(LM Anphong Trần Đức Phương sưu tầm và tổng lược)
- Quê Hương Ba Lan: Thời Niên thiếu - Đời Linh Mục,
Giám Mục và Hồng Y.
- Vatican, Thành Đô Giáo Hội: Viêc bầu chọn lên Ngôi
Vị Giáo Hoàng - Trên ‘Ngai Tòa Thánh Phêrô’ - 25 Năm chăn dắt
đòan Chiên Chúa - Những lời Chúc Mừng và Cảm tạ tri ân.
- Phụ đề: Bổn phận cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng -
Đức Giáo Hoàng có thể từ chức không? - Các quốc gia Đức Đương
Kim Giáo Hoàng Gioan Phalô II đã thăm viếng Mục Vụ trong 25
năm trên Ngôi Vị Giáo Hoàng.
QUÊ HƯƠNG BA LAN
Thời Niên Thiếu:
Đã có rất nhiều sách vỡ, báo chí, truyền thanh, truyền hình,
mạng lưới điện toán toàn cầu... bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau,
đề cập đến cuộc đời của Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II, nhất là trong dịp Mừng 25 Trên Ngôi Giáo Hoàng của Ngài. Sau
đây chúng tôi xin gửi đến quý vị và các bạn một số điểm chính để
dể nhớ và tra cứu:
- Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sinh ngày
18-5-1920 tại Wadowice, Tổng Giáo phận Cracovie, miền Nam
Balan.
- Tên là Karol-Joseph Woityla. Tên thân mật (nick name)
trong gia đình: Lolek hay Lolus (Lolek là từ Karol; Lolus có
nghiã là “Dịu Dàng”). Bút hiệu khi làm thơ, viết báo, hay kịch
nghệ lúc còn trẻ là: Andrzef Jawien hay Andrzef Gruda.
- Thánh Bổn Mạng là Charles Borromeo mừng lễ vào ngày 04
tháng 11 hằng năm.
- Tên Cha: Karol Woityla (Sĩ quan quân đội; mất năm 1941,
lúc Ngài 21 tuổi).
- Tên Mẹ: Emilia Kaczorowska (Nội trợ, mất năm 1929 lúc Ngài
9 tuổi).
Lúc còn nhỏ Ngài có tham gia vào Hội Giúp lễ và Hội Thanh Niên
Công Giáo. Lớn lên trong tuổi thanh niên giữa lúc Thế Chiến Thứ
Hai bùng nổ và Đức Quốc Xã chiếm đóng và tàn phá Balan; lại cha
mẹ đã mất, nên Karol Joseph phải tự lập, vừa đi làm việc tại
xưởng thợ, vừa đi học; có lúc viết báo, làm thơ, kịch nghệ; có
thời gian tham gia các tổ chức kháng chiến chống Đức Quốc Xã.
Các Chủng Viện huấn luyện linh mục lúc đó phải đóng cửa, nên
phải lén tu học. Trong một dịp gặp gở các chủng sinh tại Rôma,
vào Mùa Chay năm 2003, Đức Giáo Hoàng đã kể lại kinh nghiệm “tu
chui” của Ngài dưới thời Đức Quốc Xã đang chiếm đóng tại Balan
cách nay đã hơn 60 năm (lúc đó Ngài 20 tuổi). Các Chủng viện đều
phải đóng cửa, dù lúc đó các chủng sinh đang tu rất đông. Vì thế
Ngài vừa phải đi làm như công nhân, vừa học. Khi làm “ca” ngày
hay khi làm “ca” đêm Ngài đều mang sách vỡ học thêm. Thông cảm
hoàn cảnh của Ngài, các bạn làm cùng xưởng hoá chất với Ngài,
thường phụ giúp công việc cho Ngài để Ngài có thời giờ học bài
của chủng viện, và Ngài nói: “Thật là ơn lạ của Chúa mà một
thanh niên Balan sống trong thời chiến tranh, vừa đi học, vừa đi
làm, một chủng sinh “tu chui” mà bây giờ trở nên một Giáo Hoàng!
“.
Đời Linh Mục, Giám Mục và Hồng Y:
Được Chịu Chức Linh Mục ngày 01 tháng 11 năm 1946 (lúc đó Ngài
mới 26 tuổi), sau đó được gửi đi học thần học tại Học Viện
Angelicum (Rôma). Năm 1948 xong luận án Tiến sĩ Luân lý Thần học,
và trở về quê hương phục vụ. Làm Cha Phó, Giáo sư Đại Học và
hoạt động rất mạnh cho giới trẻ, cho sinh viên và ảnh hưởng
nhiều đến giới trí thức thời đó.
Giám Mục Phụ tá (1958); Giám quản (1962); rồi Tổng Giám mục
(1963) Tổng Giáo phận Cracovie, cũng là giáo phận quê hương của
Ngài lúc còn nhỏ. Trong thời gian này Ngài đã tham dự và đóng
góp rất nhiều cho các tài liệu của Cộng Đồng Vatican II. Năm
1967, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban cho Ngài chức Hồng Y (lúc đó
Ngài mới 47 tuổi). Trong suốt 15 năm làm Tổng Giám Mục Cracovie,
Ngài đã tỏ ra là một Mục Tử rất đạo đức và nhiệt thành. Ngài
cũng đem áp dụng những chỉ thị của Cộng Đồng Vatican II choTổng
Giáo phận của Ngài. Ngài cũng có nhiều dịp xuất ngọai để quan
sát các sinh hoạt của các nước trong thế giới tự do và cùng với
Đức Hồng Y rất nổi tiếng thời đó là Wyszynki, Tổng Giám mục
Varsovie (Thủ Đô Balan), tranh đấu chống lại chính sách độc tài
áp bức của Chính phủ Cộng Sản Balan thời đó.
VATICAN, THàNH ĐÔ GIÁO HộI
Việc bầu chọn lên Ngôi Giáo Hoàng:
Ngày 20-8-1978, Ngài về Rôma dự lễ An Táng Đức Giáo Hoàng Phaolô
VI rồi tiếp theo dự cuộc bầu cử Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô I
(26-8-1978). Hơn một tháng sau lại trở lại Rôma dự lễ An Táng
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (mất ngày 28/9/1978) và cuộc bầu
cử Đức Giáo Hoàng mới. Chính trong cuộc bầu cử này, một cách
thật bất ngờ cho chính Ngài và cho cả thế giới: Ngài đã được các
Đức Hồng Y bầu chọn lên ngôi vị Giáo Hoàng vào ngày 16-9-1978.
Ngài lấy tên là Gioan Phaolô II để tưởng nhớ đến Đức Giáo Hoàng
Tiền Nhiệm Gioan Phaolô I (Vị Giáo Hoàng có ‘tên kép’ đầu tiên
trong lịch sử Giáo Hội). Lúc đó Ngài mới 58 tuổi; là vị Giáo
Hoàng đầu tiên từ quốc gia Balan; vị Giáo Hoàng không phải là
người Ý sau hơn 400 năm; vị Giáo Hoàng xuất thân từ một nước lúc
đó đang bị Cộng Sản cai trị khắc nghiệt. Ngài là vị Giáo Hoàng
thứ 263 kế vị Thánh Phêrô và là vị Chủ Chăn, đại diện Chúa Kytô
nơi trần gian, để điều hành Giáo Hội toàn cầu trong giai đoạn
đầy khó khăn và căng thẳng trong “Chiến tranh lạnh” giữa Thế
Giới Tự Do và Cộng Sản; lại là lúc Cộng Sản đang tràn lan mạnh
sang Vùng Đông Nam Á qua các nước Đông Dương: Việt, Miên, Lào
vừa bị Cộng Sản xâm chiếm.
