SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG
TRÊN LỘ TR̀NH HỘI NHẬP VĂN HOÁ
Thi Sĩ Lê Đ́nh Bảng
MỘT CHÚT TÂM T̀NH CỎ HOA
Thật ngẫu nhiên, t́nh cờ với Qui Nhơn, một miền đất cổ, giàu truyền thống mà nhiều lần tôi đă nghe biết. Có lúc trên đường ra một số tỉnh địa đầu giới tuyến, ra Bắc vào nam, đi ngang qua hoặc đỗ nhờ ở đây dăm ba ngày, một vài đêm chóng vánh. Ơ nhà thờ chánh toà, ở toà Giám mục cuối những năm 1960-1970, thời các Đức cha Phêrô-Phạm Ngọc Chi, Đức cha Đa-minh Hoàng văn Đoàn OP, và gần đây hơn là hôm được hầu chuyện Đức Thầy tiền nhiệm Phaolô Huỳnh Đông Các, nghe danh tính Ngài, tôi cứ liên tưởng tới bài cổ thi “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu (704-754) đời nhà Đường bên Trung Quốc. Hôm ấy, từ đây, ghé nhà mẹ Hội Ḍng MTG Qui Nhơn, rồi đến trại phong Qui Hoà những ngày “Trại Hè Hoa Nhân Ai 1999) với các chị ḍng Phansinh thừa sai Đức Mẹ. Buổi tối, một ḿnh lang thang lên Ghềnh Ráng nghe sóng vơ ngàn xanh reo để tṛ chuyện thơ thẩn với thiên tài bạc mệnh Phanxicô Assisi Hàn Mạc Tử mà tôi yêu đă yên nghỉ ở đây. Qui Nhơn trong mắt tôi buổi ấy, đơn giản chỉ có thoáng chốc bấy nhiêu.
Thực ra, Qui Nhơn giàu có vô cùng. Giàu truyền thống văn hoá. Giàu đức tin ḷng đạo. Giàu cả t́nh người. Chẳng thế mà đă có một thời chưa xa lắm, khí thiêng sống núi nơi đây đă hun đúc nên những tượng đài cao ngất: những vị thánh như Anrê Phú Yên, Anrê Kim Thông, Đức GM Théodore Cuénot Thể; đă in đậm dấu vết đạo đức chân quê của chị em MTG Đàng Trong từ An chỉ, G̣ Thị đến Phú Yên; những thầy cả nhà thơ Lữ Y-Đoan, Giuse Đặng Đức Tuấn… và nay là Lm nhà thơ F.X Nguyễn Xuân VĂn kính mến. Đúng là gươm lạc giữa rừng hoa, nên ở Qui Nhơn, ra ngơ gặp người đẹp, người hiền. C̣n nhớ, cách nay ít lâu, trên từng câu số dặm dài để chuẩn bị cho Đại Hội La Vang 26.08.2002, mày ṃ trong thư viện Nhà Chung giáo phận Kontum, t́nh cờ tôi đọc được mấy tập báo cũ “Chức dịch thơ tín” và một số kinh sách rất cổ do nhà in Qui Nhơn ấn hành khoảng 1921-1923 ǵ đó. Như thế, cùng với Nazareth (Hồng Kông), Kẻ sở (Hà Nội), Phú Nhai Đường (Bùi Chu) và Tân Định (Sài G̣n), nhà in Qui Nhơn đă đứng vào hàng ngũ tiên phong của một cơ sở mang tính truyền thông công giáo này.
