|
GIÁO XỨ TUY H̉A
|
|
|
|
|
I.
VỊ TRÍ ĐỊA LƯ :
Giáo Xứ Tuy Ḥa
ngày nay bao gồm thị xă Tuy Ḥa, một số xă thuộc
huyện Phú Ḥa : Hoà An, Hoà Trị, Hoà Thắng, Hoà
Quang Bắc, Hoà Quang Nam, Hoà Định Đông, Hoà
Định Tây và các xă phía nam huyện Tuy An : An
Chấn, An Phú, An Mỹ (Nam Hoà Đa). Bắc giáp tỉnh
lộ Ḥa Đa –Vân Ḥa, nam giáp cầu Đà Rằng, Đông
giáp Biển Đông, Tây giáp Đập Đồng Cam. Giáo xứ
chọn Thánh Giuse làm Bổn mạng, mừng kính
ngày19-3. Tổng số giáo dân cuối năm 2003 là 3772
người. Nhà thờ Tuy Hoà nằm trên trục đường Lê
Trung Kiên, với ngọn tháp cao sừng sững giữa
vùng trời thường băo giông, như biểu tượng T́nh
Yêu quan pḥng của Thiên Chúa hằng kiên định
chảy tràn giữa ḍng lịch sử bao thăng trầm đổi
thay.
II.
ĐÔI D̉NG LỊCH SỬ :
Theo ḍng lịch sử
truyền giáo tại Phú Yên, vùng đất thuộc giáo xứ
Tuy Ḥa ngày nay đă đón nhận Tin Mừng rất sớm.
Căn cứ theo danh sách nhà thờ nhà nguyện của các
Thừa sai Balê, năm 1747 có: Phú Điền 50 giáo dân,
Thạch Thành 100 giáo dân. Trong
Archivesmep.mepasie.org cho thấy cha Pierre
Léopold JEANNE đă ở tại Hoa Vông từ 1834-1836,
Cha Pierre Alphonse PERROT năm 1875, Đức Cha Van
Camelbecke trước khi làm giám mục (27/4/1884),
ngài đă làm việc tại Hoa Vông năm 1879. Theo báo
cáo của thánh Giám mục tử đạo Stêphanô Thể, năm
1850 có ghi các giáo điểm, mà ngày nay thuộc
giáo xứ Tuy Ḥa như : Hoa Vông 165 giáo dân, Phú
Cốc 311 giáo dân, Hóc Gáo 228 giáo dân, Phú Điền
196 giáo dân, Triều Thủy 137 giáo dân, trong các
giáo điểm này Hoa Vông là trụ sở chính của vùng
Nam Phú Yên. Đón nhận rồi tặng hiến, chết đi để
sống lại như lời Đức Giêsu: “ Hạt lúa được gieo
vào ḷng đất nếu không chết đi th́ nó vẫn trơ
trọi một ḿnh; c̣n nếu chết đi, nó mới sinh được
nhiều hạt khác.”
(Ga 12,24) , những
hạt giống Tin Mừng được gieo trên vùng đất nầy
không ra ngoài qui luật đó. Vào ngày 26/01/1861,
một người con của vùng đất nầy là thầy Trinh quê
Phú Cốc đă hy sinh v́ đức tin tại G̣ Chàm (Mm.
02/1909, p. 32). Năm 1885 người con thứ hai của
Phú Cốc là cha Hậu được Văn Thân đưa về chầu
Chúa tại Phú Cốc (Mm.no.62/1910/p.13). Trong
phong trào Văn Thân hầu như tất cả các giáo điểm
vùng Phú Yên đều nát tan , tín hữu th́ được Văn
Thân tiễn đi chầu Chúa, cơ sở và nhà cửa cũng
thành tro bay theo lên trời . Ở Hoa Vông, Cha
Eugène Marie Durand viết: “ Hồi c̣n là một thừa
sai trẻ tôi đă đến viếng đống tro tàn đổ nát của
nhà ḍng xinh xắn và cô nhi viện tuyệt đẹp tại
Hoa Vông, năm 1888 hai cây Cau c̣n nghiêng ḿnh
bên bờ giếng đó, người ta bảo tôi :“Chính trên
hai cây Cau ấy mà chị bề trên cùng chị phụ tá đă
bị treo cổ; và trong ḷng giếng sâu nầy, các chị
nữ tu khác đă bị đẩy xuống, một ḥm thánh tích
bao la”. (Notes de voyages – Durand,AMEP, 821
p.3-7).
