THI SĨ LINH MỤC F.X. NGUYỄN XUÂN VĂN

SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG     

 

Linh mục thi sĩ Trăng Thập Tự - Phêrô Vơ Tá Khánh

 

Kính thưa quư thân hữu và quư khách, những người có tấm ḷng với nhà thơ linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn,

Kính thưa cô Bảy và anh chị em trong gia đ́nh, thân tộc và môn sinh của cha Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn.

Cha Xuân Văn thọ 80 tuổi và ra đi với đầy đủ hệ lụy của một kiếp người: Sinh, bệnh, lăo, tử. Thế nhưng, đối với nhiều người, cái chết của ngài vẫn khá bất ngờ. Nhiều người biết tin muộn; không ít bạn thơ đă không thể có mặt trong tang lễ và đă ngỏ ư mong được chia sẻ với gia đ́nh trong buổi tưởng niệm nhân kỷ niệm 100 ngày ra đi của ngài. Trước tấm ḷng của các bạn thơ, gia đ́nh cha Xuân Văn yêu cầu tôi nói đôi điều giới thiệu cuộc đời ngài và tác phẩm Sứ Điệp T́nh Thương.

Năm 1960, khi cha Xuân Văn đang làm quản lư và dạy tiếng Việt tại Tiểu Chủng Viện Làng Sông th́ tôi được nhận vào lớp Đệ Thất, tương đương với lớp sáu hiện nay. Năm 1976, lúc cha Xuân Văn quản nhiệm giáo xứ Mằng Lăng, quê hương của chân phước Anrê Phú Yên, th́ tôi được về phụ tá cho ngài trong bước đầu đời linh mục của tôi. Trong những năm cuối đời ngài, những khi ngài đau nặng, tôi có được nhiều lần về thăm viếng, an ủi ngài. Thật khó nghĩ, khó nói, khi tôi là học tṛ, là con cái, là cộng sự viên của ngài. Để tránh những nhận định nặng phần chủ quan, thay v́ nói nhiều về tác phẩm của ngài, và trước khi nói đôi lời về cuộc đời và tác phẩm của ngài, tôi xin phép gợi ư để chúng ta đặt trường hợp của ngài vào một hoàn cảnh. Trường hợp của ngài là một linh mục làm thơ, một nhà thơ linh mục.

1. Chất tượng trưng trong Kitô Giáo

Tại sao một linh mục có thể là nhà thơ? Nếu hiểu linh mục là một nhân viên quản lư hành chánh của Giáo Hội th́ linh mục không cần làm thơ và có khi không nên làm thơ. Thế nhưng nếu hiểu linh mục là người dẫn dắt tín đồ trên đường tâm linh, giúp các tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa, không phải chỉ bằng lư thuyết, các bí tích và nghi thức, mà trước hết bằng cảm nghiệm của bản thân, th́ thơ lại là một trong những con đường tuyệt vời nhất để giúp người ta cảm nghiệm Thiên Chúa. Điển h́nh là thánh Gioan Thánh Giá, nhà phục hưng ḍng Cát Minh Tây Ban Nha thế kỷ thứ XVI, được mệnh danh là bậc thầy về đời sống thần bí trong Hội Thánh. Gioan Thánh Giá bảo rằng những điều ông cần cảm nghiệm về Thiên Chúa không thể nào diễn tả bằng ngôn ngữ của đời thường, cho nên ông buộc ḷng phải diễn tả bằng thơ. Ông đă làm thơ. Rồi ông đă tự diễn giải ba bài thơ trong những bài ấy, thành bốn tác phẩm văn xuôi dày ngót một ngàn trang. Đúng là một trường hợp hy hữu trong lịch sử văn học thế giới. Một tác giả tự b́nh giải thơ của ḿnh để viết thành một bộ khảo luận về đời sống tâm linh, một bộ sách đầy tính sư phạm dẫn dắt những tâm hồn khao khác Đấng Tuyệt Đối đến chỗ gặp gỡ Ngài và kết hợp nên một với Ngài.