Lại ngẫu nhiên, t́nh cờ với Tuy Hoà, Phú Yên, miền đất nở hoa hồng trên máu của Thầy giảng phơi phới tuổi xuân Anrê Phú yên, nơi có vựa lúa trù mật vào bậc nhất của Trung bộ với đập Đồng Cam và sông Đà, núi Nhạn. Cứ tưởng những sợi tơ trời mong manh kia đồng hờ dễ đứt, những kư ức thoáng qua hồi nào sẽ nhạt nhoà, lăng quên. Ai ngờ, hôm nay, ngọn gió vô h́nh nào thổi tôi ngược đường về thành phố biển Qui Nhơn, qua điểm dừng là Tuy Hoà, Phú Yên. Những ngày cuối năm, giáp Tết Quư mùi (2003) thật hạnh phúc. Giời ạ! Quăng đường từ Phú Yên đi Sông Cầu, về Qui Nhơn đang hồi sinh, đẹp tuyệt vời. Dù gập ghềnh và bụi bặm vẫn không làm cho tôi quên được chuyến hành tŕnh dọc theo ven biển từ Tuy Hoà, vũng Rô, cửa Đà Nông, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài lên đỉnh Cù Mông, đổ dốc về thành phố Qui Nhơn đă chiều tà. Cảm ơn biển trời xanh thẳm. Cảm ơn núi rừng ngút ngát. Cảm ơn đầm vịnh kỳ vĩ, thâm u. Chiến tranh khói lữa đă đi qua. Cảm ơn những đồng đất tơ nhung lúa mùa con gái. Những xóm lưới, những vạn chài bập bềnh, lô xô. Thấp thoáng xa xa những bóng tháp Hời đỏ quạch hoàng hôn, một thuở nào Đồ Bàng rạng rỡ. Những đôi mắt u ẩn lần đầu nh́n nhau đă có đuôi. Những tấm ḷng chân chất, hào hiệp của Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn mà tôi mới được gặp hôm nào khi Ngài chủ sự cuộc cung nghinh Thánh Thể tại La Vang, của cha sở nhà tổ chức mọi thắng lợi Giuse Trương Đ́nh Hiền, của cha sở Đông Mỹ tuổi trẻ tại cao, của các chị MTG Qui Nhơn hiếu khách và của đông đảo nhân sĩ-trí thức-văn nghệ sĩ-chức việc-bà con nhà đạo ḿnh từ khắp nơi tự về Tuy Hoà.
Vội vă đến và hối hả chia tay Qui Nhơn. Xin gửi ḷng ḿnh ở lại.
Cuối cùng là ngẫu nhiên và t́nh cờ với Sứ Điệp T́nh Thương (SĐTT) và Nguyễn Xuân Văn (NXV). Bây giờ th́ tôi đă hiểu được mối cơ duyên kỳ lạ ấy. Chung quy chỉ v́ cái nghiệp làm thơ, yêu thơ Công giáo mà ra cả. Đă gọi là nghiệp chướng th́ không sao tránh khỏi. Nó cứ vận vào, ám vào đời ḿnh cho đến chết. Quả thực là tôi đă t́m hiểu và đă viết khá nhiều về Đặng Đức Tuấn, về Hàn Mạc Tử, những tài năng kiệt xuất đă gắn bó đời ḿnh với Qui Nhơn. Và đến này th́ lại trót “ṇi t́nh yêu người đồng điệu” với SĐTT, với Lm nhà thơ NXV. Vâng, con đường thi ca, con đường thi ca công giáo đă dẫn tôi về Tuy Hoà, về Phú Yên, về ḷng mẹ Qui Nhơn, những nơi chốn đă hoá thành tâm hồn tôi. Qui Nhơn đă đă ôm tôi vào ḷng, nồng nàn hương đất, hương biển, hương nước và hương người B́nh Định, đất vơ Tây sơn. Thật ngẫu nhiên và thật t́nh cờ. Như một chuyện cổ tích giữa đời thường, như một chuyện mộng du, một viễn tưởng. Qua sông Đà núi Nhạn, qua dinh Trấn Biên, qua Phú Yên, Tuy Hoà, Mằng Lăng, Đông Mỹ, Hoa Châu, Sông Cầu về Gia hựu, làng Sông, G̣ Thị, Diêu Tŕ, tôi gặp được người, thơ và đạo của miền đất hứa, của bờ xôi ruộng mật này. Một cuộc toạ đàm thi ca, một Tao đàn, một lễ trọng Phục sinh mới giữa đồng lúa mênh mông Phú Yên (9 và 10.01.03) những ngày trăng thượng tuần tháng giêng năm mới, gạo mới, t́nh mới. Thật hạnh phúc cho tôi, mỗi khi đọc lại bức thư của lm nhà thơ F.X Nguyễn Xuân Văn. Tưởng chừng như mới gửi cho ḿnh hôm nào, c̣n tươi nguyên những cảm xúc dạt dào. Th́ ra, ở cơi trên, cơi chín phẩm thiên thần, cơi “xuân đài thợ vực – văn thái phong lưu” Ngài đang sống, đang mỉm cười, đang rung lên cái tần số trái tim phát ra từ SĐTT, muốn gửi gắm mỗi người chúng ta. Như hơi thở của đất, như khói núi, như lời gió reo trong lúa, trong đồng mía trổ cờ :