Thật nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn, các Đức Hồng Y đã chọn
“đúng người” và “đúng chỗ” “đúng lúc”. Một vị Giáo Hoàng xuất
thân từ một gia đình có truyền thống đức hạnh, trưởng thành giữa
chiến tranh và phải sống trong chế độ Cộng Sản khắc nghiệt, lại
phải sống vất vả cơ cực ngay từ khi còn trẻ, nên có một bản lảnh
và ý chí kiên cường, một đức tin mạnh mẽ nơi Thiên Chúa Toàn
Năng. Ngài lại đặc biệt có lòng Sùng Kính Chúa Giêsu Thánh Thể
và Mẹ Maria. Điều này tỏ hiện rõ qua các thông điệp của Ngài về
việc tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria trong Giáo Hội
Công Giáo. Trong các bài giảng, Ngài luôn kết thúc bằng những
lời nhắc nhở đến Mẹ Maria. Khẩu hiệu của Ngài là: “Toàn thân con
thuộc về Mẹ”. Tháng 10 năm 2002, Ngài đã ra tông thư về “Kinh
Mân Côi Kính Mẹ Maria và mở “Năm Mân Côi” (Tháng 10/2002 - Tháng
10/2003) và lập năm “Mầu Nhiệm Ánh Sáng”; đồng thời kêu gọi mọi
tín hữu hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi Kính Đức Mẹ, chính Ngài
cũng lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Ngài thường tặng chuỗi Mân Côi
cho các khách hành hương được gặp Ngài.
Ngoài ra, Chúa cũng ban cho Ngài có trí thông minh và trí nhớ
đặc biệt, nên dù từ thời tuổi trẻ phải lao động vất vả và việc
học trong thời chiến tranh thật bất thường, nhưng Ngài đã tự đọc
sách và học hỏi thêm nên khi vừa chịu Chức Linh Mục xong (Tháng
11/1946, ngay sau Thế Chiến Thứ II chấm dứt) Ngài đã được gởi đi
Rôma du học và chỉ sau hai năm Ngài đã xong luận án Tiến Sĩ Thần
Học tại Đại học nổi tiếng Angelicum (Rôma) và trở về quê hương
phục vụ. Hơn nữa dù không đi du học lâu năm và cũng không đi du
học nhiều quốc gia, nhưng Ngài biết được nhiều ngọai ngữ như
tiếng Nga (và các thứ tiếng trong nhóm ngôn ngữ “Slovaque” như
tiếng Balan của Ngài), tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức và
các cổ ngữ Hy Lạp, Latinh. Ngài cũng có tài “phát âm” ngoại ngữ,
nên có những cuộc Đại lễ có nhiều sắc dân khác nhau, Ngài có thể
phát âm lời “Chào Mừng”, “Chúc Năm Mới”, “Chúc Giáng Sinh” bằng
các thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng vùng Á Châu như tiếng Việt
Nam. Trong Lễ Giáng Sinh năm nay 2003, Ngài đã gởi lời chúc
Giáng Sinh bằng 62 ngôn ngữ khác nhau (theo tường thuật của các
đài truyền thanh, truyền hình và báo chí).
Khi đã lên chức Tổng Giám Mục, và Hồng Y, Ngài có dịp xuất ngoại
nhiều và tham dự Cộng Đồng Vatican II, Ngài đã có dịp gặp các
Đức Giám Mục các nơi trên “thế giới tự do” trở về Rôma để họp,
nhờ đó Ngài đã có thể học hỏi và đã thông hiểu nhiều những trào
lưu và sự tiến bộ trong thế giới tự do.
Như vậy, khi lên ngôi Giáo Hoàng, Ngài đã có thể nắm vững tình
hình tôn giáo, chính trị. .. trong thế giới tự do. Còn về những
kinh nghiệm và cách đối phó với Cộng sản, thì tất nhiên Ngài đã
quá già dặn vì đã sinh ra, lớn lên và sống hơn nửa cuộc đời phải
đối phó với chế độ Cộng sản. Vì thế, trong Lễ Đăng Quang trọng
thể vào ngày Chúa Nhật 22-10-1978, câu đầu tiên trong bài giảng
của Ngài là: “Anh chị em đừng sợ. .. “. Chữ “đừng sợ” đã được Sứ
Thần Gabriel nói với Đức Maria vào giờ phút truyền tin (Phúc Âm
Luca 1:30). Chúa Giêsu cũng đã nói với các Thánh Tông đồ: “Chúng
con đừng sợ... “ trong các trường hợp khi các “cảnh báo” xãy đến.
(Xin xem PÂ Math 24:6; 10:28; Luca 12:7; 21:9; MC 13:7; Gio
14:1). Trong Sách Cựu Ước cũng ghi lời của các tiên tri nói trấn
an Dân Chúa: “Hỡi Dân ta đừng sợ...” (Is 40:9; Ze 9:9). Trước đó
trong cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, khi bị đoàn quân Ai Cập
đuổi theo, dân Do Thái rất sợ, Maisen cũng nói vớI họ ‘Anh em
đừng sợ.. . ’ (Sách XH 14:13).
Trên Ngai Toà Thánh Phêrô:
Sau khi lên Ngôi Vị Giáo Hoàng, Ngài đã hăng hái bắt tay khởi sự
chương trình lớn lao của Ngài: Thúc đẩy và khuyến khích phong
trào canh tân qua việc áp dụng các huấn thị của Cộng Đồng
Vaticanô II cho toàn thể Giáo hội . . . và chương trình mở rộng
cánh cửa để đón nhận và thánh hóa mọi nền văn hóa và tư tưởng. .
. đồng thời thúc đẩy các vị Chủ chăn và mọi thành phần trong
Giáo hội hãy “đến với” và “đem Chúa Kytô” đến với từng người
thuộc mọi sắc dân và quốc gia. . . Chính Ngài đã là “chiến sĩ
xung phong đầu tiên” : dù vô cùng bận rộn sắp xếp các công việc
lúc đầu, Ngài đã dành chương trình đi thăm các nơi quan trọng ở
Rôma và sau đó khởi sự ngay chương trình “đến với các dân tộc”
bằng các cuộc Thánh du đến các quốc gia. Chỉ sau hơn bốn tháng
lên Ngôi Vị Giáo Hoàng, Ngài thực hiện chuyến đi đầu tiên viếng
thăm Mục vụ Mexico và Republic Dominican (25/01 - 01/02/1979)
rồi tiếp theo các quốc gia, các hải đảo thuộc Năm Châu, bốn biển
(chúng tôi sẽ ghi lại danh sách các nước thăm viếng vào cuối bài
này).
Những hoạt động và ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngài, “một người từ một
nước Cộng sản đi ra”, đã làm cho nhiều thế lực thù nghịch với
Giáo Hội lo ngại, nhất là khối Cộng sản. Ngày 13-5-1981 (gần hai
năm rưởi lên Ngôi vị Giáo Hoàng), Ngài đã bị một thanh niên Hồi
giáo qúa khích người Thổ Nhỉ Kỳ tên Mohamet Ali Agrea bắn trọng
thương vào lúc gần trưa, khi Ngài đang di chuyển tại Quảng
Trường Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (Rôma) chào đón giáo dân
trong cuộc “triều yết chung” vào buổi trưa thứ tư hàng tuần như
thường lệ. Ngay sau đó, Ngài đã được đưa vào bệnh viện Gamelli (Rôma)
để giải phẩu lấy viên đạn ra. Cuộc giải phẩu kéo dào hơn sáu
tiếng đồng hồ. Máu ra nhiều và ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của
Đức Giáo Hoàng. Sau này, nhiều nguồn tin chắc chắn đã tiết lộ:
đó là âm mưu ám sát Đức Giáo Hoàng do Cộng Sản Liên Sô và nhóm
các nước Cộng Sản Đông Âu chủ trương và thuê Ali Agrea thực hiện.
Có điều nên lưu ý là ngày 13 tháng 5 (ngày Đức Giáo Hoàng bị ám
sát) là ngày Đức Maria hiện ra lần đầu tại Fatima (tiếp theo là
các ngày 13/6; 13/7; 13/8; 13/9; 13/10/1917). Sau khi được bình
phục, một năm sau, vào ngày 13/5/1982, Đức Giáo Hoàng đã đến
hành hương tại Fatima để tạ ơn Đức Mẹ.