Nẻo đường để ta đến với Thiên Chúa tuyệt vời nhất là thơ, cho nên cái Thơ ấy là Đạo, là con đường. Đàng khác, chính Đạo cũng thật sự là Thơ. Đạo hay nói khác đi, chính Thiên Chúa Tuyệt Đối đă đến với nhân thế bằng con đường của thơ, của h́nh ảnh, của tượng trưng. Tin Mừng theo thánh Gioan viết: Đạo tức là Lời của Thiên Chúa đă mặc lấy xác phàm và đă ở giữa chúng ta. Chính nhờ đó mà chúng ta thấy và biết được Đấng chẳng ai đă thấy bao giờ (x. Ga 1,14-18).

Ở khắp nơi và trong mọi thời đại, biểu hiện hồn nhiên nhất của thơ bao giờ cũng là h́nh ảnh và những h́nh ảnh này đầy chất tượng trưng. Những câu ca dao hay nhất của ta thường là những câu đầy h́nh ảnh và là h́nh ảnh tượng trưng. Thơ, trong biểu hiện hồn nhiên của nó, gắn liền với chất tượng trưng. B́nh thường th́ thơ nói bằng tượng trưng, mà mạc khải Ki-tô giáo cũng nói bằng tượng trưng. Chính Thiên Chúa dùng những h́nh ảnh về các giá trị hữu h́nh để nói về các giá trị tâm linh. Chính Thiên Chúa dùng những mối quan hệ giữa người với người để giúp ta hiểu mối quan hệ giữa Ngài với chúng ta, giữa chúng ta với Ngài.

Chính v́ thế, không những Thiên Chúa nói Ngài là Sự Sáng là Sự Sống, là Người Chăn Cừu, là Tảng Đá vững chắc, là Nguồn Suối, mà Ngài c̣n là Người Cha, là bậc Minh Quân, là Người Chồng hay ghen, là Người T́nh chung thủy. Mỗi một h́nh ảnh ấy đều có thể là cảm hứng cho hàng ngàn ḍng sống cuồn cuộn văn hóa nghệ thuật, trong đó có thi ca.

Ki-tô giáo không phải là một tôn giáo của luân lư, nhưng là tiếng gọi và lời đáp trả của t́nh yêu giữa Thiên Chúa và con người. Như chúng ta có thể đọc thấy trong sách Diễm Ca của Cựu Ước, linh hồn tín hữu tự ví hoàn cảnh đi t́m Thiên Chúa của ḿnh, hệt như t́nh cảnh một thiếu nữ cuống quít đi t́m người yêu.

Tôi đă ngủ nhưng ḷng tôi vẫn thức

Ḱa tiếng người yêu gọi cửa đêm thanh

Bạn hiền, em ơi, mở cửa cho anh,

Bồ câu anh ơi, hỡi người diễm hạnh,

V́ đầu anh đă phủ đầy sương lạnh

Và tóc anh đầy những giọt hương đêm.

Đến khi nàng đứng lên, mở cửa ra t́m th́ người yêu không c̣n đó nữa. Thánh Gioan Thánh Giá sẽ viết một phiên bản khác về câu chuyện này qua bài thơ và quyển sách có tựa đề: “Những ca khúc tâm linh”.

Người ẩn nơi nao, Hỡi người Yêu Dấu,

Mà bỏ em rên rỉ?

Như một con nai, Người trốn biệt,

Mặc cho em bị thương,

Em chạy ra, gọi với theo Người, th́ Người đă đi.

Thế đấy, không riêng linh mục mà bất cứ tín hữu nào cũng có thể đến với Thiên Chúa và cảm nghiệm Thiên Chúa qua nẻo đường của thơ.

2. Trong ḍng văn học Công Giáo Việt Nam

Gần 500 năm có mặt trên quê hương, người tín hữu công giáo Việt Nam đă cảm nghiệm Thiên Chúa bằng thơ và cũng đă dùng thơ ca để diễn tả tấm ḷng của họ đối với Thiên Chúa.

Khắp nơi, ta có thể gặp chứng tích ấy nơi đủ thể loại ḥ, vè văn truyền khẩu, và cả thơ ca bác học thành văn.

Tủ sách Văn Học Nghệ Thuật của Toà Giám Mục Nha Trang đang chuẩn bị cho in quyển thứ hai trong bộ Góp Nhặt thơ Công Giáo Việt Nam, quyển Thơ Đọng Đầu Nguồn. Trong đó, chúng ta sẽ đọc thấy một phần nào những đóng góp của tiền nhân về mặt này. Chúng ta sẽ đọc thấy những tên tuổi nổi bật như.

