PHẢNG PHẤT MỘT HỒN THƠ

Thi sĩ Lê Quý Long

 

Như đâu đây… hay trong tôi, mãi phảng phất một hồn thơ? Hồn thơ ai đó… đã ướm nắn họ thành người thơ! Người thơ và hồn thơ mãi gắn bó, quấn quýt, say đắm bên nahu. Hẳn sẽ có một quí tử, một thi phẩm chào đời.

1. Hồn thơ trong người thơ

Chiếc áo dòng của cha giáo, ngày nào đã từng “thướt tha” bên bao lơn, trên tầng một (Tiểu Chủng Viện Làng Sông), từng phất phơ bay màu trắng sau những cây Sao xếp thành hàng, cùng vui đùa với gió; dáng đi đi lại lại của một cha xứ nơi miền sơn cước hữu tình ( giáo xứ Phú Hương – Đà Nẵng)… và rồi, về chiều, “cánh chim” vội vàng lao vút trở lại với đất mẹ (rời Đà Nẵng, về giáo phận Qui Nhơn), sà xuống trên đồng Mằng Lăng, Tuy Hòa! Trong tôi, một chút băn khoăn nào đó, cũng đã trải dài theo năm tháng, thương “người thơ” mãi không đuổi kịp hồn thơ… tưởng chừng như đã đánh mất.

Nhưng không, bên dòng sông Ba thân thương, họ (người thơ và hồn thơ) đã gặp nhau, sung sướng ôn lại thời Cựu ước, nghiền ngẫm Mầu nhiệm Nhập Thể… cất cao lời chúc tụng, ngợi ca Đấng Toàn Năng, mang hết tâm tình mình chuyển tải Kinh Thánh vào thơ, những lời thơ mượt mà, dịu ngọt… cũng bay cao theo ơn Cứu Độ, muôn đời sau còn mãi âm vang, sáng rực một Sứ Điệp Tình Thương.

2. Hồn thơ trong tác phẩm

Sứ Điệp Tình Thương, hiển nhiên là một tác phẩm diễn ca, diễn ca với thể loại lục bát. “Lục bát”, với người Việt Nam, ai ai cũng có thể sáng tác được! Nhưng để những câu Lục bát được xếp vào thơ, quả là rất hạn chế, nhất là trong lãnh vực “diễn ca”! Thế nhưng, Sứ Điệp Tình Thương, nội dung của Kinh Thánh vừa “cứng” vừa “khô”… vẫn cho ta những bất ngờ:

Sứ Điệp Tình Thương là một thi tập:

Lời trăn trối của Đức Kitô trên thập giá, đã hơn 2000 năm, mà nghe sao như đang hiện tại, đang xảy ra trước mắt, đang rót vào tai chúng ta tâm trạng buồn đau, rất thực tế của bao nhiêu người:

Một mình trong cõi bao la

Lẻ loi như cánh sao sa cuối trời!

(câu 8.997,8990)

Xót xa biết mấy! Nỗi niềm “lẻ loi” nơi “cuối trời”, Đức Maria lòng đau như cắt, khi nhìn con yêu dấu của mình sắp tắt thở:

Ai ngăn nổi giọt lệ thầm,

Ai cầm nổi máu tim bầm ứa ra!

(Câu 9.091. 9092)

Ai chưa một lần âm thầm rơi nước mắt, làm sao hiểu được những “giọt lệ thầm”! những giọt máu cuối cùng cũng đã “ứa ra” hết cho nhân loại, từ trái “tim bầm” của Đức Kitô. Phải chăng, cùng với một hình ảnh ấy, hồn thơ cả một đời bị nén lại trong tim, đã đến lúc không thể “cầm” được nữa, cũng đã “ứa ra” cho đời.

Và từ đây, “người thơ”, muốn “lân la” với nàng thơ, “thăm dò” để được làm “quen”, để được làm thì sĩ:

Lân la ướm tiếng thăm dò

Không quen, chung một chuyến đò… cũng quen

(Câu 697, 698 trang 43)

Đức Giêsu đã mạnh dạn tiến về một thành, dù nơi đó Ngài sẽ chịu khổ nạn. Cũng thế, nhà thơ đã mạnh dạn hướng vào Kinh Thánh… để diễn ca:

Tiến lên, đừng sợ hiểm nghèo

Cuộc đời dày đắc suối đèo chông gai.

   (Câu 5.417, 5.418 trang 227)

Để làm gì:

Thương ai một chút gọi là

Để thương để nhớ đậm đà mai sau.