Sau này những tổ chức quá khích cũng có mấy lần toan tính ám sát
Đức Giáo Hoàng nhưng lại thất bại. Đặc biệt là lần Đức Giáo
Hoàng thăm viếng Phi Luật Tân lần thứ hai (tháng 12/1995) một tổ
chức Hồi Giáo cực đoan cũng gửi người đến để định ám hại Đức
Giáo Hoàng nhưng bị ngăn chặn kịp thời. Ông Samuel Berger một
thành viên trong Ủy ban duyệt xét về chính sách chống khủng bố
của Hoa Kỳ trước biến cố 9/11, trong bài điều trần vào ngày
24/3/2004, Ông cũng đã nhắc đến tổ chức al-Qualda đã mưu toan ám
sát Đức Giáo Hoàng vào thập niên 90’ nhưng bị khám phá và ngăn
chặn ngay.
Hon 25 Năm Chăn Dắt Đoàn Chiên Chúa:
Trong hon 25 năm trên Ngôi vị Chủ Chăn Giáo Hội Toàn Cầu, đại
diện Chúa Kytô nơi trần gian, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (ngoài
những chuyến công du mục vụ đến các quốc gia) đã làm việc rất
nhiều tại Toà Thánh: tiếp hàng triệu khách hành hương đến Rôma,
cũng như gặp gở riêng các Chính Khách Quốc tế, Ngoại giao đoàn,
các nhân vật nổi tiếng thế giới, các Tổng Thống, Thủ Tướng. . .
Theo truyền thông, báo chí ước lượng : có khoảng 400 triệu người
đã được gặp gỡ Đức Giáo Hoàng qua các buổi Triều Yết Chung hay
Riêng tại Tòa Thánh Vatican hay trong 102 chuyến công du Mục vụ
tính đến nay. Các buổi “triều yết riêng” là khi Đức Giáo Hoàng
gặp riêng các vị lãnh đạo, các nhân vật, hay một phái đoàn nào
đó trong điện Vatican. Còn các buổi “triều yết chung” là khi Đức
Giáo Hoàng xuống Công trường Thánh Phêrô vào khoảng gần trưa
ngày thứ tư (hàng tuần khi Ngài có mặt tại Toà Thánh) để gặp gở
chung các phái đoàn hành hương đến thăm và tụ tập tại Công
trường trước Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (ngay dưới cửa sổ văn
phòng làm việc của Đức Giáo Hoàng). Trong suốt 25 năm trên Ngôi
Giáo Hoàng, Ngài đã tiếp xúc với trên 17 triệu khách hành hương
trong 1112 buổi tiếp kiến chung ( Theo Hãng Tin Zenit 17/12/03).
Ngoài ra Ngài còn viết rất nhiều Bài Giảng và các bài Huấn dụ
cho các buổi Triều Yết Chung, cho các Hội Nghị Giám Mục. . . hay
các bài diễn thuyết tại các Hội Nghị quốc tế, hay hai lần tại
Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc để cổ võ Hoà Bình Thế Giới (vào các
năm 1979 và 1995), tại Trụ Sở Liên Hiệp Âu Châu (EU) để ngỏ lời
với các nhà Lãnh Đạo Âu Châu (1988), tại Quốc Hội Ý
(14/11/2002). Đức Giáo Hoàng còn viết 14 “Thông Điệp”
(Encyclicals), 15 “Tông Huấn” (Apostolic Exhortations); 14 “Tông
Thư” (Apostolic Letters) tính cho đến nay. Thông Điệp là các văn
thư quan trọng gửi đến toàn thể các Đức Giám Mục toàn cầu đề cập
đến những “Tín Điều” quan trọng như Thông Điệp “Đấng Cứu Chuộc
Nhân Loại” (Redemptoris Hominis) hay Thông Điệp về “Bí Tích Mình,
Máu Thánh Chúa” (Eclesia de Eucharistia). Tông Huấn là các văn
thư có tính cách chỉ dẫn mục vụ gia đình, xã hội, giới trẻ, công
tác xây dựng hòa bình. v. v.. . Tông Thư là các sứ điệp đề cập
đến các đề tài quan trọng về các sinh hoạt trong Giáo Hội (mới
nhất vào tháng 10/2002 về “Kinh Mân Côi Kính Đức Trinh Nữ Maria”
“Rosarium Virginis Mariae” để khai mạc Năm Mân Côi từ tháng
10/2002 đến tháng 10/2003 và lập thêm Ngắm “Năm Sự Sáng”). Ngoài
ra, Ngài đã hoàn tất và ban hành “Bộ Giáo Luật Mới” (1983) sửa
đổi Bộ Giáo Luật Củ theo Tinh Thần Cộng Đồng Vaticanô II và cuốn
“Giáo Lý Công Giáo” mới (1992).
Ngài cũng làm thơ và viết những cuốn sách có giá trị như cuốn
“Bước Qua ngưỡng Cửa Hy Vọng” để chuẩn bị nhân loại bước qua Năm
2001, qua một Thế Kỷ Mới và một Thiên Niên Kỷ Mới.. .
Ngài đã suy tôn nhiều Vị Thánh và Chân Phước nhất trong lịch sử
Giáo Hội: 476 Vị Thánh, 1314 Vị Chân Phước, trước Ngài chỉ có
300 Vị Thánh và 1310 Vị Chân Phước các Đức Giáo Hoàng Tiền Nhiệm
đã suy tôn.
Ngài đã phong 201 Vị Hồng Y. Hiện nay Hồng Y Đoàn có 164 vị còn
sống trong đó có 144 vị do Ngài tấn phong (thêm nhiều các vị
Hồng Y thuộc các dân tộc khác nhau). Việt Nam hiện nay đã có 2
Đức Hồng Y (sau khi Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã qua đời) Phạm
Đình Tụng và Phạm Minh Mẫn.
Bảo vệ giá trị và nền tảng gia đình
Một trong các vấn đề Cộng Đồng Vaticanô II quan tâm là bảo vệ
giá trị và nền tảng gia đình, và vai trò của giới trẻ trong thế
giới và xã hội đương thời đang bị ảnh hưởng xấu của các trào lưu
Vô Thần, trọng vật chất. Vì thế Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II,
qua các bài giảng và Thơ Mục Vụ, đã mời gọi mọi người, nhất là
các bậc cha mẹ, các thủ lãnh quốc gia và các cơ quan xã hội phải
lưu tâm giúp đở các trẻ em, các gia đình nghèo khó và tiếp tay
nhau bảo vệ giá trị gia đình. Chính Ngài, qua các chuyến công du
mục vụ đi các nước, Ngài đã cổ võ điều đó.
Qua Sắc lệnh ngày 09/05/1981, Ngài đã thành lập “Hội Đồng Giáo
Hoàng Về Gia Đình” để các vị có trách nhiệm nghiên cứu và đưa ra
các phương thế cứu vãn giá trị gia đình chống lại các trào lưu
làm băng hoại gia đình, như luyến ái tự do, ly dị, phá thai,
đồng tính luyến ái, hôn phối đồng phái (nam lấy nam, nữ lấy nữ)
đang được một số nhà lãnh đạo và quan tòa chấp nhận . . . Từ năm
1994 Ngài đã thành lập “Hội Nghị Thế Giới Về Gia Đình” (World
Meeting of The Families) được tổ chức 3 năm một lần tại các nước
khác nhau trong các lục địa khác nhau: năm 1994 tại Rôma
(Italy); năm 1997 tại Rio de Janeiro (Brazil); năm 2000 tại Rôma
(Italy); năm 2003 (tháng Giêng) tại Manila (Phi Luật Tân), (Hội
nghị tại Manila đã quy tụ được hơn 5.000 đại biểu các gia đình
từ các quốc gia khắp Năm Châu về hội thảo, trong đó có sự tham
dự của 39 Hồng Y, 25 Giám Mục, 500 Linh Mục và một số chức sắc
các tôn giáo bạn).
Dặc biệt lưu tâm đến giới trẻ.
Đức Đương Kim Giáo Hoàng cũng đặc biệt lưu tâm đến giới trẻ.
