|
I.
VỊ TRÍ ĐỊA LƯ:
Phần đất giáo xứ
Tịnh Sơn ngày nay gồm các xă thuộc huyện Sơn Hoà
: Sơn Hội, Sơn Phước, Suối Trai, Cà Lúi, thị
trấn Củng Sơn và các xă thuộc huyện Sông Hinh :
Đức B́nh,Thị trấn Hai Riêng. Trên đường liên
tỉnh lộ số 07 ( Quốc Lộ 25) từ Tuy Hoà đi đến
thị trấn Củng Sơn, cách Củng Sơn khoảng 02 km về
hướng Tây, nhà thờ Tịnh Sơn nằm trên khu đất cao
thoáng mát.
II. ĐÔI D̉NG
LỊCH SỬ :
Phần đất giáo
xứ Tịnh Sơn là vùng núi cao của Phú Yên, đường
đi hiểm trở, các cụm dân cư thường cách xa nhau.
Trong báo cáo của Đức Cha Stêphanô Thể gởi về
Hội Thừa Sai Ba Lê năm 1850, chưa thấy có tên
một giáo điểm hoặc một nhà thờ nào thuộc vùng
đất giáo xứ Tịnh Sơn ngày nay. Trong báo cáo
hằng năm của Đức Cha Hierocésaree năm 1897 có
ghi rằng : “ Nhà thờ Trà Kê được hoàn thành. Nhà
thờ nầy được xây lại trên nền nhà nguyện cũ đă
có trước năm 1861”
(R.A.E
d’Hierocésaree, Cp.V, 1897). Như thế Trà Kê là
một giáo điểm được các Thừa Sai Ba Lê thành lập
sau năm 1850 và trước năm 1861. Cha François
Chatelet là vị thừa sai đầu tiên thường xuyên ở
tại Trà Kê và đă gởi lại thân xác tại vùng Sơn
cước Phú Yên đợi chờ ngày sống lại. Cha Chatelet
sinh ngày 20/04/1855 tại Saint-Didier-sur-Beaujeu
(Rhône), thụ phong linh mục ngày 26/09/1880,
tháng 10/1880 lên đường đến Việt Nam, ngài được
chỉ định đến Trà Kê. Khi cơn lốc bách hại của
phong trào Văn Thân năm1885 làm cho vùng Trà Kê
không được an toàn, cha Chatelet thiết lập điểm
Cây Gia, tương đối hiểm trở, có suối bao bọc
xung quanh (cách Trà Kê khoảng 08 km về hướng
Đông-Bắc) nhằm bảo vệ nhóm tín hữu Trà Kê và các
vùng miền xuôi tập trung về. Ngày 26/08/1885
quân Văn Thân đă phá được pḥng tuyến, xông vào
nhà thờ tiễn cha Chatelet và một số tín hữu về
chầu Chúa. Thầy Anrê Cậy, đang giúp xứ Cây Gia,
bị đâm vào cổ ngă nằm chung với các tín hữu đă
đi chầu Chúa, quân Văn Thân tưởng thầy đă chết,
sau đó được cứu sống và thụ phong Linh mục. Ḷng
đất Cây Gia đă được vinh hạnh đón nhận thân xác
cha Chatelet và một số tín hữu cùng dâng hy lễ
máu đào trong ngày lịch sử ấy, hiện nay cha
Chatelet đă được cải táng về nhà An B́nh giáo Xứ
Tuy Hoà. Trong khi Văn Thân tàn phá tại nhà thờ
Cây Gia, có một người hô lớn tiếng :“ Anh em ơi,
nếu phải chết th́ hăy giết một ít kẻ cướp nầy
rồi hăy chết”. Những người c̣n sống vùng dậy ,
Văn Thân bị phản công bất ngờ, phải rút lui
nhưng Văn Thân vẫn bao vây gần 02 tháng . Được
sự ủy nhiệm của Đức Cha Van Camelbecke , ngày
03/10/1885 cha Auger (Cố Đoàn) và cha Phêrô Huề
đưa 300 người có trang bị 50 súng trường từ Quy
Nhơn vào tiếp cứu , sáng ngày 05/10/1885 tín hữu
Cây Gia được giải vây. Để được an toàn hơn, cha
Auger và cha Huề dẫn đoàn tín hữu c̣n sống sót
về Qui Nhơn (R.A.E. 1885. Mgr. Van Camelbecke).