“Thăm anh
Cuốn SĐTT sau khi vừa được tái bản, theo lẽ tôi phải gửi tặng anh ngay, nhưng cũng là lúc căn bệnh ập đến khiến tôi phải nằm liệt giường. Và tôi vẫn nhớ đến anh trong cơi tâm hồn… là Kitô hữu, được Chúa ban cho khả năng chuyển tải những mảnh đời thiêng liêng, anh giúp con đường đến với Chúa trở nên nhẹ nhàng và dễ bước đi hơn. Anh đă gợi lên trong tôi, khi đă trải qua gần 80 năm với cuộc sống, một cuộc hành hương về cơi đời đời. Giờ đây trên giường bệnh, với những cơn đau thể xác, tôi đồng cảm hơn với “cây nến phục sinh” mà anh muốn trao gởi cho mọi người:
Những ṿng gai, lưỡi đ̣ng, năm dấu
Nửa cơi thiên đường, nửa bến mê
Tu cả một đời, chưa hiểu rơ
V́ sao, cây Thánh giá ra hoa
Lạy Trời, mở huệ muôn chim chcs
Để ngát thơ, rực rỡ, chói loà.
Thơ gửi anh Đ́nh Bảng, Tuy Hoà ngày 25.10.2001
THI CA CÔNG GIÁO VIỆT NAM
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG HỘI NHẬP VĂN HOÁ
Thử đặt một giả thuyết, Tin Mừng của Chúa như cơn gió đầu mùa và tâm hồn người Việt ḿnh khác nào mảnh đất hạn hán, mong mưa? Đă có một cuộc hạnh ngộ, tuy muộn màng nhưng vừa đủ kỳ diệu giữa đức tin và Thi Ca, đă trở nên Ḷng Đạo. Tôi nói Ḷng Đạo chứ không phải Thần Học. Trộm nghĩ, người KTH Việt Nam có lẽ không ưa bất cứ một hệ thống triết lư xa vời, xơ cứng và áp đặt nào cả. Họ lắng nghe tiếng gọi th́ thầm nhưng mănh liệt của gió, của thần khí gọi mời con tim đang ngước trông lên cơi thiêng liêng. Không hiểu từ một thuở nào xa lắc, xa lơ, giữa cái cảnh bán mặt cho đất bán lưng cho trời, dân tộc tôi đă từng ngó lên cao mà hát bài ca cầu mùa rất sùng tín như thế này:
“Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Cho đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp”.
Và một đêm trăng sáng nào đó, sau luỹ tre xanh ở xứ đạo làng quê VN, trẻ em ta cũng đă dắt tay nhau, miệng nghêu ngao câu đồng dao:
“Thiên đàng, đại ngục đôi quê
Ai khôn th́ về, ai dại th́ xa
Đêm về nhớ Chúa nhớ cha
Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn
Linh hồn phải giữ linh hồn
Đến khi gần chết, được lên thiên đường.”
Bằng con đường thi ca, tổ tiên tôi đă đón nhận đức tin. Cũng bằng thi ca, họ đă diễn tả, truyền đạt và sống Tin Mừng trong thanh b́nh hoan lạc và cả trong vất vả, cấm cách, u sầu Đạo và Thơ. Thơ và Đạo. Một cung cách “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa” rất riêng của người Công giáo VN, không giống ai hết. Nói theo lm Leopold cadière nhà tín ngưỡng-VN học-Huế học th́ người VN vốn nặng ḷng với tín ngưỡng dân gian, bước khởi đầu của đức tin vậy. Tổ tiên tôi đă làm cái công việc “có vẻ như một tṛ đùa” rất ngẫu hững, rất lăng mạng và “Thi ca hoá Lời Chúa”. Lời Chúa chảy trên ḍng sông thi ca. người ta có thể đi suốt ḍng dài trên dưới 400 năm đạo Chúa ở mảnh đất này, để thấy một cuộc kết hôn lạ lùng giữa Đức Tin và Thi Ca ở mỗi chặng đường lịch sử.