Ngay từ khi còn làm Cha Phó Xứ và giáo sư đại học vào các năm
tại quê hương Balan, Ngài đã sinh hoạt rất gần gủi với giới trẻ
và sinh viên và được họ rất quý mến. Trên Ngôi vị Giáo Hoàng,
vào năm 1985 (Năm Liên Hiệp Quốc tuyên bố là “Năm Giới Trẻ”),
trước hàng ngàn giới trẻ họp mặt tại Rôma, Ngài đã tuyên bố
thành lập “Ngày Giới Trẻ Thế Giới”, thường cứ hai năm một lần
giới trẻ thế giới họp mặt tại một nơi nào đó để cùng nhau gặp
gỡ, chia sẻ, cầu nguyện, vui chơi, hội thảo để trao đổi với nhau
các kinh nghiệm từ các nước khác nhau, để chung tay xây dựng gia
đình và tương lai. Đức Giáo Hoàng thường thân hành đến Chủ tọa.
Đại Hội Giới Trẻ lần đầu tại Rôma; lần thứ hai tại Buenos Aires
(Argentina, 1987); tiếp theo là Santiago de Compostella (Spain,
1989); Czestochova (Balan, 1991); Colorado (Hoa Kỳ, 1993);
Manila (Phi Luật Tân, 1995); Paris (Pháp, 1997); Rôma (Italy,
Năm Thánh 2000); Toronto (Gia Nã Đại, 2002). Lần tới là tại
Cologne (Đức,từ ngày 16/8 đến ngà 18/8/ 2005; đặc biệt lần nầy
cách 3 năm).
Ngoài các điểm hoạt động của Đức Giáo Hoàng trên đây, các sách
vở, báo chí, các cơ quan truyền thanh, truyền hình, mạng lưới
toàn cầu. . . còn đưa ra rất nhiều hoạt động của Đức Giáo Hoàng,
có thể ghi tóm lại các điểm sau đây:
Về giới Lao-Động:
Đức Giáo Hoàng lúc còn trẻ đã sống đời sống lao động vất vả bằng
hai bàn tay và mồ hôi nước mắt của Ngài, nên Ngài rất hiểu rỏ
tình trạng đời sống của dân lao động chân tay. Ngài đã có ảnh
hưởng nhiều trong các phong trào cải tổ lao động trên thế giới.
Ảnh hưởng đó cũng có một tác dụng mạnh mẽ để nâng đở tinh thần
ông Lech Walesa (sinh năm 1943) sáng lập và lãnh đạo phong trào
“Công Đoàn Đoàn Kết” (1980) quy tụ các công nhân từ Gdank và
khắp nước Balan để thành lập phong trào lao động mạnh và đấu
tranh cam go trực diện với Đảng Cộng Sản thời đó, và sau cùng
giúp phần lớn lao làm sụp đổ chế độ Cộng Sản Balan cùng với sự
sụp đổ các chế độ Cộng Sản tại Liên Bang Sô Viết và Đông Âu,
cũng như làm suy sụp ảnh hưởng của phong trào Cộng Sản ở các
nước trên thế giới.
Về Hoạt động cho Nhân Quyền, tự do, và
Hoà Bình trên Thế Giới:
Từ hoạt động cho giới lao động cũng như qua nhiều năm liên tục
hoạt động đối kháng với chủ nghĩa Cộng sản ngay từ khi còn là
linh mục, và góp phần quan trọng làm sụp đổ chế độ Cộng sản,
Ngài đã và đang hoạt động cho Nhân quyền, Tự do và Hoà bình cho
toàn thể thế giới qua các cuộc đi thăm mục vụ các nơi trên thế
giới, nhất là qua hai lần thăm viếng cổ võ nhân quyền trên diễn
đàn Liên Hiệp Quốc (vào các năm 1979 và 1995), lần thăm viếng và
đọc thông điệp tại Trụ sở Liên Hiệp Âu Châu (EU) năm 1988 và dịp
thăm và đọc diễn văn tại Quốc Hội Ý (2002), cũng như qua hoạt
động của Quan Sát Viên thường trực của Tòa Thánh tại liên Hiệp
Quốc và qua các hoạt động tích cực của Hội Đồng Giáo Hoàng về
Công Lý và Hoà Bình mà Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã có thời
làm Phó Chủ Tịch (1993) rồi Chủ Tịch (2000).
Qua các hoạt động trên đây, và qua các hoạt động liên tục của
Hội Đồng Giáo Hoàng về Di Dân và Du Mục của Toà Thánh, Đức Giáo
Hoàng cũng giúp đỡ cách riêng cho việc cổ võ Liên Hiệp Quốc và
các nhà lãnh đạo các quốc gia đón nhận và giúp đỡ các đợt người
phải di cư đến các nước vì lý do chiến tranh hay bị đàn áp, nhất
là các di dân khỏi các nước Cộng sản như người Việt Nam chúng
ta.
Về Hoạt động Liên Tôn:
Trong khi đó Ngài cũng đẩy mạnh hoạt động đối thoại với các tôn
giáo bạn và tìm cách nối kết sự thông hiệp với các Giáo Hội Kytô
Giáo khác như: Chính Thống Giáo, Anh Giáo.. . Ngài đã đến thăm
viếng Hội Đường Do Thái Giáo ở Rôma ngày 13-4-1986 và khi Hành
Hương Năm Thánh 2000 đến Đất Thánh (Holy Land, Do Thái) Ngài đã
đến cầu nguyện ở Bức Tường Khóc là nơi Thánh Thiêng của Do Thái
Giáo. . . trong nổ lực “Đối thoại Liên Tôn”, Ngài đã cho tổ chức
ngày cầu nguyện cho Hoà Bình Thế Giới và sự cảm thông giữa các
Dân Tộc và Tôn Giáo, tại Assisi (Ý, quê hương Thánh Phanxicô Khó
Khăn, tác giả bài “Kinh Hoà Bình” đã nổi tiếng cả thế giới qua
bao thế kỷ). Chính Ngài đã thân hành đến cùng cầu nguyện với các
nhà lãnh đạo các tôn giáo khác (vào các năm 1986, 1993, 2002).
Về Họat động Canh Tân:
Trong sinh hoạt nội bộ Giáo Hội, Ngài là vị Giáo Hoàng có tinh
thần canh tân, mở rộng giáo triều. (Ngài đã phong thêm nhiều các
vị Hồng Y từ các quốc gia khác nhau trên thế giới, đặt nhiều vị
thuộc các sắc tộc làm việc tại giáo triều như Đức Hồng Y Nguyễn
Văn Thuận Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hoà Bình; Đức Hồng Y
Francis Arinze (Nigeria, Phi Châu) Tổng Trưởng Thánh Bộ Phượng
Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Ngài cũng nhấn mạnh đến vai trò tông đồ
của người giáo dân (Tông Đồ Giáo Dân).
Đối với Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam:
Riêng đối với Quê Hương và Giáo HộI Việt Nam, Đức Đương Kim Giáo
Hòang rất thông cảm hoàn cảnh của ngưới Việt Nam chúng ta. Vì
chính Ngài cũng đã sống và gặp bao nhiêu đau khổ, khó khăn trong
chế độ Cộng Sản Balan. Ngài lên Ngôi Vị Giáo Hoàng sau vài ba
năm Cộng Sản lấn chiếm Miền Nam, Campuchia và Ai Lao. Sau đó
cuộc vượt biên lớn lao và đầy dũng cảm của người Việt Nam đã làm
cho thế giới phải cảm động. Lúc đó Đức Giáo Hàng đã kêu gọi các
chính phủ và các giáo hội các nơi rộng tay đón tiếp người tị nạn
Cộng Sản của chúng ta, nhất là tại Hoa Kỳ. Cùng lúc đó, để tỏ
lòng yêu mến và nâng đỡ tinh thần Giáo hộI Việt Nam, Đức Giáo
Hoàng đã chọn một Linh Mục Việt Nam làm bí thư cho Ngài; đó là
Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ. Rồi Ngài đặt Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận làm Phó Chủ Tịch (1993) rồi làm Chủ Tịch (2000)
Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình, và ban tước Hồng Y
sau đó. Mới đây Ngài lại ban tước Hồng Y cho Đức Tổng Giám Mục
Sài Gòn Phạm Minh Mẫn (21/10/2003). Đó là Vị Hồng Y Tổng Giám
Mục tiên khởi của Tổng Giáo Phận Sài Gòn. Như vậy là từ nay Giáo
hộI Việt Nam có hai Vị Hồng Y.