Thầy giảng Phanxicô, linh mục Lữ Y Đoan, Đặng Đức Tuấn, Thánh Philipphê Phan Văn Minh, Nguyễn Trường Tộ, Phạm Trạch Thiện, Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của, Phước Môn Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Cụ Sáu Trần Lục, Đức Cha Huỳnh Ngọc Cẩn, linh mục Sảng Đ́nh Nguyễn Văn Thích, Hàn Mặc Tử, Mai Lâm, Phạm Đ́nh Tân, Hồ Dzếnh, Bàng Bá Lân, Hoàng Kim…vv…

Trên văn đàn Việt Nam, có những người đă nói đến một quan hệ chặt chẽ giữa Thơ và Đạo, và hiểu Đạo như là Đạo lư làm người. Người Công Giáo Việt Nam cũng dễ đồng ư rằng Thơ Văn nên là để phương tiện để chuyển tải đạo lư. Từ đó, ta có những tác phẩm diễn ca nhan nhản trong lịch sử văn chương công giáo Việt Nam. Có những tác giả được giới thiệu trong Thơ Đọng Đầu Nguồn chỉ mới dùng văn chương như công cụ của Đạo Lư. Do đó, có nhiều phần chỉ mới là vè, là văn chứ chưa thực sự là thơ.

Tuy nhiên, cũng có những tác giả, cả trong hàng ngũ giáo dân, vượt trên cái nh́n nghiêng về luân lư, dạy đời, đă xem Thơ là phương tiện để diễn tả, phô bày cảm nghiệm của ḿnh về Đạo, về Đấng Tuyệt Đối. Cái nh́n ấy đă đóng góp cho kho tàng văn chương Việt Nam một sống những bông hoa rất đặc sắc, độc đáo.

Tiếp nối những đóng góp ấy, hôm nay chúng ta có linh mục nhà thơ Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, người vừa từ giả chúng ta cách đây một trăm ngày.

3. Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, cuộc đời và sứ điệp

a. Vài nét tiểu sử

Linh mục nhà thơ Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn sinh ngày 01.09.1922 tại Mỹ Đức, xă Ân Tín, Hoài Ân, B́nh Định, thuộc giáo xứ Đồng Dài, giáo phận Qui Nhơn. Xuân Văn là người con áp út trong sáu người con của ông Antôn Nguyễn Vị (1887-1952) và bà Maria Lê thị Báu (1890 – 1926).

Bé Xuân Văn mất mẹ khi mới lên bốn, rồi năm 1936, 14 tuổi được nhận vào Tiểu Chủng Viện Làng Sông Qui Nhơn.

Năm 1943, 21 tuổi, Xuân Văn học Đại Chủng Viện Qui Nhơn.

Năm 1945, thầy Xuân Văn thực tập mục vụ tại giáo xứ Đồng Quả, B́nh Định. Đến năm 1948, thầy trở lại học Đại Chủng Viện tại Làng Sông. Tại đây, thầy cùng một người bạn là Anh Thiều, tức là linh mục Stanilas Hoàng Đắc Ánh Ḍng Đa-minh, soạn nhiều bài thánh ca.

Năm 1952, thân phụ qua đời, thầy Xuân Văn lại đi giúp xứ, lần này tại Gia Hựu. Tại đây, thầy Xuân Văn đă tự gom một sưu tập thơ và nhạc của ḿnh. Tiếc là thầy đă để tập này lại ở Gia Hựu, không đem theo và đă bị thất lạc.

Sau Hiệp định Genève, 1954, thầy Xuân Văn vào Nha Trang tiếp tục học thần học, rồi thụ phong linh mục tại nhà thờ Nha Trang, ngày 25.01.156, năm 34 tuổi.

Cha Xuân Văn được bổ nhiệm coi giáo xứ Trúc Hà, rồi làm cha phó Đà Nẵng.

Năm 1957 – 1962: quản lư và giáo sư Tiểu Chủng Viện Làng Sông, Qui Nhơn.

Năm 1962 – 1964 : Cha sở Phú Hương - Quảng Nam.

Năm 1965 : Lập giáo xứ Phước thành - Đà Nẵng.