Sau phong trào Văn
Thân, năm 1888 Đức cha Van Camelbecke Hân bổ
nhiệm Cha Guitton (Cố Thông) phụ trách vùng Nam
Phú Yên có cha Gioakim Đạt làm cha phó, đặt cư
sở tại Hoa Vông. Một năm sau, cha Đạt đi Quán
Cau, Cha Guitton tái thiết Hóc Gáo với những
giáo hữu đi lánh Văn Thân từ Làng Sông và G̣ Thị
trở về. Trong thời gian đầu cha Guitton c̣n
nhiều khó khăn, phải làm lại tất cả, cha rửa tội
được 155 người nhưng số người lớn không được bao
nhiêu. Cho dẫu khó khăn nhưng ḷng nhiệt thành
truyền giáo đă đưa chân cha đi khắp nơi trong
vùng, cha qui tụ và xây dựng 04 giáo điểm: Đồng
Cam, Đất Đỏ, Hóc Gáo, Phú Điền, mỗi nơi đều có
nhà thờ, riêng tại Hoa Vông nhà thờ tương đối
đẹp hơn các nơi khác. “Ngày đi trong nước mắt
tung hạt gống gieo trên nương đồng, ngày về
miệng vui ca tay ôm bó lúa ngào ngạt hương”, ba
năm sau cha đă rửa tội được 913 người lớn và 31
trẻ con ngoại giáo trong trường hợp nguy tử.
(
R.A.E. Cp.V / 1890,1891,1898 / Mgr. Van
Carmelbeke). Tháng 6/1893 cha Guitton đi Ninh
Ḥa, cha Phêrô Huề về Phú Điền phụ trách cả Hoa
Vông. Ngày 20/02/1895 cha Dubulle (Cố Phương)
được bổ nhiệm về Hoa Vông với cha Phục làm cha
phó. Năm 1896 cha Dubulle thiết lập một trung
tâm tại Long Thủy. Tháng 01/1899 Cha Marius
Julien Jean đến Hoa Vông thay cho cha Dubulle
cho tới cuối tháng 02 năm 1910, Cha Lalanne (Cố
Lân) được cử đến thay thế và lần lượt có các cha
phó : Cha F.x. Ban ( 02/1911), cha F.x. Tuyên
(10/1912). Năm 1917 cha Lalanne trở về Pháp nhập
ngũ theo lệnh tổng động viên, Cha Antôn Linh (phó
Mằng Lăng) đến chăm sóc mục vụ. Ngày 11/12/1918
cha Porcher từ Đồng Tre về làm cha sở Hoa Vông,
năm 1924 cha xây trường học gồm 03 pḥng, một
pḥng dành cho các d́ phước, một pḥng trọ dành
cho các trẻ nữ trong vùng, pḥng giữa làm pḥng
học. Đây là ngôi trường công giáo đầu tiên trong
vùng, theo thống kê năm 1928 có 12 em nam và 15
em nữ theo học với d́ giáo Maria Phụng. Ngày
15/05/1927 Đức Cha Grangeon Mẫn khánh thành nhà
thờ mới được cha Porcher xây lại trên nền cũ cha
Jean đă xây năm1907, từ tháng 02/1927 cha
Porcher đă được bổ nhiệm làm cha sở Mằng Lăng.(
M.m de Qui nhơn 4/1927, p.30,48)
Vào năm 1927, linh
mục Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm đến làm cha
sở Hoa Vông là cha Simon Trần Văn Phiến. Trong
bối cảnh xă hội lúc bấy giờ, Tuy Ḥa là phủ lỵ,
có những cơ quan cấp tỉnh được xây dựng, ga xe
lửa được thành lập, đập Đồng Cam được hoàn thành
( 1929). Cùng với quân nhân, công viên chức, dân
chúng đến Tuy Ḥa lập nghiệp ngày càng đông. Để
thuận tiện cho đời sống của giáo dân tại phủ lỵ,
cha Simon Phiến đă lập một nhà nguyện và nhà xứ
tại Triều Thủy. Ta gọi đây là Triều Thủy (2) để
phân biệt Triều Thủy có trước thời Văn Thân. Nền
nhà thờ Triều Thủy (2) ngày nay ở tại cộng đoàn
các nữ tu ḍng Thánh Phao lô Tuy Ḥa.
