ, xă An Dân, huyện Tuy An ) ra
Vũng Lắm để gần với Toà Sứ. Năm 1889 Pháp dời
Toà Sứ ra Sông Cầu, Tỉnh đường Phú Yên trở lại
An Thổ và sau đó ra Sông Cầu. Vũng Lắm đăhoàn
thành nhiệm vụ lịch sử, nhường lại vị trí ưu
tiên cho Sông Cầu.
Trong bối cảnh
lịch sử đó Tin Mừng được rao giảng, đón nhận và
triển nở. Từ đầu thế kỷ 18, vùng đất giáo xứ
Sông Cầu ngày nay thuộc vùng truyền giáo Bắc Phú
Yên do các thừa sai Hội Thừa Sai Paris đặt cư sở
tại Mằng Lăng đảm nhận. Trong báo cáo của Đức
Cha Stêphanô Thể gởi Hội Thừa Sai Paris năm 1850
, vùng Bắc Phú Yên có 21 họ đạo trong đó có
Triều Phước (Triều Sơn) 195 tín hữu, Trung Mỹ
152, Soi Nhan 89, Sơn Thượng 88, Phụng Sơn 28
thuộc Sông Cầu ngày nay
(M. 31/10/1909.
no.58 ). Trong 21 họ đạo nầy không thấy Vũng Lắm
như đă có trong thống kê năm 1747, có lẽ Triều
Phước đứng tên thay thế v́ Triều Phước cách Vũng
Lắm không xa, chỉ gần 01km. Trong báo cáo năm
1850 có những nơi chưa có thể xác định được vị
trí địa lư v́ địa danh trong báo cáo ngày nay đă
thay đổi.Theo lời kể của các cụ già, tại thôn
Thạch Khê, xă Xuân Lộc, cách nhà thờ G̣ Duối
ngày nay chừng khoảng 05 km về hướng Bắc có nhà
thờ Trung Mỹ được xây dựng trên một ngọn đồi gọi
là Đồi Ngô, tại đây phong trào Văn Thân đă đưa
một số tín hữu về chầu Chúa, một số khác chạy
trốn. Số về chầu Chúa thân xác được gởi lại tại
vườn ông Sạn, sau Văn Thân hằng năm nơi thân xác
các vị tạm gởi ấy được kính viếng, chăm nom cẩn
trọng. Qua nhiều cuộc chiến tranh, dân chúng
phải di cư không ai chăm sóc, dần dần nhà thờ và
tất cả mọi thứ thành hoang phế tàn lụi theo thời
gian. Hiện nay tại Thạch khê không có nhà thờ
nhưng c̣n một số giáo dân vẫn giữ đạo tốt phải
chăng nhờ máu các vị tử đạo đă đổ ra tại đó. Các
giáo điểm Soi Nhan (Một soi đất vẫn c̣n tên Soi
Nhan) và Sơn Thượng ( Truông Sơn Thượng ) là 02
giáo điểm ở miền núi và Trung Mỹ (Thạch Khê),
Phụng Sơn (Mỹ Phụng) là 02 giáo điểm ở đồng bằng,
tất cả thuộc xă Xuân Lộc, huyện Sông Cầu ngày
nay.
Năm 1889 Ṭa Công
Sứ Pháp và sau đó Tỉnh đường Phú Yên đặt tại
Sông Cầu, tuy nhiên vùng đồng bằng và Đầm Cù
Mông phía Bắc Sông Cầu thuận lợi cho việc sản
xuất lúa gạo và đánh bắt cá bằng những phương
tiện đơn sơ đă thu hút nhiều người định cư ở đây
hơn ở Sông Cầu. Lại nữa khi người Pháp mở đồng
muối tại Tuyết Diêm, xă Xuân Lộc, nhiều người
đến đây lập nghiệp. Trong bối cảnh sinh hoạt xă
hội đó nhà thờ G̣ Duối ( c̣n gọi là B́nh Thạnh)
thuộc xă Xuân Lộc được thành lập. Năm 1894 –1895
Thầy Sô và Thầy Tài là hai Thầy giúp xứ Mằng
Lăng đă có công gầy dựng các giáo điểm Sông Cầu,
G̣ Duối ...(M.
06/1927. p.58). Là vùng cực Bắc của Phú Yên giáp
ranh giới của B́nh Định, lúc đầu có thể nhờ các
cha ở B́nh Định như Ngọc Thạnh hoặc Tân Dinh
chăm sóc mục vụ, sau đó là các cha phó Mằng Lăng
phụ trách.
Năm 1895 có cha
Antôn Bản , cha phó Mằng Lăng đến ở tại G̣ Duối.