những lờI chúc mừng và cảm tạ tri ân
Tóm lại, Đức Đương Kim Giáo Hoàng là một “Người của Thời Đại”
chẳng những cho Giáo Hội Công Giáo mà còn cho cả thế giới chúng
ta. Một người đã được Thánh Linh Thiên Chúa chọn vào “đúng chỗ”
“đúng lúc”. Một người ham hoạt động, trí khôn minh mẫn, giỏi
ngoại ngữ, giàu kinh ngiệm cần thiết: kinh nghiệm về lao động
(vất vả làm việc và học hành từ còn nhỏ); kinh nghiệm về cảnh
lầm than của con người trong chiến tranh (Thế Chiến II), về sự
tàn bạo của các chế độ độc tài (thời Đức Quốc Xã); kinh nghiệm
về Cộng Sản Vô Thần (thời Cộng sản); kinh nghiệm về các trào lưu
xã hội đang đe dọa nền tảng gia đình và nhân phẩm của con người
và nhu cầu Giáo Hội đang phải đối diện và cấp thiết giải quyết
cho chính Giáo Hội và Thế Giới (qua gặp gỡ và học hỏi trong Cộng
Đồng Vaticanô II). Ngài đúng là “Vị Giáo Hòang để đưa Giáo Hội
vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba” như tiên đoán của Đức Hồng Y Wiszynski
(Tổng Giám Mục Thủ Đô Varsovie, Balan) khi tiển chân Ngài về
Rôma bầu Giáo Hoàng vào tháng 9/1978. Ngài là vị Giáo Hoàng biết
“nhìn xa, trông rộng” và như Thủ Tướng Đức Gerhard Sehroeder
trong điện văn chúc mừng Ngài nhân dịp Mừng 25 Năm trên ngôi
Giáo Hoàng đã ca ngợi: “... Ngài đã mở ra một chân trời mới và
gia tăng đối thoại để góp phần vàoviệc giảm bớt những xung đột
và tạo nên niềm thông cảm hơn trên thế giới . . . “ Tổng Thống
Hoa Kỳ George Bush, Nữ Hoàng nước Anh, Thủ Tướng Anh (Tony
Blair) và nhiều vị lãnh đạo các quốc gia, các tôn giáo cũng đã
viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại Vatican và ca ngợi cũng như cám ơn
Đức Giáo Hoàng về những đóng góp của Ngài cho nền Hoà bình thế
giới, cho công lý và nhân quyền ở các quốc gia. . . Tổng Thống
Hoa Kỳ Bill Clinton trước đây vào tháng 8/1993 khi đón tiếp Đức
Giáo Hoàng sang thăm Hoa Kỳ (nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ Công giáo
Thế Giới tại Denver, Colorado) đã ca ngợi Đức Giáo Hoàng “là Nhà
lãnh đạo tinh thần có đời sống thật thánh thiện. . . và là người
điều hành nền hòa bình và công lý giữa các dân tộc, trong đó có
Hoa Kỳ” và cám ơn Đức Giáo Hoàng về những việc Ngài đã làm để
nâng cao đời sống tinh thần của thế giới và đất nước Hoa Kỳ. Đặc
biệt Cựu Chủ tịch Liên Bang Sô Viết trước đây, một “Cựu lãnh tụ
Cộng sản biết “hồi tâm”, Mikhail Gorbachev đã đến thăm viếng Đức
Giáo Hòang nhiều lần tại Vatican và ca ngợi Đức Giáo Hoàng là
“Khuôn mặt lớn nhất của Thời đại” và thú nhận “những gì đã xảy
ra tại Đông Âu (sự xụp đổ của chế độ Cộng sản tại Liên Bang Sô
Viết và Đông Âu) đã không thể xảy ra nếu không có sự đóng góp
lớn lao và ảnh hưởng tinh thần của Đức Giáo Hoàng” (đăng trong
New York Times March 9, 1993). Tuy nhiên theo tạp chí Life (Dec
1989) thì Đức Giáo Hoàng không phải chỉ chống lại chủ nghĩa
“Cộng sản Vô Thần” ở Đông Âu và trên thế giới, nhưng Ngài cũng
đem cả tâm lực để chống lại những trào lưu và chủ nghĩa tư bản
duy vật chất của thế giới ngày nay, vì cả chủ nghĩa Cộng sản và
Tư bản đều bất công, đi ngược lại giá trị nhân bản và phẩm giá
con người.
Tờ Báo Time số cuối năm 1994 đã chọn Đức Giáo Hoàng là “Nhân Vật
của Năm 1994”, đăng hình Ngài trên trang bìa và đăng nhiều bài
của nhiều vị lãnh đạo quốc gia và tôn giáo ca tụng Đức Giáo
Hoàng và coi Đức Giáo Hoàng không phải chỉ là nhà lãnh đạo tinh
thần riêng cho hơn hai tĩ người Kitô hữu (Công giáo và Tin lành)
mà còn chung cho cả thế giới, vì Ngài đóng góp lớn lao vào sự
phục hồi đời sống Tinh thần và Luân lý của thời đại chúng ta
đang bị suy vi vì ảnh hưởng trần tục.
Họa sĩ Đại Hàn Han Jang Hyeun (1941-2002), người họa sĩ nổi danh
vẽ chân dung các nhân vật nổi tiếng như Winston Churchill
(1957), Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1965), vào năm 2000 đã họa ba
bức chân dung Đức Đương Kim Giáo Hoàng trên lụa diễn tả Ngài như
một vị “Tông Đồ Hoà Bình”. Ngòai ra còn rất nhiều Tem Thơ tại
Vatican và Ý mang các hình ảnh khác nhau của Đức Giáo Hoàng. Tại
Balan, quê hương của Ngài, đã có nhiều Quảng trường, đường phố,
trường học mang tên Đức Giáo Hoàng, cũng như các tượng đài để
vinh quang Ngài. Nhân dịp kỷ niệm 25 năm trên Ngôi Giáo Hoàng,
Chính phủ Ý đã truy tặng Đức Giáo Hoàng huy chương vàng để ghi
công Ngài về những đóng góp lớn lao của Ngài cho nền văn hóa Ý.
Tổng lược các hoạt động của Ngài sau 25 năm, Bình Luận gia Tracy
Wilkinson viết trên tờ Los Angeles Times nhân dịp Ngân Khánh
Giáo Hoàng của Ngài như sau: “Phải tốn nhiều năm, các học giả
mới có thể phân tích thấu đáo gia sản của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phalô II. Ngài đã viết bao văn kiện và thông điệp, đã du hành
hơn 725.000 dặm, tương đương với 29 lần vòng quanh trái đất, đã
phong hiển thánh cho hơn 400 vị, và như vậy quan niệm về sự
thánh thiện được mở rộng. Ngài thật sự là Vị Giáo Hoàng đã
thay đổi thế giới Ngài sống và thay đổi Giáo Hội Ngài dẫn dắt”.
Còn Ông George Weigel, người viết nhiều về cuộc đời của Đức Giáo
Hoàng, gọi Ngài là “Chứng nhân tuyệt vời của Thời Đại Chúng Ta”.
Tờ Wall Street Journal thì gọI Ngài là một “khuôn mặt siêu vời
trong một thế giới hữu hạn” (Trancendent Figure in a Finite
World).