Năm 1938, cha
Simon Phiến về ở tại nhà thờ Triều Thủy (2) số
giáo dân khoảng 120 người. Cơ sở Hoa Vông dần
dần hoang phế theo thời gian. Ngày nay chỉ c̣n
chút cổng nền nhà thờ nằm dưới lớp cây cỏ dại
trên triền núi thôn Chánh Nghĩa, xă An Phú,
huyện Tuy An.
Ngày 19/3/1942,
hồi 02 giờ sáng Chúa gọi cha Phiến về trời mừng
lễ Ngân Khánh Linh Mục trong niềm thương nhớ của
nhiều người như trong tiểu sử có ghi: “ ....Con
chiên bổn đạo cũng tất dạ mến phục, cả người bên
lương cũng yêu thương. Lúc người tạ thế được vài
hôm , có năm ba người lương đem mỗi người cặp
đèn bạch lạp xin cha phó làm cho mấy lễ mồ....Sở
dĩ cha được mến yêu như vầy là v́ người rất
nhiệt thành đối với nghĩa vụ, thương cả dân
lương giáo. Lại người tính t́nh niềm nỡ, ai gặp
cũng tṛ chuyện một phen ắt không sao quên được.
Ngài thuần hậu mà vẫn cương trực ngay thẳng,
chẳng hay vị nể mà bỏ bổn phận .”(M.m
3-4/1942,p. 6)
Năm 1955, cha
Giuse Tô Đ́nh Sơn được bổ nhiệm làm cha sở Tuy
Ḥa. Năm 1960, ngài xây dựng nhà thờ và nhà xứ
trên vùng đất mới như hiện có ngày nay. Lúc 8
giờ sáng ngày 21/02/1961 Đức Giám Mục Giáo phận
chủ sự nghi thức trọng thể làm phép chuông, 03
chuông nầy có âm thanh Đô-Mi-Sol, được mua tại
Pháp. Cha Phạm Châu Diên giải thích ư nghĩa nghi
thức làm cho mọi người hiện diện rất tâm đắc ( Thông
tin Địa phận Qui Nhơn số 20/1961, trang 24). Nhà
thờ dài 56 m, rộng 18m, tháp chuông nhọn cao
43,50m, lễ khánh thành nhà thờ nhằm ngày Chúa
nhật 06/05/1962 (Thông tin số 27/1962, trang
34). Ngoài nhà thờ và nhà xứ, Cha Giuse xây
trường trung tiểu học Đặng Đức Tuấn (1959), giao
cho các tu sĩ ḍng Thánh Giuse phụ trách. Trong
thời gian chiến tranh (1964 – 1975) dân chúng từ
các vùng chiến tranh tập trung về thị xă Tuy Ḥa,
trong đó có Cô Nhi Viện Mằng Lăng đặt cơ sở tại
ngă tư đường Lê Lợi và Phan Đ́nh Phùng, Phước
Viện Mằng Lăng đặt cơ sở trong phần đất của giáo
xứ bên cạnh khuôn viên nhà thờ và nhà xứ. Giáo
Xứ Tuy Hoà với đầy đủ cơ sở vật chất thích hợp
cho những nhu cầu sinh hoạt mục vụ, là trung tâm
của hạt Phú Yên.