Tháng 08 năm 1897 cha F.X. Hương đến G̣ Duối
thay thế cha Bản. Tháng 08 năm 1898 cha Phêrô
Cao quê ở Mỹ Trang, Nước Nhĩ, vừa mới thụ phong
linh mục đến thay cha Hương. Cha Cao ở tại G̣
Duối 12 năm đến tháng 03 năm 1910, ngài vẫn là
cha phó Mằng Lăng nhưng được đổi về ở tại Thầy
Đông, cha Linh phó Mằng Lăng đến ở G̣ Duối.
Năm 1903, lúc chưa
hoàn thành nhà thờ Mằng Lăng, cha Wendling khởi
công xây dựng nhà thờ Sông Cầu v́ nhu cầu tôn
giáo của các quan viên chức Ṭa Sứ và Tỉnh đường
( M.
no 11/1924. p.169). Nhà thờ nầy được làm phép
ngày 08/03/1904, trong buổi lễ có sự hiện diện
của các cha : Guéno, Seiller, Dubulle, Wendling,
Jean, Labiausse, Cao, Dụng, các quan chức và một
số người Âu châu (M. 1927, p.32).
Theo cuốn Liber
Baptizorum xưa nhất c̣n giữ tại Sông Cầu: Ngày
3-5-1905 in Ecclesia G̣ Duối, cha Cao rửa tội
cho em F. Xavie Miên. Ngày 6-6-1905 in Ecclesia
Sông Cầu rửa tội cho em Madalena (ngài không ghi
tên). Ngày 9-11-1905 in Ecclesia Lệ Uyên (ngài
viết Lệ Huyên) rửa tội cho em Maria Cờ. Ngày
19-2-1906 in Ecclesia Trùm Tường rửa tội cho em
Matta Em. Ngày 25-2-1906 in Ecclesia Tuỳ Lực bù
các phép cho em Phêrô Sẵng. Ngày 7-3-1906 in
Ecclesia Thạch Khê rửa tội cho em F. Xavie Được.
Như vậy, từ đời cha Cao (1898-1910), cha phó
Mằng Lăng nhưng ở tại G̣ Duối, phía bắc Mằng
Lăng ( giáo xứ Sông Cầu ngày nay) đă có 6 nhà
thờ : G̣ Duối, Sông Cầu, Lệ Uyên, Trùm Tường,
Thạch Khê và Tuỳ Lực, trong đó G̣ Duối là nơi có
linh mục ở thường xuyên .
Ngày 08/04/1907
Đức cha Grangeon Mẫn đến G̣ Duối, cùng đi với
ngài có các cha : Hamon, Dubulle và Porcher. Cha
Wendling ở G̣ Duối đón phái đoàn. Sáng ngày
09/04 Đức cha ban bí tích Thêm Sức, ngày 10/04
ngài đi Sông Cầu thăm Viên Công Sứ, chiều tối
cùng ngày đến Mằng Lăng, đến Chúa Nhật ngày
14/04, Đức cha làm phép chuông và nhà thờ Mằng
Lăng. Ngày20/02/1914 Đức Cha Jeaningros Vị ban
Bí Tích Thêm Sức tại G̣ Duối, ngày 22/02 tại
Sông Cầu. Năm 1918 sau khi ban bí tích Thêm sức
ở G̣ Duối, Đức cha cũng ban bí tích Thêm Sức tại
Sông Cầu.
Như thế Sông Cầu
dần dần trở thành vị trí ưu tiên như ta thấy
sáng ngày 16/08/1922 cha Philip Khiêm , cha phó
Mằng Lăng được chuyển đến Sông Cầu, một tháng
sau ngài xây nhà vuông
( M. 04/1927. p.36
) có hè rộng tứ phía, nhà vuông nầy tồn tại cho
đến năm 2002, sau nhiều lần tu bổ qua các đời
cha sở kế tiếp nhưng cây gỗ bị mối mọt, mái ngói
dột nát, cha sở Sông Cầu Phaolô Trương Đắc Cần
cho san bằng và xây lại khang trang một trệt một
lầu với diện tích sử dụng hơn 360 mét vuông ,
khánh thành ngày 23/01/2003.
Tháng 09/1923 Cha
Luận, phó Mằng Lăng đến Sông Cầu thay cha Khiêm.
Trận băo vào lúc 5giờ sáng ngày 23/10/1924 đă
gây nhiều thiệt hại về tài sản và nhân mạng từ
Mằng Lăng đến phía Bắc Sông Cầu , gió cuốn sập
nhà thờ Sông Cầu, nhà thờ Lệ Uyên, triều cường
c̣n cuốn theo 09 người ở Lệ Uyên ra biển cả
( M.
5/1927. p.52).
