SỨC MẠNH CỦA LỜI CHÀO
Micae Trần Kim Đạt
Thường người dẫn chương tŕnh hoặc thuyết tŕnh viên tŕnh bày một vấn đề ǵ đó trước đông đảo cử tọa hay bắt đầu bằng một loạt : “ Kính thưa”. Khi phải giới thiệu thành phần tham dự, người dẫn chương tŕnh bao giờ cũng giới thiệu người có chức vụ quan trọng trước, người kém hơn tiếp theo và thường sau hết là số đông quần chúng… Trong giao tế hàng ngày, người ta c̣n chỉ dẫn cách giới thiệu người dưới với người trên, ai trước, ai sau… , phong cách ứng xử thật nhiêu khê nhưng nhất nhất đều tuân theo một thứ tự nhất định được qui định rơ ràng, nếu làm khác sẽ bị chê là yếu nghiệp vụ, thiếu chuyên môn, chưa quen việc.
Lần này, trong buổi hội thảo Mùa Phục Sinh 2004 về đề tài : “ Sống đạo theo cung cách Việt Nam” được tổ chức tại Giáo Phận Huế của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam từ ngày 20/4 đến 22/4/2004, trong lời khai mạc của Đức Giám Mục F.X Nguyễn Văn Sang trong hội trường ṭa Giám Mục Huế có sự tham dự của Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế, Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các Đức Cha, các khách quí, các Linh Mục, Tu sĩ nam nữ và tất nhiên có rất đông giáo dân, Đức Giám Mục F.x Nguyễn Văn Sang bắt đầu :
“ Kính thưa: Các Vị giáo dân, Ngài không sử dụng đại từ ngôi thứ 2 số nhiều : “Anh chị em” như thường nghe nhưng là “ Vị” rất trân trọng ( 1)
Phải chăng Ngài chưa quen việc, thiếu chuyên môn v́ trước mặt Ngài, ở hàng ghế danh dự, hiện diện rơ ràng bao nhiêu chức sắc của Hội Đồng Giám Mục, của quan khách gần xa…Và dường như sợ quí khách hiểu nhầm, Ngài liền nói thêm : “ Tôi muốn đặt lên hàng đầu để tỏ ḷng kính trọng đặc biệt”.
Nếu không v́ lư do yếu nghiệp vụ hay sợ hiểu nhầm, phải chăng Ngài muốn đề cao phe nhóm, số đông mà Hội Đồng Giám Mục tin tưởng trao phó nhờ Ngài hướng dẫn, điều hành bởi dầu ǵ Ngài cũng là: Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Dân.
Tất cả các suy đoán già non, tiêu cực ấy chưa thuyết phục lắm và có lẽ cái Ngài muốn nhắm đến chính là : V́ ḷng yêu mến và muốn đánh thức giấc ngủ dài của người tín hữu mà Chúa đă giao phó cho Giáo Hội săn sóc về giá trị, bổn phận của ḿnh trong thế giới và đặc biệt nơi Giáo Hội Á Châu trong đó có Giáo Hội Việt Nam này.
Người giáo dân là ai? Có ǵ để được Ngài tỏ ḷng : “ kính trọng đặc biệt”.
Có câu chuyện kể rằng: “ Chú voi to lớn nơi vườn bách thú có thể nhất bổng hàng tấn vật liệu nhưng không thể thoát khỏi chiếc xích nhỏ trong chân mà người quản tượng đă cột vào lúc chú c̣n là voi con bé bỏng, yếu ớt. Sau nhiều năm bị cột chặt như thế, đă mất hẳn ư thức rằng : ḿnh dư khả năng để kéo đứt chiếc xích mảnh mai so với cái xác to lớn”. Thế là chú đành chấp nhận bị trói buộc một cách tự nguyện.
Người giáo dân thụ động, ỷ lại, có khuynh hướng co cụm hoặc thiếu quan tâm đến hơi thở, sức sống, sứ mạng rao giảng mà Chúa Kitô Phục Sinh đặt để : “ như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai các con…”. Sự chuyển biến của lịch sử về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế…Giáo dân không c̣n quan tâm đến Giáo Hội nữa, văn hóa quảng cáo , thiếu tôn trọng sự thật, sự phát triển của kỹ nghệ thông tin, đánh lừa nhau quá dễ dàng với một vài địa chỉ @.com nào đó đă làm mất đi ḷng tin nơi nhau và từ đó tất cả cái thần thiêng đều bị tục hóa, xem thường, tất cả đều bị hoài nghi.
Bên cạnh thái độ thờ ơ, thụ động, c̣n rải rác đây đó, người giáo dân thiếu khả năng phản ứng trước một vài quan niệm thuộc thời trung cổ.
Trong một giai thoại, Hồng Y Gasquet kể rằng :vào thời tiền công đồng, một dự ṭng hỏi Linh Mục công giáo về thế đứng của người giáo dân trong giáo hội. Vị Linh Mục điềm nhiên trả lời : Giáo dân có 2 vị thế trong Giáo Hội, thứ nhất, quỳ gối trước bàn thờ, thứ hai, ngồi trên ghế (2).