-
Đầu năm 1887 Đức ChaVan
Calmelbecke bổ nhiệm Cha Guitton cùng 02 cha
phụ tá là cha Gioakim Đạt và Cha Phêrô Huề đến
Phú Yên. Cha Guitton phụ trách phía Tây (Cây
Gia), 02 cha phụ tá phụ trách phía Nam ( Hoa
Vông). Sau ngày 10/04/1888 Cha Lacassagne được
bổ nhiệm đến Phú Yên với chức năng quản nhiệm
toàn vùng truyền giáo Phú Yên, ngài được tự do
chọn Hoa Vông hoặc Mằng Lăng làm trụ sở. Ngài
đă chọn Mằng Lăng.
-
Tháng 09/1888 Đức Cha Van
Camelbecke chia Phú Yên làm 02 vùng : Cha
Guitton phụ trách vùng Nam Phú Yên có cha phụ
tá người Việt Nam là cha Đạt đặt cư sở tại Hoa
Vông. Cha Lacassagne phụ trách vùng phía Bắc
đặt cư sở tại Mằng Lăng , có cha Huề (quê Phú
Điền) làm phụ tá ở tại Cây Gia.
-
Tháng 02/1893 Tân linh mục
Giuse Trần Nhi về Cây Gia, cha Huề đi Củng Sơn.
Hơn 04 tháng sau cha Antôn Bản từ Ninh Hoà về
Cây Gia, cha Nhi đi Củng Sơn, cha Huề về Phú
Điền. Năm 1895 cha Wendling phụ trách vùng Trà
Kê - Cây Gia, cha Nhi làm phụ tá về ở tại Tịnh
Sơn. Cha Bản vẫn là phụ tá cho cha Lacassagne
về ở tại G̣ Duối.
-
Năm 1896 cha Wendling chính
thức đảm nhiệm vùng miền núi Phú Yên. Sau khi
ngài hoàn thành ngôi nhà thờ mới tại Trà Kê
năm 1897, năm 1898 ngài đến Củng Sơn tậu đất
cho giáo điểm mới nầy. Năm 1901 cha Wendling
đổi về Mằng Lăng
( Fiche
individuelle de Wendling ), cha Perreaux đến
thay thế ở tại Cây Gia trong một thời gian
ngắn, cùng năm 1901 cha Porcher được bổ nhiệm
về Cây Gia, ngày 14/07/1901 Cha Antôn Cẩm về
Tịnh Sơn thay thế cha Nhi. Theo báo cáo năm
1903 của Đức cha Grangeon, toàn vùng Trà Kê có
2055 tín hữu rải rác trong 20 cộng đoàn rất
cách xa nhau.
Tháng 05/1904 cha Cẩm đổi đi
nơi khác, Cha Huề được bổ nhiệm về phụ trách
vùng Tịnh Sơn. Tháng 08/1905 cha Vêrô Giảng về
Cây Gia phụ tá cho cha Porcher, sau đó cha
Porcher về kiến thiết Đồng Tre, thường xuyên ở
tại Đồng Tre cho đến năm 1918 được bổ nhiệm
làm cha sở Hoa Vông.
Trong chuyến viếng thăm mục vụ
Phú Yên, vào ngày 18/04/1907 Đức Cha Grangeon
đến Trà Kê và ngày 20 làm phép nhà thờ Trà Kê,
ngày 22 Đức Cha đi Tịnh Sơn, trước khi đến
Tịnh Sơn Đức Cha ghé thăm 02 giáo điểm Gia Bá
và Đá Trắng ( Mm.1927,
p.33).