Giáo xứ Tuy Ḥa
hiện nay gồm 6 Giáo khu tại thị xă Tuy Ḥa và 3
Giáo họ là: Cẩm Tú, Phú Cốc, Hóc Gáo. Giáo họ
Hóc Gáo đă có nhà nguyện khang trang, có pḥng
giáo lư và nhà vuông tạm đủ sinh hoạt cho cha,
thầy và các nữ tu đến làm mục vụ.
Hiện nay có 2 Cộng
đ̣an nữ tu sinh hoạt trong Giáo xứ: Cộng đoàn nữ
tu ḍng thánh Phaolô de Chartres và Cộng đ̣an nữ
tu Ḍng Mến Thánh Giá Qui Nhơn.
Đa số giáo dân là
người lao động chân tay, một số ít buôn bán nhỏ,
ngành nghề, công nhân viên chức ḥa ḿnh với
cuộc sống xă hội, tích cực tham gia những hoạt
động bác ái. Hằng tháng, nhờ sự cộng tác của
nhiều người, giáo xứ cung cấp trên 30 suất gạo
và tiền cho những người già yếu neo đơn.
Đời sống Đức tin
hàng ngày được dưỡng nuôi qua mục vụ Thánh Lễ,
mục vụ giáo lư; đời sống bác ái và các sinh hoạt
khác như ca đoàn, Legio Mariae, Các Bà mẹ Công
Giáo.
*
Các Linh mục Chánh xứ và Phó xứ Tuy Ḥa:
(Kể từ linh mục
Việt Nam đầu tiên làm chánh xứ)
Các Linh mục Chánh xứ:
|
1 |
Simon Trần Văn Phiến |
1926-1942 |
|
2 |
Antôn Nguyễn Minh Đoan |
1942-1946 |
|
3 |
Matthêu Trịnh Ḥa Đại |
1946-1948 |
|
4 |
Antôn Nguyễn Anh Thuận
|
1948-1950 |
|
5 |
Phêrô Nguyễn Vĩnh Lưu
|
1951-1955 |
|
6 |
Giuse Tô Đ́nh Sơn |
1955-1973 |
|
7 |
Martinô Nguyễn Trọng Huấn
|
1973-1986 |
|
8 |
F.X Nguyễn Xuân Văn
|
1986-10/01/2002 |
|
9 |
Giuse Trương Đ́nh Hiền |
14-4-2002…. |
Các
Linh mục Phó xứ:
|
1 |
Antôn Nguyễn Văn Trường |
|
|
2 |
Micae Phạm Bá Tước |
|
|
3 |
Antôn Lê Quang Tŕnh |
|
|
4 |
Phêrô Nguyễn Văn Nhuận |
|
|
5 |
Micae Nguyễn Tri Phương
|
1969-1971 |
|
6 |
Phêrô Nguyễn Huy Pháp |
|
|
7 |
Antôn Lê Quang Tŕnh |
|
|
8 |
Gioan Kim Nguyễn Hoàng Trí
|
1972-1975 |
|
9 |
Phêrô Nguyễn Cấp |
1973-1975 |
|
10 |
Vinhsơn Nguyễn Văn Bản
|
1993-1996 |
|
11 |
Antôn Nguyễn Huy Điệp
|
1998-2002 |
|
12 |
Phêrô Nguyễn Xuân Ḥa
|
2002...... |
|
13 |
Giuse Vơ Tá Hoàng |
2003...... |
III.