Giáo dân, được hiểu là : “ đám tín đồ lê dân” ( 3) đối lại với giáo sĩ đầy uy thế.
Thiếu ư thức, thiếu phản ứng là biểu hiện cho một cơ chế chậm phát triển. Ngài không muốn cho cộng đoàn Dân Chúa là một tập hợp chậm tiến, thiếu sinh lực như thế.
Kính thưa : “ Các Vị giáo dân(tôi muốn đặt lên hàng đầu để tỏ ḷng kính trọng đặt biệt)”. Chắc chắn đây không phải là kiểu nói của một nhà sản xuất, một cơ sở kinh doanh, một chủ doanh nghiệp đối với khách hàng của ḿnh. Họ phục vụ khách hàng, tôn vinh khách hàng, khách hàng là thượng đế v́ khách hàng mở ví lấy tiền trao cho họ, làm giàu cho họ.
Thật sự, người giáo dân đáng kính trọng v́ đời sống của họ đáng được cư xử như thế. Từ giáo dân Giuse, Maria đầu tiên đă cưu mang con Thiên Chúa làm người- đám tín đồ theo Chúa trên đường thập giá- giáo dân dùng máu ḿnh làm chứng cho Đức Kitô- giáo dân dám chết hàng loạt trong các hang tọai đạo và suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, đặc biệt 470 năm Giáo Hội Việt Nam, biết bao giáo dân dám sống, dám chết v́ Tin Mừng ḿnh được lănh nhận. Họ không bị rút ruột để làm giàu một thể chế trần thế nhưng chỉ biết làm giàu bằng cách thu về vào kho lẫm Nước Trời thật nhiều linh hồn, thật nhiều số phận v́ muốn tất cả đều được Cứu. Giáo dân cũng sẵn sàng đánh đổi tất cả trong tự do và ḷng quản đại để làm chứng cho Đức Tin. Xem lại lịch sử truyền giáo Việt Nam, cúi đầu thán phục các vị thừa sai bao nhiêu th́ cũng ngă nón trước những hy sinh to lớn của người giáo dân luôn sát cánh với các vị thừa sai đó bấy nhiêu.
H́nh ảnh người giáo dân đẹp như thế không thiếu trong mọi thời nhưng bóng dáng của người giáo dân uể oải, tiêu cực trên kia không phải khó t́m lắm trong thế giới hôm nay.
Câu : “ kính thưa các Vị giáo dân” của Ngài như một tôn vinh và cũng như một sự đánh thức, nhắc nhở nhau sống đúng ơn gọi của ḿnh- sống xứng đáng với những ǵ ḿnh được nhận lănh.
Vào thời Xuân Thu bên Tàu, người ta dùng một loại b́nh có cạnh, có chân đế, có quai nắm, có dung tích lớn để rót rượu ra chén, b́nh đó gọi là CÔ; đến thời Khổng Tử, b́nh không có cạnh, không có đế, không quai nắm, thể tích nhỏ hơn, người ta cũng gọi là CÔ, v́ thế Khổng Tử đă than : “ không phải là CÔ nhưng cũng gọi là CÔ, vậy có phải là CÔ chăng? ( Cô bất Cô, Cô tại! ). Hơn ai hết, người giáo dân- Cựu Chủng Sinh- Cựu Tu Sĩ phải tự biết ḿnh.
Chúng ta không là Tu Sĩ, Giáo Sĩ để được xem là người cùng ăn, cùng uống, ở cùng pḥng, cùng vui chơi, đàm đạo trực tiếp, cận kề với nhà truyền giáo vĩ đại và tuyệt vời đầu tiên : Đức Kitô, nhưng ít ra chúng ta cũng là người đă từng một lần tiếp xúc, ít nhiều gặp gỡ, cũng có lần được mời gọi cùng bàn, tuy không lâu dài nhưng cũng để ta hiểu và cảm nhận phần nào vị trí của ḿnh trong Giáo Hội, trong môi trường sống, đúng như cái nh́n của Uông Đại Bằng về vai tṛ của cựu chủng sinh, cựu tu sĩ qua bài viết : chân dung của giáo lư viên, nội dung có đoạn : Giáo Xứ nào may mắn có những giáo lư viên vốn là cựu chủng sinh hay cựu tu sĩ… th́ trách vụ mục tử nơi đó được nhẹ bớt rất nhiều (4).
Qua cái nh́n này, không hiểu sự hiện diện của cựu chủng sinh, cựu tu sĩ đă thực sự là điều may mắn cho một xứ đạo chưa? Dẫu sao cũng chân thành cảm ơn cái nh́n tích cực đó.
Cảm ơn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, cảm ơn sự quí mến, tràn đầy tin tưởng của ĐGM F.x Nguyễn Văn Sang- Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Dân về thành phần đông đảo, trong đó có cựu chủng sinh, cựu tu sĩ : Giáo Dân.
Phần c̣n lại là chính chúng ta. Có thật sự chính danh. Cho tôi được đảo ngược câu nói của Khổng Tử để nói :
Giáo Dân- Cựu Chủng Sinh- Cựu Tu Sĩ nhưng không là Giáo Dân- Cựu Chủng Sinh- Cựu Tu Sĩ. Vậy là Cựu ǵ…..?