ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II : THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP


VietCatholic News   02/04

Suốt 26 năm qua, Ðức Gioan Phaolô II đã trở thành một trong những Đức Thánh Cha năng động nhất trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo.

Giáo hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18/5/1920 tại Wadowice, Ba Lan. Khi còn trẻ ngài rất năng động trong mọi lãnh vực: tri thức, hoạt động xã hội, thể thao lẫn kịch nghệ...

Là một chủng sinh trong thời thế chiến thứ hai, Ngài phải học thần học chui và được bí mật chịu chức linh mục ngày 1/11/1946. Sau đó qua Ý học và năm 1948 cha Wojtyla hoàn tất văn bằng tiến sĩ thần học tại Roma.

Từ năm 1948 đến 1951, cha Karol Wojtyla làm linh mục phụ trách giáo xứ ở thủ đô Krakow, một đô thị cổ nổi tiếng của xứ Ba Lan. Ngài nghiên cứu triết học và giảng dạy môn đạo đức học tại học viện Công giáo ở Krakow từ năm 1952-1958, đồng thời cũng là giáo sư tại Đại học Liblin vào năm 1956. Năm 1960 Ngài được Ðức Piô XII bổ nhiệm làm giám mục phụ tá của Tổng giáo phận Krakow và ngày 30/12/1963, Ðức Phaolô VI nâng Ngài lên làm Tổng giám mục cai quản giáo phận Krakow.

Ít lâu sau Ðức Phaolô VI lại nâng Ngài lên làm Hồng y giáo chủ của Ba lan ngày 26/6/1967.

Ngày 16/10/1978 Ngài đã trở thành người kế nhiệm Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ I, vị giáo hoàng của vầng trăng vì triều đại Ngài vỏn vẹn 33 ngày.

Đây là vị Giáo hoàng đầu tiên không phải là người Ý trong suốt 600 năm kể từ thời Giáo hoàng Hadrian VI (1459-1523). Ngài đã chọn tên hiệu là Gioan Phaolô II.

Ngài là một văn thi sĩ, là một triết gia, một nhà huyền bí, một linh mục, một giám mục, một Tổng Giám Mục, một Hồng Y, một nhà giảng thuyết và là một vị Giáo hoàng có tầm ảnh hưởng bao trùm toàn cầu... Mà nhà viết hồi ký George Weigel gọi Ngài “không đơn thuần là một con người của thế kỷ, mà là một vị tiên tri của kỷ nguyên mới”.

Thật vậy cả thế giới biết tới Ngài, mang ơn Ngài là Người đã đóng vai trò chủ động trong việc làm cho thể chế Cộng Sản sụp đổ tại Âu Châu. Là gạch nối liên kết và hòa giải những tranh chấp giữa các quốc gia dân tộc, là linh hồn của giới trẻ toàn cầu, đặc biệt trong những ngày Ðại Hội Giới trẻ Quốc tế hay những cuộc công du tới các quốc gia. Ngài đã được trao tặng Gỉai Nobel, giải thưởng Hòa Bình, một gỉai thưởng cao qúi nhất.

Ngài là vị Giáo hoàng trị vì lâu thứ ba trong lịch sử Giáo Hội sau Thánh Phêrô. Thánh Phêrô đã trị vì Giáo Hội 34 năm, còn triều đại Ðức Gioan Phaolô II kéo dài 26 năm, 5 tháng và 17 ngày. Ngài là vị Giáo Hoàng đã siêu việt vượt xa tất cả mọi vị Giáo Hoàng trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Ngài đã thực hiện 104 chuyến công du quốc tế, đặt chân đến 129 quốc gia khắp năm châu bốn bể và bay tổng cộng 27 lần vòng quanh trái đất. Riêng trong nước Ý Ngài thực hiện 146 chuyến viếng thăm mục vụ.

Ngài đã tôn phong 482 vị Hiển Thánh và 1,338 Chân Phước nhiều hơn tất cả số các vị đã được phong thánh trong lịch sử Giáo Hội từ trước tới giờ cộng lại. Ngài đã cất nhắc 231 hồng y, một con số đông nhất trong lịch sử Giáo Hội. Ấy thế mà Ngài lại rất khiêm nhường, rất nhạy cảm trong mọi vấn đề nhất là với các vấn đề đại kết và chính trị quốc tế.. .

Năm 1981, Ali Aga một tay súng người Thổ Nhĩ Kỳ đã mưu sát Ngài ngay tại Quảng trường Thánh Phêrô ở Roma nhưng bất thành. Tháng 12 năm 1983 đích thân Ngài đã vào tù để thăm và tha thứ cho kẻ đã bắn Ngài. Ngài đã tặng Ali một chuỗi tràng hạt Mân Côi bằng bạc và tượng Mẹ Maria bằng cẩm thạch. Chính Ali đã tự thú là Ðức Mẹ Fatima đã cứu Ngài, vì không ai sống sót trước viên đạn của anh ta, thế mà dù Ðức Thánh Cha lãnh đủ ba viên đạn xuyên vào bao tử mà vẫn còn sống... Hành động độ lượng khoan dung của Ngài khiến Ngài được mọi giới trên khắp thế giới kính trọng yêu mến và thán phục.

Dẫu vậy, Ngài cũng không tránh khỏi những phê bình, chỉ trích và chống đối đặc biệt trước những vấn đề gây tranh cãi như ly dị, phương pháp ngừa thai và phá thai, hôn nhân đồng tính và sự chung sống tiền hôn v.v...

Trong những năm gần đây, sức khoẻ của Ngài bị xút giảm nhiều: đầu năm 1992 Ngài phải giải phẫu cắt khối u trong ruột, năm sau giải phẫu vai và năm 1994, Ngài bị gãy xương đùi, năm 1996 mổ cắt ruột dư, 2001 Ngài mắc chứng bệnh Parkinson... Đầu năm nay 2005, Ngài phải giải phẫu mở ống khí quản rồi sức khoẻ của Ngài bị suy xụp khiến Ngài ra đi vào lúc 9.37 tối ngày thứ Bảy 2/4/2005 giờ Roma, nghĩa là vào 5.37 sáng Chúa Nhật 3/4/2005 giờ đông bộ Úc Châu.

Tòan thế giới kính cẩn nghiêng mình thương tiếc một vĩ nhân vừa tắt thở. Toàn thể Giáo Hội Công Giáo và tín hữu khắp năm châu cúi đầu cầu kinh khóc thương một Người Cha đã hết lòng yêu thương chăm sóc, xả thân cho đoàn chiên... Nguyện cầu cho linh hồn Ðức Gioan Phaolô II được hoà nhập trong biển tình yêu thương bao la của Chúa, Ðấng mà Ngài đã hết lòng yêu mến, cạn kiệt sức lực tận tình phục vụ và rao
 
Lm. Nguyễn Hữu Quảng

     Giáo Hạt Phú Yên