Tháng 07/1927 Cha
Luận về ở Mằng Lăng, Cha Trần Huấn từ Tịnh Sơn
về làm cha Sở Sông Cầu. Từ thời điểm nầy Sông
Cầu chính thức là một trong 07 giáo xứ của hạt
Phú Yên : Mằng Lăng 1276 tín hữu, Sông Cầu 197,
Đồng Tre 351, Trà Kê 496, Tịnh Sơn 354, Hoa Châu
238, Hoa Vông 636
(M.11/1927.
P.124). Vào năm 1933 cha Huấn sửa lại nhà vuông,
xây nhà thờ mới. Ngài ở tại Sông Cầu cho đến lúc
về chầu Chúa năm 1939, an táng tại Sông Cầu và
được cải táng về nhà An B́nh giáo xứ Tuy Ḥa .
Sông cầu được tiếp
tục chăm sóc mục vụ với sự hiện diện của các cha
sở :
- Giacôbê Nguyễn
Hữu Thiên 1939-1945
- Phêrô Trần Anh
Tước 1945-1948
- Gioakim Phan
Công Sử 1948-1951
- Phêrô Nguyễn Đức
Mân 1951-1955
- Phêrô Nguyễn Kỳ
Hội 1955-1957
Cha xây lại nhà
thờ Sông Cầu, v́ trong chiến tranh Nhật-Pháp tại
Đông Dương, nhà thờ bị bom đánh sập, cha Gioakim
Nguyễn Công Sử chỉ sửa lại tạm thời.
- Phaolô Trần Duy
Ḥa 1958-1959 ở tại G̣ Duối
- Phêrô Lê Vĩnh
Phước 1959-1963 ở Sông Cầu , đến 1960 v́ lư do
sức khoẻ ngài đến ở tại G̣ Duối, trong thời gian
đó có cha Bênađô Nguyễn Quang Nhung tạm ở tại
Sông Cầu trước khi ngài chính thức đến trung tâm
truyền giáo Đông Mỹ.( Thông
tin Địa Phận số 17/1960, trang 03)
- Phêrô Phan Anh
Thụ 1963-1967
- Phaolô Nguyễn
Xuân Bàn 1967-1970 Cha Phaolô Bàn là cha sở Mằng
Lăng, do chiến tranh, cha không ở Măng Lăng, có
khi ở Tuy Ḥa, ở Phú Tân trung tâm huyện lỵ Tuy
An cách Mằng Lăng 07 km. Trong thời gian nầy cha
kiêm nhiệm quản xứ Sông Cầu, ở tại Sông Cầu.
(Thông
tin Địa Phận số 51/1967, trang 28).
- Phêrô Nguyễn Hữu
Sanh 1970-1973
- Có Thầy Phêrô Vơ
Tá Khánh giúp xứ, thầy thụ phong Linh mục cuối
năm 1975.
- Giuse Khổng Năng
Bao 1973-1975
- Phaolô Trương
Đắc Cần 1975-2003
Cuối năm 1975,
ngài được bổ nhiệm làm cha sở Sông Cầu. Lúc bấy
giờ số giáo dân c̣n lại khoảng trên dưới 400
người, phần lớn họ trở về quê sinh sống (trước
1975 khoảng 1200). Nhiều nhà thờ được xây dựng
để đáp ứng nhu cầu số người ṭng giáo trong
những năm 1958-1963 như Phú Dương, Tuư Phong (Bắc
Sông cầu), Phương lưu, Háo Danh, Háo Nghĩa,
Triều Sơn (Nam Sông Cầu), hầu hết bị sụp đổ
trong thời gian chiến tranh. Sau năm 1975 chỉ
c̣n 02 nhà thờ: Sông Cầu và G̣ Duối. Trong hoàn
cảnh mới nhiều tín hữu sa sút ḷng tin, lơ là
trong sinh hoạt công giáo, phức tạp trong đời
sống hôn nhân và gia đ́nh, cha đă âm thầm cổ vơ,
hun đốt ḷng tin, thôi thúc các tín hữu thực thi
bác ái và quan tâm giáo dục con cái, hợp thức
hoá các đôi hôn phối dở dang, tái lập cuộc sống
đạo trong gia đ́nh.