Các linh mục và tu sĩ xuất thân từ Tuy Ḥa
LINH MỤC :
|
1 |
Lm. Hậu - quê Phú Cốc
|
Văn Thân đưa về chầu Chúa năm 1885 |
|
2 |
Lm. Phêrô Huề |
Phú Điền, 1852 – 1911 |
|
3 |
Lm. Giuse Trần Nhi |
Triều Thủy, 1862 – 1935 |
|
4 |
Lm. Phêrô Vơ Tá Khánh |
|
|
5 |
Lm. Phêrô Vơ Tá Đề |
|
|
6 |
Lm. Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản |
|
|
7 |
Lm. Phêrô Trương Minh Thái |
|
|
8 |
Lm. Phêrô Nguyễn Xuân Ḥa |
|
|
9 |
Lm. Giuse Vơ Tá Hoàng |
|
TU
SĨ:
|
1 |
Mađalêna Cái Thị Hồng Á |
Bề trên Giám Tỉnh ḍng Phaolô Đà Nẵng. |
|
2 |
Maria Anna Nguyễn Thị Tiến
|
Phaolô Đà Nẵng |
|
3 |
Maria Đan Thị Minh Tuyết
|
Phaolô Đà Nẵng |
|
4 |
Agnès Nguyễn Thị Thúy Vân
|
Phaolô Đà Nẵng |
|
5 |
Maria Vơ Thị Minh Ḥe |
MTG Tân B́nh Nha Trang |
|
6 |
Maria Nguyễn Thị Dạ Thảo
|
MTG Quy Nhơn |
|
7 |
Maria Nguyễn Thị Diệu Huyền
|
MTG Quy Nhơn |
|
8 |
Anna Nguyễn Thị Tinh Tuyền
|
MTG Qui Nhơn |
|
9 |
Anna Vơ Thị Tuyết Hằng
|
Phan Sinh Thừa sai Đức Mẹ |
|
10 |
Maria Bùi Thị Lệ – |
Ánh Sáng Phúc Âm |
IV.
Cơ
sở vật chất
Trước năm 1975,
giáo xứ Tuy Ḥa có những cơ sở sau đây:
-
Nhà thờ Tuy Ḥa: xây dựng năm 1960, diện tích:
1004, 5m2, tháp chuông cao 47 m.
-
Nhà vuông: 202, 34 m2
-
Trường Đặng Đức Tuấn: gồm 3 dăy nhà h́nh chữ
U, diện tích đất khu vực nhà trường: 5400 m2.
-
Trường thánh Giuse: do các nữ tu Phaolô điều
khiển.
-
Cô nhi viện Lạc Thiện của các nữ tu Phaolô.
-
Cô nhi viện Mằng Lăng của các nữ tu Mến Thánh
Giá Qui Nhơn.
-
Nghĩa trang Công Giáo: diện tích 24.222 m2.
-
Nhà Quản trang: 450 m2.
Sau năm 1975,
các cơ sở giáo dục được chuyển giao cho Nhà nước,
chỉ c̣n lại nhà thờ Tuy Ḥa. Trong khuôn viên
nhà thờ Tuy Ḥa, một số cơ sở được xây dựng hoặc
tu sửa: pḥng Hội (107 m2), nghĩa
đường (78, 5 m2), nhà để xe (351 m2),
nhà kho (37, 5 m2), 6 pḥng giáo lư
(130, 5 m2), nhà sách (41, 5 m2).
Đầu năm 2002, nhà sinh hoạt giáo lư hai tầng, 12
pḥng, diện tích 213 m2 đă hoàn thành
và sử dụng.
Tại giáo họ Hóc
Gáo, từ năm 1995, các cơ sở lần lượt được xây
dựng: nhà thờ (259, 5 m2, tháp chuông
cao 14 m), nhà Hội (120, 5 m2), nhà
giáo lư (81 m2). Nhà thờ Hóc Gáo có
hai sào ruộng (997 m2). |
|
| |
| |
|
| |