Năm 1910 cha Giảng đổi đi Bàu
Gốc, Cha Giacôbê Lê Kim Dung đến thay thế,
thường xuyên ở Trà Kê.
Năm 1911 cha Huề nhận nhiệm vụ
mới, cha Trần Huấn được bổ nhiệm làm cha sở
Tịnh Sơn.
( Mm. 04/1927,
p.30-33). Từ thời điểm nầy Tịnh Sơn sánh vai
đồng hành cùng các giáo xứ trong giáo phận.
Trà Kê – Cây Gia lúc nầy là giáo họ thuộc Đồng
Tre. Trong thống kê năm 1910-1911 vùng Phú Yên
có 04 giáo xứ (Mm. No.77/1911, p.103):
- Mằng Lăng : 19 giáo điểm
với 1790 giáo dân.
- Đồng Tre : 10 giáo điểm với
1093 giáo dân.
- Hoa Vông : 13 giáo điểm với
1113 giáo dân.
- Tịnh Sơn : 04 giáo điểm với
305 giáo dân.
-
Cha Huấn đến Tịnh Sơn lúc bấy
giờ có họ Đá Trắng và Suối Sậy khoảng 15 nóc
nhà. Cha Huấn bắt đầu khai quang, nuôi ḅ, làm
ruộng nương thu hoạch nhiều lúa bắp, nhờ đó
cha xây nhà thờ, nhà vuông lợp ngói âm dương ( Tộc
phả họ Trần – Ô.Trần Nhơn kể).
Năm 1916 Hoa Châu , một giáo họ thuộc Hoa Vông
được cha Huấn chăm sóc mục vụ. Tháng 06/1924
Cha Toma Đoán từ Đồng Tre về làm cha phó Tịnh
Sơn, Cha Phêrô Lê Vĩnh Phước được bổ nhiệm làm
cha phó Đồng Tre. Cùng trong năm nầy, cha Huấn
hợp tác với cha Porcher ở Hoa Vông mở trường
dạy quốc ngữ tại Tịnh Sơn, nhờ 02 d́ Phước
viện Mằng Lăng dạy. Theo thống kê về các
truờng học trong giáo phận, năm 1928 trường
Tịnh Sơn có 25 em nam và 30 em nữ do d́ giáo
Agnès Nhơn phụ trách ( Mm. 1916, p.92/ 1925,
p.106./ 1928,p.73 ).
Cuối năm 1919 Cha Phêrô Lê Châu được bổ nhiệm
làm cha sở Đồng Tre, cha Giacôbê Lê Kim Dung
là cha sở Trà Kê, như thế Trà Kê đă hiện diện
trong bảng thống kê hiện t́nh giáo phận năm
1919-1920 ( Vùng Phú Yên) : (Mm. 1920,p.66)
- Mằng Lăng 1715 giáo
dân
- Đồng Tre 410 giáo dân
- Trà Kê 555 giáo dân
- Tịnh Sơn 630 giáo dân
- Hoa Vông 570 giáo dân.
-
Năm 1927 Cha
Huấn về Sông Cầu, Cha Antôn Chẩm về làm cha sở
Tịnh Sơn. Tháng 06 năm 1928 cha Dung từ Trà Kê
về làm cha sở Mằng Lăng, Trà Kê do cha sở Tịnh
Sơn kiêm nhiệm. Tháng 08/1928 Cha Phêrô Huỳnh
Quang Sinh được bổ nhiệm về làm cha phó Tịnh
Sơn – Trà Kê. Tiếp nối cha Chẩm, từ năm 1931
đến nay Tịnh Sơn có các cha sở
(Theo tài liệu
của cha Huỳnh Kim Lăng và lời kể của ông câu
Lê Ngọc Tịnh, hưỡng thọ 90 tuổi) :
Cha Tôma Triều
Cha Anrê Nguyễn Văn Tường
Cha Phêrô Lê Vĩnh Phước
Cha Phaolô Nguyễn Xuân Bàn
Cha Augustinô Th́n làm cha sở
Trà Kê từ tháng 8/1943 đến tháng 04/1944 về
làm cha sở Lạc Điền, cha Dẫn đến làm cha sở
Trà Kê
(Mm.4/1944,p.01). Ngài bị bắn chết và thiêu
đốt trên đống gỗ ở nhà kho tại Trà Kê trong
thời chiến tranh Việt- Pháp(1947). Theo lời
truyền khẩu thân xác ngài thành tro nhưng c̣n
quả tim được người bà con đem về chôn cất ở
Quảng Nam.