Sau năm 1975, cha Xuân Văn t́nh nguyện về giúp giáo phận Qui Nhơn, đảm nhiệm giáo xứ Mằng Lăng. Sau gần 20 năm không làm thơ soạn nhạc, năm 1977, tại quê hương của Người Chứng Thứ Nhất, cha Phanxicô Xaviê Xuân Văn lại cảm thấy ḿnh phải cầm bút lên làm thơ ca tụng Thiên chúa. Sau bốn năm, cha đă viết xong tác phẩm “Sứ Điệp T́nh Thương”, ghi lại cuộc đời và lời dạy của Chúa Cứu Thế Giêsu với gần mười ngàn câu lục bát.

Năm 1986, cha được bổ nhiệm làm cha sở Tuy Ḥa kiêm Hạt trưởng Phú Yên. Sau 16 năm phục vụ tại đây, cha đă hoàn tất cuộc đời cũng tại đây, lúc 5 giờ sáng ngày 10.01.2002, và ngày 12, được đưa về an táng tại nghĩa trang chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn.

80 tuổi đời, 46 năm làm linh mục, một cách giản dị, chân thành và thật chính xác, cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn đă gửi lại cho đời sứ điệp máu thịt nhất của một tâm hồn đă đắm ch́m trong Chúa : Sứ Điệp T́nh Thương.

b. Sứ Điệp T́nh Thương

tại Mằng Lăng, những năm sau 1975 chỉ có một tủ sách nhỏ mấy trăm cuốn, thiếu hẳn những sách tham khảo cần thiết cho một công tŕnh như Sứ Điệp T́nh Thương. Cha Xuân Văn đă trực tiếp lấy tư liệu từ những giờ chầu Thánh Thể và những giờ suy tư trầm ngâm tại nhà xứ hoặc bên cạnh ḥn non bộ. Lục bát của cha phảng phất Kiều. Điều đó không cần chối căi, tuy nhiên phải nói rằng công việc của cha gặp khó gấp bội công việc của Tố Như tiên sinh. Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, Tố như tiên sinh chỉ dựa vào cốt chuyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà viết ra một tác phẩm mới. C̣n cha Xuân Văn khi viết Sứ Điệp T́nh Thương chẳng những đă không tự dàn dựng lấy câu chuyện và t́nh tiết mà c̣n tự buộc ḿnh phải theo sát từng câu của bản văn Tin Mừng, xếp đặt các sự kiện trong đời Chúa theo sát thứ tự được đề nghị trong quyển Phúc Am Tổng Hợp của Senatus Sài G̣n xuất bản (1972).

Được sự động viên và nâng đỡ của Ṭa Giám Mục Qui Nhơn, cha Xuân Văn đă cho xúc tiến xuất bản tác phẩm. Sứ Điệp T́nh Thương được nhà Thuận Hóa ở Huế xuất bản năm 1999 và nhà xuất bản Tôn Giáo ở Hà Nội tái bản năm 2001. Một tập trường thiên lục bát dày mà được tái bản chỉ sau hai năm. Quả là một kỷ lục. Nhờ đâu? Chính là nhờ chất thơ của nó. Nó mang lớp áo một quyển Phúc Âm diễn ca thật đấy, nhưng suốt 9674 câu lục bát, khó t́m thấy câu nào là vè, mà tất cả đều là thơ, là cảm nghiệm của một tâm hồn đă thực sự gặp gỡ Thiên Chúa và sống sâu xa trong trong t́nh thân mật với Thiên Chúa. Để thưởng thức tác phẩm này, tôi xin đề nghị ba cách khám phá.

G. Thứ nhất, đối chiếu.

Ta hăy lấy một đoạn Tin Mừng nào bất kỳ, dựa vào mục lục để t́m đoạn thơ tương ứng. Chẳng hạn, câu chuyện tiệc cưới Cana của Gioan, chương 2 câu 1-11. trong Sứ Điệp T́nh Thương, đó là các câu 758-792:

TIỆC CƯỚI CA-NA

Ngày xuân chim hót hoa cười,

Bước non thêm sắc mây trời thêm hương.

Ca-na chào đón Tân nương,

Tưng bừng pháo nổ, rộn ràng tiệc hoa.

Tân lang rước khách gần xa,

Thầy tṛ Chúa cũng mang quà chia vui.

Phúc nhà ai khiến ai xui,

An cần mời Mẹ đến ngồi bên con.

Giữa chừng bữa tiệc đang ngon,

Rượu đà cạn hũ, khách c̣n khua ly.