Phụ đề
Bổn phận cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng:
Bề ngoài chúng ta thấy các Đức Giáo Hoàng do Mật hội Hồng Y đoàn
bầu lên (các vị Hồng Y dưới 80 tuổi). Tuy nhiên, chính Thiên
Chúa qua hoạt động của Chuá Thánh Thần đã chọn các Ngài. Trong
số 12 Tông đồ, chính Chúa Giêsu đã chọn Thánh Phêrô, ngay cả
trước khi Thánh Phêrô hiểu được chức vụ và bổn phận thật lớn lao
cao cả của mình: ‘Phêrô Con là Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ Xây
Giáo Hội của Thầy. ..’ (PÂ Mathêu 16:18. ..). Và Chúa chọn Phêrô
ngay cả khi Chúa biết và báo cho Phêrô biết Phêrô chỉ là một con
người ‘yếu đuối’ sẽ chối Chúa tới cả ba lần; nhưng Chúa đã hứa
với Thánh Phêrô ngay trong lúc đó là Chúa sẽ cầu nguyện đặc biệt
cho Thánh Phêrô ‘khỏi mất đức tin’ và chu toàn bổn phận Chủ Chăn
(PÂ Luca 22:31... ). Sau khi sống lại và hiện ra với các Tông
đồ, và trong lần hiện ra giúp các Ngài đánh được mẻ lưới lạ
lùng, Chúa Giêsu đã thực sự trao quyền Chủ Chăn (Giáo Hoàng) cho
Thánh Phêrô trước mặt các Tông đồ khác, ngay trên bờ Biển Hồ
Tibêria, trong một hoàn cảnh đơn sơ nhưng bằng những lời rất cảm
động. Ngày nay đọc lại những lời ấy, chúng ta, những tín hữu của
Chúa, cũng vẫn thấy xúc động. Ba lần trao quyền ‘Chăn dắt đoàn
Chiên Con, Chiên Mẹ’ của Chúa nơi thế gian cho Thánh Phêrô, Chúa
Giêsu đã hỏi đi hỏi lại Thánh Phêrô tới ba lần: ‘Phêrô, Con có
yêu mến Thầy không?...’. Cả ba lần Thánh Phêrô đều khẳng định:
‘Con yêu mến Thầy... Thầy biết hết mọi sự, Thầy biết Con yêu mến
Thầy...’ (PÂ Gioan 21:15...)
Chúa Giêsu đã muốn Thánh Phêrô nhắc đi nhắc lại tới ba lần lòng
mến yêu của Thánh Phêrô đối với Chúa, song song với ba lần trao
nhiệm vụ Chăn dắt đoàn chiên Chúa cho Ngài. Đây có thể là để bù
lại ba lần Phêrô đã chối Chúa (cả bốn PÂ đều thuật lại điều này)
ngay trong đêm Chúa Giêsu bị ‘trao nộp’. Cũng có thể là lời thề
ba lần ‘Trung tín’ trong Nghi thức ‘Trao quyền’ thời xưa tại
vùng Trung Đông. Nhưng dầu sao, điều đó cũng cho ta thấy lòng
yêu mến Chúa trung kiên là điều rất quan trọng và cần thiết của
người được Chúa chọn và ban quyền Chăn dắt đoàn Chiên Chúa nơi
trần gain...Và ngay sau đó Chúa đã hé mở cho Thánh Phêrô biết
‘Thánh Giá’ mà vị ‘Chủ Chăn’ thay mặt Chúa nơi trần gian sẽ phải
vác trong suốt cuộc đời chăn dắt đoàn Chiên Chúa...nhưng ‘hãy
theo Thầy’ (PÂ Gioan 21:18...). Cũng chính vì nhiệm vụ quan
trọng và khó khăn như vậy, nên trước đó Chúa đã hứa với Thánh
Phêrô: ‘Thầy sẽ cầu nguyện cho Con để Con khỏi mất đức tin...và
sau đó hãy làm kiên vững đức tin của anh em Con...’ (PÂ Luca
23:31....).
Cầu nguyện cho các vị Chủ chăn, nhất là Đức Giáo Hoàng, vẫn là
nhiệm vụ của mỗi tín hữu chúng ta. Trong các Thánh Lễ, các giờ
Kinh Phụng Vụ, các giờ Chầu Mình Thánh Chúa... vẫn có những lời
cầu nguyện riêng cho Đức Giáo Hoàng đang điều hành Giáo hội.
Hằng ngày chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cho Đức Đương Kim Giáo
Hoàng. Ngài nhận được biết bao nhiêu những lời vinh danh, ca
tụng; nhưng cũng phải âm thầm chịu đựng bao nhiêu những thử
thách, khổ đau, lo lắng cho toàn thể Giáo hội. Nhất là trong
thời đại chúng ta, có biết bao nhiêu những phong trào ‘tự do quá
trớn’ đòi Giáo hội phải ‘Cởi Mở’ chiều theo những thị hiếu của
trần tục; như luyến ái tự do, ly dị, phá thai, ‘kết hôn đồng
tính’ (same sex marriages), ‘phụ nữ làm Linh Mục’ ‘Linh Mục lập
gia đình’. .. Ngài là Vị Chủ Chăn Chính, đại diện Chúa Kytô nơi
trần gian, Ngài phải luôn ‘ Kiên Vững trong đức tin’ và gìn giữ
Giáo hội luôn là ‘Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và
tông truyền’ (Kinh Tin Kính), luôn đi theo đường lối của Chúa...
Vì thế Ngài cũng gặp biết bao ‘áp lực’ từ nhiều phía khác nhau.
Ngay trong Giáo hội cũng luôn luôn có hai khuynh hướng khác nhau
và ‘ngược nhau’: một khuynh hướng tạm gọi là ‘truyền thống’
(traditionalism) hay ‘bảo thủ’ và một khuynh hướng tạm gọi là
‘tiến bộ’ (progressivism) hay ‘cởi mở’. Khuynh hướng ‘truyền
thống’ thì phê bình là Giáo hội sau Cộng Đồng Vaticanô II đã đi
quá nhanh, quá vội vã, ‘cấp tiến’ và đánh mất dần tính cách
‘tông truyền’ tốt đẹp của Giáo hội về Phụng vụ, về Giáo luật.
v.v... Khuynh hướng ‘tiến bộ’ thì kết án là Giáo hội đi quá
chậm, thiếu ‘cởi mở’, thiếu ‘thông cảm’, thiếu ‘sống động’ để
thu hút con người thời đại, nhất là giới trẻ. Đức Giáo Hoàng
luôn phải gìn giữ Giáo hội luôn ‘Kiên Vững’ trong đường lối
Chúa, không ‘bảo thủ’, cũng chẳng ‘cấp tiến’ (nhưng đó là vấn đề
lớn chúng ta sẽ bàn sau). Chúng tôi chỉ nêu ra như vậy để chúng
ta thấy rõ những ‘lo toan’ và ‘gánh nặng’ của Đức Giáo Hoàng để
hàng ngày nhớ dâng các hy sinh, hảm mình cầu nguyện cho Đức Giáo
Hoàng; nhất là Đức Đương kim Giáo Hoàng sắp sang 85 tuổI
(18-5-2005) và sức khỏe giảm sút vì bệnh tật.
Đức Giáo Hoàng có thể từ chức không?:
Đức Giáo Hoàng có nên từ chức không? Đó là câu hỏi nhiều người
đặt ra. Bộ Giáo Luật Mới (1983) dự trù điều Đức Giáo Hoàng có
thể từ chức (Giáo Luật 3332). Tuổi có thể từ chức của các Đức
Giám Mục là 75 (Giáo Luật số 401), nhưng không xác định tuổi của
Đức Giáo Hoàng. Nếu một Đức Giáo Hoàng quá già yếu, Ngài không
thể nào chu toàn nhiệm vụ rất khó khăn của Ngôi Vị Giáo Hoàng;
tuy nhiên nếu Ngài từ chức cũng có nhiều vấn đề đặt ra. Vào năm
2000, một tổ chức lớn ở Ý, chuyên làm các cuộc thăm dò dư luận,
đã làm một cuộc thăm dò ở Ý xem Đức Giáo Hoàng có nên từ chức
không. Kết qủa là 90% người Ý nói Đức Giáo Hoàng không nên từ
chức. Trong lịch sử Giáo Hội, vào năm 1294, Đức Giáo Hoàng
Celestin (1215-1296) đã từ chức. Điều này đã làm cho nhiều người
không bằng lòng; trong đó có Văn Hào người Ý rất nổi tiếng Dante
(Dante Alighieri 1265-1231). Ông đã thật sự bất bình; vì thế
trong một tác phẩm của Ông về Thiên Đàng và Hỏa Ngục, Ông đã xếp
Đức Celestin vào số những người ở hỏa ngục! Tuy nhiên Giáo hội
đã suy tôn Vị Giáo Hoàng này (cũng là một tu sĩ rất thánh thiện)
như một vị hiển thánh vào năm 1313 (Phỏng theo Cha Paul Conry,
C.SS.R).