(Câu 6.561, 6562, trang 271)

Có lẽ, trong đời, nhà thơ không mấy vui, cho dầu đã “thoát tục”, những ưu tư về lẽ sống, những thắc mắc về “ConTạo xoay vần”… vẫn còn đó:

Thời gian bay thẳng hay cong

Mà sao ngày tháng xoay trong vòng tròn

(Câu 6.665, 6.666 trang 275)

Diễn tả nỗi đau của Đức Giêsu trong một đêm lạnh nơi vườn Dầu, nếu không là băng giá của cuộc sống, làm sao ai có thể thấu được:

Khí đêm bốc lạnh như băng

Cú sầu đưa giọng nghe văng vẳng sầu!

(Câu 7.505 câu 7506 trang 307)

Và nỗi sầu hơn hết là thiếu người “chia sẻ” khi “tâm sự bời bời”:

Ngổn ngang tâm sự bời bời

Lấy ai chia sẻ, ngỏ lời với ai…!

(Câu 7609, 7610 trang 311)

 

Đã “phảng phất” chúng ta không thể nào đuổi bắt hết được! Xin mời các bạn, chúng ta cùng nhau dần dần tìm kiếm đó đây, trong nếp sống đời thường của tác giả, hoặc trong tác phẩm Sứ Điệp Tình Thương.

Với bóng dáng của cuộc đời như thế, với tâm tình và hồn thơ như thế, tưởng cũng rất phù hợp với tên gọi của tác giả: linh mục Nguyễn Xuân Văn.

 

Sứ Điệp Tình Thương là một bản trường ca.

Xuyên suốt tác phẩm, gần một vạn câu thơ, nhà thơ đã chu đáo và rất chu đáo cho gieo vần với nhau một cách đầy đủ và phong phú! Với 9764 câu thơ Lục bát, đã đúng và đủ 9763 cặp vần. Sáu phần sách riêng rẽ, 220 nội dung khác nhau, những cặp vần tưởng chừng không cần thiết phải lưu tâm, vẫn được tác giả cho gieo vần với nhau một cách thận trọng và duyên dáng.

Tiệc cưới Ca na và việc Đức Giêsu quở trách, đuổi quân mua bán trước đền thờ, là hai câu chuyện hoàn toàn khác biệt! Thế, nhà thơ vẫn sẵn sàng “cài” vào giữa hai “va-gong” ấy một cái “móc” thật vững chắc:

………… mấy ngày xả hơi        (câu 792, trang 46)

Vượt qua ngày lễ đến nơi         (câu 793, trang 46)

Hoặc sau câu chuyện nói về người đàn bà ngoại tình đến chuyện Đức Giêsu thông báo Ngài là ánh sáng thế gian:

Đại ân không thể dùng lời tạ ân. (câu 3690)

Đợi cho thiếu phụ lui chân        (câu 3691)

Thậm chí giữa hai phần sách, phần Năm và phần Sáu, phần trước, bàn về Sự Chết; phần sau luận về Sự Sống lại của Đức Kitô, vẫn được tác giả cho “liên tục” với nhau thật tài tình:

… gác quanh đêm ngày            (câu 9.188, trang 371)

Các bà từ lúc mất Thầy (câu 9.189, trang 371)

 

Với sự gieo vần rất chặt chẽ và thật là phong phú, liên tục từ câu thứ nhất cho đến câu thứ chín ngàn bảy trăm sáu mươi bốn, câu cuối cùng của thi phẩm, cho phép chúng ta còn có thể gọi Sứ Điệp Tình Thương là một bản Trường ca, Trường ca Hằng Sống, Trường ca Cứu Độ! (Bản trường ca dài thứ nhì, sau Trường ca Xuyên Việt (9.886 câu) của nhà thơ Nguyễn Thời.

Đường đường là một bản Trường ca, đường đường là một thi tập, Sứ Điệp Tình Thương đã đủ tư cách đứng chung với các tác phẩm văn chương khác trong nền văn học nước nhà.

Nhưng, bàn về Sứ Điệp Tình Thương, có quá sớm lắm chăng? Theo thiển ý, cũng nên chờ những cảm nhận của các thế hệ đọc trong mai sau, không muộn. Dù là gì, trong vườn thi ca Việt Nam, đã trổ thêm một bông hoa thơm và đẹp : Sứ Điệp Tình Thương.

Sài gòn 4.3.2 Lê Quý Long