Đức Bà sẵn dạ từ bi,

Rằng: “Nhà hết rượu, hăy v́ tân lang”.

Giêsu nhỏ nhẹ thưa sang:

“Giờ Con chưa đến vội vàng làm sao?”

Đức Bà gọi kẻ giúp vào,

Dặn lo công việc Thầy giao chớ chầu.

Chúa sai múc nước đổ đầy,

Sáu chum đá lớn đang bày giữa sân.

Thường dùng đựng nước rửa chân,

Mỗi chum tính lít chứa gần trăm hai.

Chum đầy, Chúa dạy sang chai,

Giao cho quản tiệc an bài tiếp tân.

Việc dù có mắt gia nhân,

Mà người quản tiệc chưa phần nào hay.

Gọi tân lang đến tỏ bày:

“Rượu ngon đăi trước cho say ngà ngà,

rượu xoàng tiếp nối cho qua

sao dành hảo tửu đêm ra lúc nầy?”

Đó là phép lạ đầu tay,

Chúa v́ Mẹ Thánh tỏ bày hiển vinh.

Môn đồ vững dạ kính tin,

Đẹp ḷng chủ khách, phỉ t́nh tân lang.

Tiệc tan trời đă muộn màng,

Chúa đưa Hiền Mầu lên đàng về ngay.

Môn nhân bén gót theo Thầy,

Sang Ca-phát nghỉ mấy ngày xả hơi.

Câu chuyện là trích đoạn của trường thiên nhưng rơ ràng cũng là một bài thơ độc lập.

Tôi không nói đến những ư nghĩa thần học và thần bí của đoạn Tin Mừng này, cũng không nói đến những thanh sắc mùa xuân và bầu khí tiệc cưới hạnh phúc mà lục bát của nhà thơ đă đem lại cho đoạn Tin Mừng. Tôi mong được lưu ư rằng chỉ trong 36 câu lục bát th́ đă có ba câu nói rơ t́nh thầy tṛ thân mật giữa Đức Giêsu và các mộ đệ. Câu 762: “Thầy tṛ chúa cũng mang quà chia vui”; câu 787: “Môn đồ vững dạ kính tin” và 791: “Môn nhân bén gót theo Thầy”. Vâng, tôi xin phép hỏi các tu sĩ trẻ đang có mặt ở đây: Nguyên văn của Gioan là “Ngài và thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Capharnaum”. Làm sao mà cả ba đối tượng mẹ, anh em và môn đệ lại được chập lại thành một khái niệm chung là môn nhân, những người đi qua cùng một cái cửa, những người thuộc về cùng một vị Thầy? Và làm sao tác giả có thể quên hết mọi thứ để chỉ thấy trước mắt hai chữ “bén gót”, nếu suốt cuộc đời ông đă không canh cánh trong ḷng một nỗi ước mơ là bắt chước thật sát tấm gương của Thầy Chí Thánh trong nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục?

Môt cách lư thú để vừa khám phá Tin Mừng vừa khám phá thơ Nguyễn Xuân Văn là đem đối chiếu thơ với nguyên bản Tin Mừng. Cứ xem thử nhà thơ chọn từ nào, lược bỏ từ nào, Việt hóa những h́nh ảnh nào, và tại sao lại thế? Những chi tiết ấy để lộ cho ta thấy điều ǵ nơi tâm hồn nhà thơ?