Để kiếm sống và
giải trí trong tuổi già, cha đă nghiên cứu nuôi
ong lấy mật. Đời sống đơn bạch, nhưng không xa
cách của cha làm cho mọi người không phân biệt
lương giáo quí trọng cha.Khảnăng của cha dần dần
thể hiện tại nhiệm sở như xây dựng, chỉnh trang
khuôn viên nhàthờ nhà xứ, quan tâm đến các họ lẻ,
họ xa. Có lẽ bài học của loài ong tha mật mà cha
đă nghiên cứu qua nhiều năm đă tác động nơi cha
: Từng bước từng bước, nhẹ nhàng tha từng viên
đá, từng ḥn gạch để xây dựng nhà Chúa với tâm
t́nh sâu sắc của thánh vịnh gia: “Tôi quyết
chẳng về nhà, chẳng lên giường nằm ngủ, chẳng
bao giờ chợp mắt khép mi, khi chưa t́m được một
nơi cho Chúa ngự, một đền thờ cho Đấng Toàn Năng”(Tv.131)
(Bài
giảng lễ khánh thành nhà thờ Sông Cầu ngày
08/02/1995 của cha Tổng Đại Diện Phêrô Nguyễn
Soạn).
Năm 1992, nhà thờ
bằng kèo tre mái tole do cha
Hội làm đă quá ộp
ẹp, Cha quyết định xây nhà thờ mới, được khởi
công năm 1992 và hoàn tất vào cuối năm 1993 như
thấy hiện nay. Chạy đua với thời gian, năm 1994,
ngài xây nhà giáo lư, năm 1995 xây nhà cho các
nữ tu đến giúp xứ, năm 1996 xây nhà thờ G̣ Duối
và năm 1998 xây nhà xứ G̣ Duối, năm 2002 xây nhà
xứ Sông cầu. Nói ra th́ nhiều nhưng tất cả theo
lời ngài đều nhờ công ơn của Đức cha già quá cố
Phaolô Huỳnh Đông Các, và Đức cha Phêrô Nguyễn
Soạn đă khích lệ, động viên, sẵn sàng giúp đỡ để
cha hoàn thành được các công tŕnh sánh vai đồng
hành cùng bước tiến chung của thị trấn Sông Cầu
và G̣ Duối.
Hiện
nay số dân trong huyện Sông Cầu trên 90 ngh́n
người. Sốgiáo dân trong cả huyện là 546 người (tỷ
lệ 0,6 %). Số dân trong thị trấn Sông Cầu khoảng
20 ngh́n người. Số giáo dân trong thị trấn
khoảng 323 người (tỷ lệ 1,5 %). Các tỷ lệ thật
khiêm tốn, cánh đồng truyền giáo vẫn bao la.
Đầu
năm 1993, thầy F.x. Trần Đăng Đức đến giúp xứ
Sông Cầu, thụ phong linh mục vào ngày
12/05/1999, làm phó xứ Sông Cầu nhưng ở tại G̣
Duối đến ngày 01/07/2003 được bổ nhiệm làm cha
sở tiên khởi giáo xứ Sơn Nguyên. Cha Augustinô
Nguyễn Văn Phú về G̣ Duối thay thế cha F.x. Đức.
Vào tháng 09/1999 có thầy Anrê Đoàn Văn Điểm về
giúp xứ và thụ phong linh mục ngày 25/04/2002
hiện nay vẫn ở tại Sông Cầu chờ ngày lên đường
đi du học ở Áo quốc.
III. CÁC NỮ TU D̉NG MẾN
THÁNH GIÁ QUI NHƠN GIÚP VIỆC MỤC VỤ TẠI GIÁO XỨ:
1. Antonia Nguyễn Thị Bảo 1982 –
nay
2. Clara Mai Thị Mỹ Xoa 1982 –
1994
3. Têrêxa Nguyễn Thị Ngọc Vàng
1994 - 2000
4. Anna Trương Thị Huyền 2000 -
2002
5. Anê Nguyễn Thị Thu Trang 2002
- nay
IV. HƯỚNG TỚI
TƯƠNG LAI :
Về
mặt tổ chức, giáo xứ Sông Cầu có đoàn thanh niên,
thiếu nhi, hội các ông các bà, Legiô, Giáo lư
viên, nhưng v́ con số giáo dân vừa khiêm tốn,
vừa rải rác, nên có cũng như không, không cũng
như có. Chủ yếu hàng tuần có 3 Thánh Lễ dành cho
các giới: thứ 4 cho thanh niên, thứ 5 cho thiếu
nhi và thứ 6 cho các ông các bà. Những Thánh Lễ
này các giới chịu khó đi tham dự để cha sở và
giáo dân có dịp trao đổi với nhau những tâm t́nh
đạo đức.
Cộng
đoàn giáo dân Sông Cầu là một nhóm nhỏ, ước ǵ
như muối như men để tràn t́nh Chúa ngập t́nh
người, để thêm nhiều người nhận biết Chúa hơn,
để có được ơn gọi dâng đời phụng sự Chúa và anh
em. Xin dâng Chúa những trăn trở vànhững ước mơ. |