Công Việc Thăm Viếng Mục Vụ của các Đức
Giáo Hoàng:
Trước khi kết thúc bài này bằng Bảng Liệt Kê các quốc gia và các
hải đảo mà Đức Đương Kim Giáo Hoàng đã thăm viếng mục vụ trong
25 năm trên ngôi vị Giáo Hoàng, chúng tôi xin ghi lại một điều:
Giáo Hội của Chúa luôn là Giáo Hội “lữ hành”. Chúa Giêsu trong
đời truyền giáo, Ngài đã luôn “trên đường đi” để đến với mọi
người: đến với các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái đương thời (dù
họ chống đối Ngài); đến với người nghèo khổ, bệnh tật, người tội
lỗi... đến với người Xứ Samaria, đến nói chuyện với người đàn bà
Xứ Samaria bên bờ giếng Giacob dù biết là bà đã có cả năm đời
chồng. . . (xin xem Phúc Âm Gioan, đoạn 4). Chúa Giêsu cũng đã
sai các Tông đồ “ra đi” để mang Tin Mừng Cứu rỗi cho mọi người,
mọi nơi (PÂ Matcô 16:15) và các Ngài đã ra đi từ Quê Hương Do
Thái qua các ngã đường đến với các dân tộc. . . và hai vị Tông
đồ Phêrô và Phaolô đã đến tận Thủ Đô Đế Quốc Rôma rao giảng và
sẵn sàng tử đạo để làm chứng cho Chúa: Thân xác các Ngài đã được
an táng tại đó (Mộ Thánh Phêrô dưới nền Đại Thánh Đường Thánh
Phêrô; Mộ Thánh Phaolô dưới nền Đền Thờ Đại Thánh Đường Thánh
Phaolô, Ngoại Thành Rôma). Các Đức Giáo Hoàng tiếp theo đều đã
sống và chết (nhiều vị đã tử đạo) tại Thánh Đô này. . . Rôma đã
trở nên “Thành Thánh” là “Trung Tâm Truyền Giáo” của Giáo Hội
Chúa. Trải qua bao thế kỷ bị “bách hại” một cách tàn bạo do các
Hoàng Đế Rôma như Néron (37-68), Chúa vẫn gìn giữ Giáo Hội vượt
qua mọi sự bách hại tàn bạo đó và tồn tại, và phát triển. Trong
khi Đế Quốc Rôma dù có tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử Thế
giới, nhưng cũng đã sụp đổ và bây giờ chỉ còn là “vang bóng một
thời”. Chúa Giêsu bảo đảm với Thánh Phêrô, Vị Giáo Hoàng đầu
tiên của Giáo Hội: “Con là Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo
Hội của Thầy và không sức mạnh nào có thể thắng được. . . “ (PÂ
Matthêu 16:18).
Sau khi Đế Quốc Rôma đã tan rã (476) và trải qua bao nhiêu thăng
trầm của lịch sử, nhiều quốc gia đã được thành lập. Sau này Rôma
đã trở nên Thủ Đô của nước Ý (1870) và ngày 11/02/1929 nước Ý đã
nhường Khu vực Vatican (Vatican City) cho Giáo Hội theo hiệp ước
Latran, và được gọi là “Toà Thánh Vatican” (L’Etat de la Cité du
Vatican) hay còn gọi là “Nước Đức Giáo Hoàng” (Papal State). Một
“quốc gia” nhỏ nhất thế giới với lãnh thổ chỉ có 44 mẫu đất
(hectares) (440.000 mét vuông), nhưng có ngoại giao đoàn gồm các
Đặc Sứ các nước bang giao với Toà Thánh. Cũng có các người lính
canh thường gọi “Lính Thụy Điển” (Swiss) vì được tuyển mộ từ các
thanh niên Thụy Điển; cũng có Nhà Bưu Điện và Tem Thư riêng. Các
vị làm việc thường trực ở đây cũng là “Công dân Vatican”.
Tuy nhiên, đó chỉ là một “lãnh thổ” đặc trưng cho trụ sở của
Giáo Hội nơi Trần Gian mà Đức Giáo Hoàng sinh sống và làm việc
cùng với các “Cộng sự viên” là các vị Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục
làm việc tại các Thánh Bộ, Đền Thờ Thánh Phêrô, Viện Bảo Tàng
Vatican, các dinh thự tại Vatican. . .
Thực ra Đức Giáo Hoàng là “Giám Mục” của Giáo Phận Công Giáo
Rôma và cũng là Vị Chủ Chăn chính đại diện Chúa Kytô trên trần
gian và Điều Hành Toàn Thể Giáo Hội Chúa. Vì thế, việc Ngài phải
đi thăm viếng mục vụ “đến với” mọi người là cần thiết. Tuy
nhiên, trong nhiều thế kỷ trước, các phương tiện giao thông chưa
có thể nhanh chóng như ngày nay, và Đức Giáo Hoàng không thể
vắng mặt lâu dài tại Toà Thánh. Hơn nữa những biến cố lịch sử
trong quá khứ, nhất là tại các nước Âu Châu vào thời trung cổ và
cận đại, đã là trở ngại lớn cho việc các Đức Giáo Hoàng di
chuyển ra khỏi Rôma. Ngay cả việc bầu các Đức Giáo Hoàng cũng
phải họp trong “phòng khóa kín” (theo tiếng Latinh là “Cum
Clave”) để khỏi bị ảnh hưởng từ bên ngoài do các vị Hoàng Đế Âu
Châu lúc đó luôn muốn vị Giáo Hoàng được chọn thuộc về quốc gia
của mình. (Những sự kiện lịch sử đó chúng ta sẽ có dịp nói đến
sau).
Sau Cộng Đồng Vaticanô II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1975)
thấy hoàn cảnh đã thuận tiện, nên Ngài đã thực hiện các cuộc
thăm viếng Mục Vụ ra ngoài nước Ý được 6 lần, để mở lại nếp sống
truyền giáo là “được sai đi để đem Tin Mừng cứu dộ đến cho mọi
người và mọi nơi”. Tiếp tục tinh thần đó, Đức Đương Kim Giáo
Hòang đã công du Mục Vụ ra ngoài nước Ý được 102 lần, trong 25
năm, như vị Mục Tử của toàn thể Giáo Hội và thế giới, để thăm
viếng 129 quốc gia khắp năm Châu khởi đầu từ chuyến công du
Mexicô (năm 1979). Tính theo hành trình thì Ngài đã đi hơn hàng
triệu dặm, bằng đi 29 lần vòng quanh trái đất, hoặc 3 lần đi lên
mặt trăng và đi về. Trong mỗi cuộc viếng thăm như vậy, số người
đến gặp gỡ hoặc tham dự thường hàng nhiều trăm ngàn người. Cộng
lại trong 102 chuyến viếng thăm, khoảng 200 triệu người đã đến
tham dự các buổi lễ và hàng tỉ người tham dự qua truyền hình.
Nếu cộng chung với các cuộc lễ tại nước Ý và Rôma thì khoảng 400
triệu người đã tham dự.
Các Quốc Gia Đức Giáo Hoàng Đã Thăm
Viếng Mục Vụ Trong 25 Năm Trên Ngôi Vị Giáo Hoàng:
Sau đây chúng tôi xin gửi đến quý vị và các bạn Bảng Danh Sách
các quốc gia, các quần đảo Đức Giáo Hoàng đã đến thăm viếng mục
vụ trong 25 năm. Có nhiều nơi Đức Giáo Hoàng đã viếng thăm nhiều
lần (có khi chỉ là nơi dừng chân). Những niên hiệu bên cạnh
là lần thăm đầu. Chuyến công du đầu tiên (ngoài nước Ý) là
Mexico và Dominican Republic (từ ngày 25/01 đến ngày
01/02/1979)(Chỉ hơn 4 tháng sau khi Ngài lên Ngôi Vị Giáo
Hoàng-16/9/1978).