A. Thứ hai đọc những câu in chữ nghiêng.

Lật qua tác phẩm ai cũng thấy ngay, giữa nội dung chính in bằng chữ đứng, có những ḍng in nghiêng. Tác giả muốn phân biệt rạch ṛi đâu là nguyên văn Lời của Chúa, đâu là cảm nghiệm riêng của ông. Một vài đồng nghiệp linh mục đă đề nghị bỏ những câu in nghiêng, chỉ giữ lại những câu sát với nguyên bản Tin Mừng. Nhiều lần tác giả tỏ ra áy náy trước những đề nghị ấy, thế nhưng tôi đă hết sức ủng hộ tác giả để xin tác giả giữ lại những câu in nghiêng ấy. Bởi lẽ, qua lịch sử, Lời Thiên Chúa mặc dù đôi khi có vẻ như là tiếng kêu trong sa mạc, th́ trong thực tế, Lời ấy vẫn không quá hẩm hiu, đă không chuốc lấy thân phận cảu một lời độc thoại. Lời ấy, dù sao cũng đă được nhiều tâm hồn lắng nghe và đáp trả. Nhờ đó, lịch sử cứu độ đă là lịch sử của đối thoại. Những ḍng chữ nghiêng chính là dấu chỉ rất rơ về tiếng dội của Lời Thiên Chúa trong tâm hồn tác giả. Đó chính là khúc nhạc réo rắt trong cơi ḷng của nhà thơ, của linh mục, của người tín đồ Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn. Đó là tiếng thổn thức của một thụ tạo thấp hèn cảm nghiệm được t́nh yêu vô biên, vô tận, vô cùng của Thiên Chúa Tạo Hóa Chí Thánh và Tuyệt Đối. Đó là nỗi niềm của T́nh Nương đang chạy t́m T́nh Quân trong chuyện t́nh không ai dám ngờ giữa Thiên Chúa và con người. Thiết tưởng, các anh chỉ em trẻ ở đây có thể tập trung vào những ḍng chữ nghiêng của cha Xuân Văn để xây dựng một luận văn ra trường bàn về cảm nghiệm tâm linh của một nhà thơ công giáo. Vâng, cảm nghiệm là điều không thể thiếu. Dù kỹ năng diễn đạt của một nhà thơ có sâu sắc mà mạnh mẽ đến đâu, nếu không thực sự cảm nghiệm được t́nh Chúa yêu ḿnh và t́nh ḿnh yêu Chúa, th́ vẫn không bao giờ có thể là một nhà thơ ki-tô giáo đúng nghĩa.

Chúng ta hăy nghe phần đầu của câu chuyện người phụ nữ thống hối. Trong số 72 câu, có 56 câu in nghiêng.

NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI

Ga-li mỗi độ xuân sang,

Nhà nhà thết tiệc mở đàng ăn chơi.

Có người biệt phái ḷe đời,

Tiệc xuân mở rộng đón người thưởng xuân.

Tao nhân mặc khách xa gần,

Được mời chúa cũng góp phần chia vui.

Trà thơm rượu ngọt đủ mùi,

Mượn câu chúc tụng đầy vơi chén quỳnh.

Tiệc đang vui bổng th́nh ĺnh,

Có người thiếu phụ nép ḿnh bước ra.

Bét sầu in rơ mặt hoa,

Quỳ ôm chân Chúa lệ sa ṛng ṛng.

Trông mặt mà bắt h́nh dong,

Cả pḥng chủ khách buồn ḷng ngẩn ngơ.

Nàng là cô gái ngây thơ,

Không may chuốc lấy tiếng nhơ xa gần

Được nghe Lời Chúa đôi lần,

Lời sao nặng cả ngàn cân khó lường:

“Phúc thay ḷng dạ tuyết gương,

Được nh́n nhan Chúa tỏ tường mai sau”.

Ḷng càng thêm tủi thêm sầu,

Đời thôi đâu nữa c̣n đâu là đời!

Làm sao thấy mặt Chúa Trời,

Làm sao nghe được một Lời phân ḿnh?

Nghĩ ḿnh chua xót nỗi ḿnh,

Làm sao gặp được Thánh T́nh hỡi ôi!

Cuộc đời bèo dạt mây trôi,

Trăm năm thôi thế th́ thôi c̣n ǵ!

Tài mà chi, sắc mà chi!

Hương hoa rồi cũng qua th́ hương hoa.

Đời làm khô héo tim ta,

Cho ḍng huyết lệ chan ḥa từ đây!

Thầy ôi! Danh Thánh của Thầy,

Khắc sâu vào cơi ḷng nầy đă lâu

Lời Thầy trang trọng nhiệm mầu,

Như vâng ánh sáng giữa bầu trời đếm.

Giọng Thầy dịu ngọt êm đềm,

Nghe sao như lửa cháy tim cháy hồn.

Thấy ôi! Cứu vớt đời con!

Cho vành trăng khuyết được tṛn như xưa.

Con cầu cho kiếp sống thừa,

Được ơn thương xót gặp mùa hồng ân.

Cho con được chết một lần,

Cho con trút sạch nợ nần từ đây.

Cho con được phúc gặp Thầy,

Cho con thấy được một ngày sáng tươi.”