Cha Stêphanô Cao Tấn Truyện (Năm
1944 làm cha sở Đất Sét, Khánh Hoà).
Cha Đôminicô Châu Phận (1944 –
1945)
Cha Simon Tôn (1945 –1947). Cha
bị Việt Minh bắt và mất tích, sau này t́m được
xác ở Băi Điệu, cải táng đưa về nhà thờ Tịnh
Sơn. Trong thời gian không có cha sở, cha
Phêrô Vơ Hữu Tư từ Hoa Châu đến chăm sóc mục
vụ, có ông câu Lê Đang cọng tác với cha Tư
hướng dẫn cộng đoàn . V́ là vùng chiến tranh,
nhà thờ Trà Kê bị đốt cháy, nhà thờ Tịnh Sơn
bị sập mái, dân chúng di tản. Sau hiệp định
Genève một số đông giáo dân trở về Tịnh Sơn
trong cảnh nhà cửa tan hoang, nhà thờ dơ bẩn,
ảnh tượng bị đập phá, trong thời gian chờ dựng
lại nhà cửa, dân chúng ở tạm tại nhà thờ. Tại
Trà Kê, nhà thờ không c̣n và là vùng núi cao
hiểm trở, chiến tranh thường xảy ra nên hoang
vắng, mọi sinh hoạt tôn giáo đều tập trung về
Tịnh Sơn. Trà Kê – Cây Gia trở thành giáo họ
của Tịnh Sơn.
Tháng 07/1955 cha Phaolô Huỳnh
Đông Các được bổ nhiệm về làm cha sở Tịnh Sơn.
Năm 1956 ngài được du học, năm 1974 làm Giám
mục Giáo phận Quy Nhơn.
Cha Giuse Lê Khắc Tâm (1956 –
1957)
Cha Phêrô Nguyễn Kỳ Hội (1958 –
1970). Trong 12 năm làm cha sở, ngài củng cố
giáo xứ, sửa lại nhà thờ và nhà xứ. Năm 1963
ngài xây nhà thờ Củng Sơn. Năm 1959 có số giáo
dân trong tỉnh đi dinh điền lập nghiệp tại Phú
Đức, xă Đức B́nh huyện Sơn Ḥa ( nay thuộc
huyện Sông Hinh ), cha Hội cho dựng tạm nhà
thờ mái tranh vách đất. Năm 1969 ngài xây nhà
thờ Phú Đức bằng vật liệu rắn chắc gạch, tôn.
Nhà thờ nầy được khởi công xây dựng lại vào
ngày 04/12/1996 (âm lịch) sau một thời gian
nhà nước trưng dụng làm kho lương thực, tháng
09/ 1997 hoàn thành.
Ngày 21/03/1971 cha Phêrô Tuần
Nguyễn Cao Hiên về nhận xứ Tịnh Sơn.Vùng đất
nầy bấy giờ là vùng chiến tranh, dân chúng tập
trung về ở chung quanh quận lỵ Củng Sơn. Cha
Hiên đặt cư sở tại Củng Sơn, nhà thờ Tịnh Sơn
hoang vắng cho đến cuối năm 1991 cha được phép
chính quyền dời cư sở lên Tịnh Sơn, nhà thờ và
nhà xứ Tịnh Sơn dần dần được ngài tu sửa.
