VÀI NHẬN XÉT NHỎ VỀ QUYỂN “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”

 

     Học giả Vũ Văn Kính

 

Đọc Sứ Điệp T́nh Thương, chúng tôi thấy lối hành văn của tác giả Nguyễn Xuân Văn giống lối hành văn trong Đoạn Trường Tân Thánh tức Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, khiến chúng tôi muốn làm thử một vài so sánh nhỏ để t́m hiểu thi tài của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn .

Truyện Kiều được phóng tác từ một tác phẩm chữ Hán. Quyển “Kim Vân Kiều truyện” của  Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là một tiểu thuyết b́nh thường nhưng với ngọn bút tài t́nh của Nguyễn Du đă biến thành một tác phẩm lục bát thơ nôm hoàn toàn Việt Nam, đă nổi danh trên thế giới…(…)

C̣n “Sứ Điệp T́nh Thương” th́ nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn đă soạn từ Kinh Thánh Lời Chúa, thành thơ, dài gấp ba lần truyện Kiều, tức 9764 câu . (…)

Đây chúng ta thử so sánh hai tác phẩm thơ lớn này xem cách sử dụng ngôn từ và thi văn của hai tác giả Nguyễn Du Nguyễn Xuân Văn giống nhau thế nào?

Cách sử dụng tiểu đối từng câu sáu chữ hay tám chữ, qua 2354 câu Kiều, ta thấy tiểu đối nhan nhản, thật tài t́nh, kỳ diệu:

“Mai cốt cách, tuyết tinh thần”

“Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”

“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

“Làn thu thủy nét xuân sơn”

“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

“Sắc đành đ̣i một tài đành họa hai”

“Lễ là Tạo mộ, hội là Đạp thanh” v…v

Trong “Sứ Điệp T́nh Thương”, nhà thơ linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn cũng đă sử dụng ngôn từ không kém phần tuyệt diệu. Ta hăy xem một số câu có tiểu đối như:

“Như nanh sói, như vuốt hùm”

“Cho người mất phúc, cho đời mất an”

“Có đền thờ Chúa, có bàn dâng hương”

“Mượn oai mẫu quốc, mượn hồn Đế vương”

“Máu tô rơ nét, lệ sa nghẹn lời”

“Bên ông bảy chục, bên bà sáu mươi”

“Chịu câu khinh bạc, nhịn lời mỉa mai”

“E lời tiên báo, ngại ḿnh cao niên”

“Vẻ vang phía mẹ, rỡ ràng bên cha” v…v.

Văn tả người Nguyễn Du tả Thúy Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da”…

 Chỉ 4 câu thơ lục bát mà tả được Thúy Vân từ nét mặt đến tiếng cười, giọng nói th́ thật là tài t́nh. Lời óng ả, chải chuốt, thanh lịch mà c̣n có cả phần hiện thực nữa, thật tuyệt vời. C̣n Nguyễn Xuân Văn tả Đức Mẹ khi nhận lệnh Truyền tin:

“Có Trinh Nữ đẹp như hoa,

Trắng ngà trong ngọc, nết na dịu dàng.

Ma-ri-a mỹ danh nàng

Vốn ḍng vương giả thuộc hàng trâm anh

Trăng trong mười sáu xuân xanh

Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông

Dung nhan rực rỡ vầng hồng,

Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương”.

Cũng như Nguyễn Du, lối văn tả người của Xuân Văn thật tuyệt vời, văn chương bóng bẩy mà cũng có chất hiện thực mới tài t́nh làm sao. Chỉ mấy câu thơ ngắn gọn mà cho độc giả thấy cả h́nh dung và tính t́nh người thục nữ.

Khi tả tiếng đàn của Kiều, Nguyễn du đă dùng bốn câu liên tiếp có bốn âm “tiếng” để nói lên tiếng đàn của Kiều đủ loại :

“Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời,

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

Thật tài t́nh khi lấy tiếng đàn so sánh với những hiện tượng thiên nhiên như tiếng suối sa nửa chừng, tiếng gió thoảng, tiếng mưa sa, thật c̣n ǵ hơn được nữa. C̣n Sứ Điệp T́nh Thương khi nói về những kẻ tội lỗi sẽ phải khốn, th́ dùng bốn chữ khốn trong một đoạn thơ ngắn, đă nhấn mạnh đến nỗi khốn khổ của những kẻ tội lỗi :

“Khốn đời giàu có các ngươi,

Thú vui đă đủ, ngày vui đă đầy.

Khốn đời dư dật no say,

Mai sau đói khát đắng cay đời đời.

Khốn cho kẻ mảng vui cười,

Buồn phiền khóc lóc một nơi cả ngày.

Thích người ca tụng khốn thay,

Kẻ gian chỉ được khen hay một lời.”

Truyện Kiều Sứ Điệp T́nh Thương là hai thi phẩm tuyệt vời của Nguyễn Du và Nguyễn Xuân Văn. Truyện Kiều là chuyện của người đời, Nguyễn Du phóng tác để đem t́nh ư của ḿnh và của đời vào thơ, nên có thể dễ t́m ư, t́m t́nh, t́m âm đem vào thơ. C̣n Sứ Điệp T́nh Thương là diễn Lời Chúa đă có sẵn trong Kinh Thánh, nên khi diễn ư th́ nhà thơ phải theo sát ư, bởi đó khó chọn từ ngoài đưa vào cho thích hợp mà phải lựa chọn những ư những lời trong đó mà tạo thành thơ. Bởi đó thỉnh thoảng nhà thơ linh mục Xuân Văn đă khéo dùng lời dùng ư của ḿnh mà xen vào những đoạn thơ cho nó nối nhau liên tục không đứt đoạn, không lạc vận, mà ư vẫn liên tục không lạc đề, không đi xa ư trong chính văn. Những đoạn đó tác giả đều cho in chữ ngả để dễ phân biệt với tŕnh thuật Kinh Thánh. Ta hăy thử xem đoạn thơ mà tác giả Xuân Văn đă xen vào giữa hai sự kiện: Một là chuyện “Người gieo giống”, cuối đoạn là hai câu:

“Có tai nghe được th́ nghe

Môn đồ chợt tĩnh cơn mê quay thuyền”.