MỸ CHÂU :
Mexico (1979) - Cộng Hoà Dominican (1979) - Bahamas (1979) - Hoa
Kỳ (1979) - Ba Tây (1980) - Argentina (1982) - Costa Rica (1983)
- Nicaragua (1983) - Panama (1983) - El Salvador (1983) -
Guatemala (1983) - Belize (1983) - Hondura (1983) -Haiti (1983)
- Canada (1984) - Dominican Republic (1984) - Puerto Rico (1984)
-Venezuela (1985) - Ecuador (1985) - Peru (1985) - Trinidad
(1985) - Tobago (1985) -Uraguay (1987) - Chile (1987) - Bolovia
(1988) - Paraguay (1988) - Curacao (1990) -Jamaica (1993) - Cuba
(1998).
Á CHÂU :
Phi Luật Tân (1981) - Guam (1981) - Nhật Bổn (1981) - Nam Hàn
(1984) - Papua New Guinea (1984) - Solomon Island (1984) - Thái
Lan (1984) - Ấn Độ (1986) - Colombia (1986) - Tân Gia Ba (1986)
- Bangladesh (1986) - Quần đảo Seychelles (1986) - Lebanon
(1987) - Mandagasca (1989) - Nam Dương (1989) - Đông Timor
(1989) - Mauritius (1989) - Cape Verde (1990) - Sri-Lanka (1995)
- Jordan (2000) - Do Thái (2000) - Palestina (2000) - Arabia
(2000) - Syria (2001) - Kazakstan (2001) - Armenia (2001).
ÚC CHÂU :
Úc Đại Lợi (1986) - Tân Tây Lan (1986) - Fiji (1986).
PHI CHÂU :
Zaire (1980) - Repubic of Congo (1980) - Kennya (1980 - Gahna
(1980 - Uppa Volta (1980) - Ivory Coast (1980) - Nigeria (1982)
- Benin (1982) - Gabon (1982) - Equatorial Guinea (1982) - Togo
(1985) - Kennya (1985) - Morocco (1985) - Zimbabwee (1988) -
Botsmana (1988) - Lesotho (1988) - Swaziland (1988) - Mozambique
(1988) - South Africa (1988) - Madagascar (1989) - Reunion
(1989) - Zambia (1989) - Malawi (1989) - Tanzania (1990) -
Rwanda (1990) - Burundi (1990) - I’vory Coast (Côte d’Ivoire)
(1990) - Senegal (1992) - Gambia (1992) - Guinea (1992) - Angola
(1992) - São Tomé and Pricipe (1992) - Uganda (1993) - Sudan
(1993) - Cameroon (1995) - Kennya (1995) - Tunisia (1996) -
Egypt (2001) - Malta (2001).
ÂU CHÂU :
Balan (1979) - Pháp (1981) - Tây Đức (1981) - Bồ Đào Nha (1982 -
Áo Quốc (1983) - Bỉ Quốc (1985) - Hòa Lan (1985) - Lexembourg
(1985) - Liechtenstien (1985) - Norway (1989) - Iceland (1989) -
Finland (1989) - Denmark (1989) - Czechoslovakia (1990) -
Hungary (1991) - Albania (1993) - Croatia (1994) - Czech
Republic (1995) - Slovakia (1995) - Slovenia (1996) - Bosnia and
Hercegovenia (1997) - Romania (1999) - Georgia (1999) - Ukraine
(2001).
Sau đây chúng tôi xin gửi đến quý vị một bài báo nói về
những cái “nhất” của Đức Giáo Hoàng Phaolô II:
(Trích trong Việt Báo Miền Nam - Kỷ Yếu Xuân - Tết Giáp Thân
2004).
Nhân Vật Tuổi Thân: Vị Giáo
Hoàng Tuổi Thân Làm Đổi Thay Bộ Mặt Thế Giới
Nếu có một người có thể được coi là ‘nhân vật làm thay đổi bộ
mặt thế giới’ trong thế kỷ 20, người đó không là Lenine, Hitler,
Stalin, Mao Trạch Dông mà là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Nhị (John
Paul II). Ngài là người tuổi Thân, sinh vào ngày 18 tháng 5 năm
1920, năm Canh Thân.
Nhân vật này là người mà tên tuổi và sự nghiệp được gắn liền
với nhiều chữ ‘nhất’ hơn hầu hết mọi danh nhân trên thế giới.
John Paul II là vị Giáo Hoàng duy nhất hiện hữu trong truyện
hình hoạt họa (năm 1983, Marvel Comic Bơks xuất bản một cuốn
truyện họat họa về Ngài) và cũng là nhân vật được quen biết
nhiều nhất trên thế gới.
Hình ảnh John Paul II xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới, đã
thăm viếng hầu hết mọi quốc gia của địa cầu (đáng tiếc là việc
Ngài muốn thăm Việt Nam nhân dịp mừng 200 năm linh hiển của Đức
Mẹ La Vang đã bị Hà Nội từ chối).
John Paul II ra đời tại Ba Lan, dưới tên Karol Jozef Wojtyla
(đọc là Voi-Ty-Oa), và làm nhiều nghề nhất trước khi khóac áo
đi tu: làm thợ, làm thơ, duễn kịch và có biệt tài ca hát.
Ngài là vị Giáo Hoàng thế giới ngày nay biết đến như một người
già yếu bệnh tật, và chỉ sống bằng ý chí sắt thép là tranh đấu
cho hòa bình nhân loại. Thực ra, John Paul II là vị Giáo Hoàng
có nhiều sinh hoạt thể thao nhất: Ngài là thủ môn bóng
tròn, bơi thuyền vượt thác, leo núi, và là lực sĩ bơi lội.
Ngài bị bệnh Parkinson sau khi bị mưu sát hụt, lãnh hai viên đạn
và bị ung thư ruột, trong người còn đầy thép để gìn gìữ xương
đùi sau nhiều lần giải phẫu. Cơ thể đó gần như hứng chịu rất
nhiều bệnh tật của nhân thế mà chỉ làm tinh thần đó thêm sáng
suốt, kiên trì.
Sinh ra trong một gia đình bình dân, cha là cựu chiến binh làm
thợ may, mẹ là giáo viên, John Paul II có tuổi thơ bần hàn vất
vả nhưng cũng có kinh nghiệm trực tiếp với cả hai chế độ hà khắc
nhất của Thế kỷ 20 là chế độ Quốc xã và Cộng sản.
Ngài là người thông thái và hiếu học, khi lên lãnh đạo Giáo hội
Công giáo năm 1978, Ngài kết hợp tất cả những kiến thức và sự
khôn khéo để mở ra một cuộc vận động lịch sử cho sự chuyển mình
của Ba Lan vào thập niên 80, dẫn tới sự sụp đổ của Chế dộ Xô
viết vào đàu thập niên 90.
John Paul II cũng là người ra sức canh tân Giáo hội, đã chính
thức bày tỏ sự ăn năn hối lỗi về những sai lầm của Giáo hội
trong quá khứ, nhằm hòa giải với các tôn giáo và sắc tộc khác.
Ngài có tinh thần tiên phong nhất trong sứ mạng hàn gắn
những đổ vỡ với các tôn giáo khác và 5 năm trước đã vào Cuba gặp
gỡ lãnh tụ Fidel Castro để thực tế sửa soạn cho thời hậu Cộng
sản một khi Castro qua đời.
Là vị Giáo hoàng đã bát tuần, di chuyển và ăn nói khó khăn, John
Paul II vẫn là thần tượng của giới trẻ. Sự xuất hiện của Ngài
trong các Đại hội Giới trẻ luôn luôn có không khí vui tươi náo
nhiệt, với sự tham dự của hàng triệu thanh niên thiếu nữ, vượt
xa khung cảnh của các buổi trình diển nhạc trẻ của những tài
danh về nhạc Rock.
John Paul II là người có làm thay đổi bộ mặt của thế giới, và
Ngài tin rằng đó là một ân sủng của Thiên Chúa, phần mình, Ngài
chỉ là một vị chủ chăn trong một giai đoạn thiếu an lành của
loài người.