Nàng thầm nguyện đến vạn lời

Ruột tằm tơ rối bời bời héo hon.

Nghe nhà biệt phái Si-mon,

Hôm nay Chúa đặt gót son ghé vào.

Nàng mang tâm sự dạt dào,

Chạy t́m gặp Chúa nghẹn ngào khóc than.

Hai hàng nước mắt chứa chan,

Trên bàn chân Chúa tuôn tràn không ngăn.

Tóc mây thắm lệ thay khăn,

Môi hôn chân Chúa, miệng thăn thỉ cầu:

“Con là vạn cổ thành sầu,

Phận hèn nào dám cúi đầu xin ơn.

Trông vào lượng cả từ nhân,

Khỏi bề sống đục được phần thác trong.

Ơn trên ngày ước đêm mong,

Lệ ḷng dù chảy cạn ḷng chưa thôi.

Trăm ngàn cay đắng Thầy ôi!

Lấy đâu nước mắt tẩy trôi cuộc đời.

Lay sao cho tóc rối bời,

Hôn sao cho dại đôi môi héo buồn.

Càng lau lệ thảm càng tuôn,

Tóc mây vất vít, nụ hôn nồng nàn.

Mặc cho con mắt bàng quan,

Tiếng nàn rên rỉ nghe tan nát ḷng.”

Về nhà, xin quí vị thử mở quyển sách ra dừng lịa ở những câu và những đoan in chữ nghiêng. Xin hăy đọc kỹ, đó không phải là những câu chuyển tiếp để đợi gieo vần, nhưng chính là tâm hồn yêu Chúa của tác giả, rút từ kinh nghiệm bản thân cha, hoặc với tư cách người tín đồ yêu Chúa Giêsu, hoặc với tư cách người mục tử khao khát làm cho Chúa Giêsu được mọi người mến yêu. Có thể nói, đang khi cha bám sát từng câu Kinh Thánh th́ ḷng trào tuôn lênh láng, không thể ḱm giữ, phải để cho vọt ra đôi phần. Nếu thơ là tâm hồn th́ quả thật những ḍng in nghiêng ấy chính là tâm hồn của nhà thơ.

Mỗi lần tĩnh tâm, nhất là nếu quư vị bước theo tiến tŕnh linh thao I-nhă hoặc tĩnh luyện Cát Minh, hăy thử đọc Lời Chúa theo bản văn Sứ Điệp T́nh Thương, quư vị sẽ thấy những lời thơ của Xuân Văn có sức gợi ư đến mức nào.

Thời giờ không cho phép tôi nói nhiều hơn. Xin được gói lại nơi một ghi nhân khác. Hai chữ T́nh Thương trong tựa đề tác phẩm, đúng theo Kinh Thánh th́ phải nói là T́nh Yêu. Tiếc rằng tiểu thuyết và phim ảnh ngày nay đă giản lược và hạ thấp t́nh yêu, thành ra nghe nói đến t́nh yêu, dường như người ta chỉ nghĩ đến t́nh yêu nhục dục, lắm khi chỉ c̣n là quan hệ xác thịt. Do đó, để tránh ngộ nhận, dịch giả Kinh Thánh Nguyễn Thế Thuấn đă dùng hai chữ Ḷng Mến, c̣n nhà thơ chúng ta ở đây lại dùng hai chữ T́nh Thương. Thiết tưởng, cần lưu ư để tránh một ngộ nhận khác: Sứ Điệp của Đức Kitô, lệnh truyền của Đức Kitô không phải là thương mà là yêu. Ngài dạy: “Các con hăy yêu nhau như Ta đă yêu các con” – Yêu không phải chỉ là chạnh thương, mà là quan tâm và tŕu mến với hết cả cơi ḷng. Như Thiên Chúa, Đấng đă yêu con người với tất cả cơi ḷng, như thể yêu đến si mê, cuồng dại.

Theo nghĩa ấy, không riêng nhà thơ linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, mà mọi tác giả nghệ thuật ki-tô giáo đúng nghĩa, đều gởi đến cho nhân loại cùng một Sứ Điệp T́nh Yêu, là lời tỏ t́nh của Thiên Chúa ngỏ với nhân loại, với mỗi một người chúng ta.

Linh mục thi sĩ Vơ Tá Khánh (Trăng Thập Tự)