Từ năm 1989
nền nhà thờ Trà kê dần dần được dọn dẹp cỏ cây
sau một thời gian dài hoang phế và một nhà thờ
tạm dài 9 m rộng 7m cột kèo tre, mái tôn rách
được thành h́nh, những buổi kinh hôm và thánh lễ
hằng tuần dần dần được cử hành.
Năm 1979 có số
đông giáo dân đi kinh tế mới tại Sơn Nguyên
huyện Sơn Hoà và Thị trấn Hai Riêng huyện Sông
Hinh cùng với số đông giáo dân sống rải rác,
nhiều nơi đường đi xa xôi trắc trở không làm
ngài quản ngại. Trong 10 giáo họ: Tịnh Sơn, Củng
Sơn, Trà Kê, Tân B́nh, Phú Đức, Sông Hinh, Cà
lúi, Sơn Nguyên, Đồng Cam, Ḥa Sơn nơi nào cũng
có sự hiện diện thường xuyên của ngài, thăm
viếng, an ủi, ủy lạo, giải tội, dâng lễ.Năm
1983, Đại Chủng Viện Làng Sông giải thể, Thầy
Giuse Lê Thu Thâu về với cha mẹ ở Sơn Nguyên,
như Chúa quan pḥng gởi thầy giúp xứ đến cho cha
Hiên đang quá tải trong việc chăm sóc mục vụ cho
đoàn chiên. T́nh Chúa càng lớn hơn, vào ngày
01/05/1992 thầy Giuse Thâu được thụ phong linh
mục, làm cha phó ở tại giáo họ Sơn Nguyên. Giáo
họ Sơn Nguyên được tách khỏi Tịnh Sơn, nâng lên
hàng giáo xứ ngày 01/07/2003. Từ đây giáo xứ
Tịnh Sơn c̣n 07 giáo họ: Tịnh Sơn, Củng Sơn, Trà
Kê, Tân B́nh, Cà Lúi, Phú Đức, Sông Hinh, tập
họp sinh hoạt phụng vụ tại 04 nhà thờ : Tịnh Sơn,
Trà Kê, Củng Sơn, Phú Đức.
Sau 27 năm
phục vụ giáo xứ miền sơn cước, năm 1998 cha Hiên
được bổ nhiệm làm cha sở Đông Mỹ, cha Phêrô
Nguyễn Cấp từ Đông Mỹ về làm cha sở Tịnh Sơn.
Cha Cấp trùng tu nhà thờ Tịnh Sơn, xây dựng
tượng đài Đức Mẹ và thánh Giuse, năm 2002 khởi
công xây dựng nhà thờ Trà Kê và khánh thành ngày
02/04/2003.
III. CÁC TU SĨ D̉NG MẾN THÁNH GIÁ QUY NHƠN GIÚP
XỨ :
|
1 |
D́ Nhơn và D́ Hoa Phước Viện Mằng Lăng
|
1922 – 1928 |
|
2 |
Théophine Nguyễn thị Mỹ Hảo
|
1992 - 1998 |
|
3 |
Anna Nguyễn Thị Bích Nga |
1992 - 1993 |
|
4 |
Têrêxa Thái Thị Huyền Linh
|
1998 – 2003 |
|
5 |
Marie Lorette Trương Thị Minh Đức
|
1993 - 1998 |
|
6 |
Anna Trương Thị Huyền |
1998 – 2003 |
|
7 |
Matta Đinh Thị Mỹ Dung |
2003 – |
|
8 |
Têrêxa Phạm Thị Tuyết Ngân
|
2003 – |
IV. DỰ KIẾN TƯƠNG LAI :
-
Xin xây nhà thờ
thị trấn Hai Riêng – huyện Sông Hinh. (chưa
bao giờ có nhà thờ)
-
Xin Toà Giám
Mục tăng thêm 2 Cha đặc trách : Giáo họ Trà Kê,
cách Tịnh Sơn 20km, Giáo họ Hai Riêng, cách
Tịnh Sơn 13 km, qua đ̣ ngang.
-
Khuyến học, cổ
động ơn gọi tu tŕ.
|