Hai là câu chuyện “Hạt cải” bắt đầu bằng câu:

“Thế rồi có những hôm nào,

Chúa dùng thí dụ giảng vào đôi nơi

Rằng xem câu chuyện Nước Trời

Khác chi hạt cải được người đem gieo…”

Nếu cứ để câu cuối sự tích người gieo giống: “Môn đồ chợt tỉnh cơn mê quay thuyền” rồi bắt đầu chuyện hạt cải bằng câu: “Thế rồi có những hôm nào” th́ âm hôm nào không thể vần với câu cuối chuyện người gieo giống “Môn đồ chợt tĩnh cơn mê quay thuyền”. Từ âm thuyền ở cuối đoạn trên và âm nào mở đầu câu chuyện hạt cải ở dưới, nhà thơ linh mục đă khéo chen vào cuối đoạn người gieo giống bằng hai câu thơ lục bát:

“Đường về ai nấy lặng yên,

Sóng ḷng sôi động triền miên dạt dào”

Để rồi mở đầu đoạn hạt cải bằng câu:

“Thế rồi có những hôm nào

Chúa dùng thí dụ giảng vào đôi nơi”.

Cách buông vần thật khéo léo. Cứ vậy cả quyển truyện th́ nhiều lắm, v́ trong 9764 câu thơ có rất nhiều đoạn nhà thơ Xuân Văn đă xen vào cả một đoạn thơ dài mà vẫn không lạc ư, lại c̣n làm đậm thêm ư nghĩa, t́nh tiết của đoạn thơ mới tài t́nh. Ta hăy xem đoạn thơ sau đây, giữa đoạn kể về Đứa con hoang đàng:

“Rủi gặp ông chủ kiết keo,

Th́ đành nhịn đói, nằm queo mấy ngày

Nhục thay mà cũng đáng thay,

Ḿnh làm ḿnh chịu, c̣n cay nỗi nào?

Trời quê xinh đẹp biết bao,

B́nh minh rực rỡ, trăng sao ngời ngời.

Nhà ḿnh đầm ấm vui tươi,

Nụ hôn của má, tiếng cười của cha.

Ôi trời! Ôi mẹ! Ôi cha!

Đứa con bất hiếu nay đà biết thân

Tội con đáng chết ngàn lần,

Đời con bạc ngăi vong ơn quá nhiều.

Con ân hận biết bao nhiêu,

Quả tim chảy máu, chảy theo ḍng sầu.

Con buồn cho tóc bạc đầu,

Ngày xanh tàn tạ, hết màu hoa tươi.

Cha ôi! Con biết tội rồi,

Thân tàn ma dại, đền bồi làm sao!

Ḷng dù đêm ước, ngày ao,

Mặt nào con dám bước vào nhà cha?

Ví dù cha chẳng thứ tha,

Thân con rồi nữa, biết ra thế nào?

Mai sau dù có làm sao,

Cũng liều một chết trở vào đường ngay.”

Hai mươi bốn câu thơ trên đây là của tác giả chen vào đoạn vẫn làm cho đoạn văn thêm rơ nghĩa và người đọc dễ thấy được sự việc hơn là cứ để nguyên lời Kinh Thánh. Tuy một đoạn dài (24 câu thơ) mà vẫn giữ được ư của sự việc, không bị gián đoạn, thật tài t́nh. Hoặc đoạn sau đây cũng là cuối chuyện đứa con hoang đàng:

“Thế gian hùm lũ sói bầy,

Chim non xa mẹ, thơ ngây biết ǵ

Con buồn trách nó làm chi?

Cũng th́ ruột thịt vất đi sao đành?

Mừng cho gương vỡ lại lành

Mừng cây úa lá xanh cành chứ con!

C̣n trời, c̣n nước, c̣n non,

C̣n người hối tội là c̣n niềm vui”.

 

Đấy là lời người cha bảo người con lớn nên giơ tay ra đón lấy đứa em hoang đàng đă trở về với gia đ́nh, với t́nh thương của cha mẹ. Thật đáng phục tài thi ca của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn.

Kể th́ nhiều lắm, nhưng trên đây chúng tôi chỉ xin trích dẫn vào đoạn ngắn ngủi trong một tác phẩm cả gần mười ngàn câu thơ, mà không bị lạc vận th́ quả là tài t́nh thế nào. Chỉ một lần bước lên thi đàn mà ở lại đó măi măi với một thi phẩm đồ sộ, tinh vi, vừa mang tính thi ca dân tộc thuần túy, vừa chứa đựng một nội dung thanh cao, trong sáng, hướng thượng, nhà thơ linh mục Xuân Văn, theo thiển ư, đă tỏ rơ xứng đáng là một nhà thơ kiệt xuất, cụ thể là nhà thơ kiệt xuất của Lời Chúa, Lời của Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Hôm nay nhân kỷ niệm 100 ngày của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn từ giă cơi đời này về Nước Chúa, chúng tôi xin nghiêng ḿnh kính cẩn trước di ảnh người và nguyện xin Thiên Chúa ân thưởng người bằng triều thiên vinh quang Thiên Quốc.

Vũ văn Kính