I. THỜI KỲ VỠ ĐẤT – GIEO TRỒNG (TK XVI-XVII)
Có ai ngờ cánh cửa mở vào lịch sử Công Giáo VN (Đàng Ngoài 1615 và Đàng Trong 1627) lại là những trang sách đậm đặc thi ca? một buổi khăn gói lên đường rất sớm của hội nhập văn hoá.
1. Công nương Catariana : Theo tường thuật của cha Đắc Lộ[1], Công nương Catarina (1627) đă sáng tác 8000 câu thơ lục bát, tường thuật diễn tiến lịch sử cứu độ của Đức Kitô. Rất tiếc, tác phẩm trường thiên này nay đă thất truyền.
2. Giáo sĩ majorica (1591-1656). Là một trong những thừa sai đồng hành và nối tiếp việc truyền giáo của cha Đắc Lộ. Đến Đàng Trong, ra Đàng Ngoài, nói và viết thành thạo tiếng Việt, để lại một sự nghiệp đồ sộ trên 40 tác phẩm (3678 trang) văn Nôm. Một tài liệu đă tổng kết như sau: “Giáo sĩ đă viết rất nhiều sách bằng ngôn ngữ và văn tự của xứ Bắc, đă phiên dịch hoặc sáng tác hơn 40 quyển. Đó là một kho tàng mà Giáo Hội ngày nay ǵn giữ và kính trọng”[2].
3. Thầy giảng Phanchicô (?-1640)
Qua ghi nhận của Lm.Philipphê Bỉnh[3], Thầy giảng Phanchicô là tác giả của áng kinh văn bất hủ “Cảm Tạ Niệm Từ”. Lần đầu tiên, khi giới thiệu tác phẩn này với công chúng trên tờ CG&DT số 1032, 11.1995, bản thân chúng tôi đă mạo muội đưa ra nhận định như sau: “Bằng tấm ḷng, chúng tôi chỉ muốn chứng minh rằng – cũng như kho tàng văn học dân gian VN –mảng kinh truyện của nhà đạo ḿnh bao gồm các thể loại (vè, văn, chương, khúc, ca, ngâm, tuồng tích, trong đó có “Cảm Tạ Niệm Từ”, thực sụ đă sắm một vai tṛ quan trọng. Không những trong đời sống đức tin-ḷng đạo của người tín hữu VN, mà c̣n góp phần vào đời sống ngôn ngữ của dân tộc ta nữa. Bởi v́ cho đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, với muôn ngh́n dâu bể, hệ luỵ mảng kinh vă trên đây vẫn không ngừng được ngân nga, xướng diễn trong nhiều cộng đoàn. Ngôn ngữ cùng cung giọng đặc thù của kinh văn nhà đạo, trong chừng mực nào đó, đă làm cho cái không khí phụng vụ và cầu nguyện thêm sắc màu lễ hội, thêm sốt mến thiêng liêng, hợp với nhịp rung cảm của tiếng ḷng. Đặc biệt là tháng này, khi tiết trời tàn Thu chớm Đông, đọc lại toàn bộ kinh sách của ca văn cầu hồn (Tứ Chúng, Tứ Mạt Ca, Kinh Vực Sâu, Kinh Cao Sang, Cảm Tạ Niệm Từ), tôi có cảm tưởng ḿnh đang lăng đăng dật dờ cùng cỏ hoa, sương khói, y như người đến với “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của thi hào Nguyễn Duy vậy. Từ Requiem đến vực sâu…”
4. Thầy cả Lữ - Yđoan (1613-1678) – Sấm truyền ca
Ở đây, chúng ta gặp được một bậc thi nhân Công giáo VN với đầy đủ ư nghĩa, cả về lịch sử lẫn giá trị nghệ thật văn chương. Lm Lữ-Yđoan, người đi tiên phong trong việc truyền giảng Tin Mừng bằng cách thi ca hoá Thánh Kinh Cựu ước, với tác phẩm trường thiên “Sấm Truyền Ca” , gồm 5230 câu thơ lục bát. Về sự kiện văn hoá lịch sử độc đáo này, GS Trần Thái Đỉnh bày tỏ cảm nghĩ : “…Vui mừng và hănh diện v́ ḿnh có một tài liệu quư giá như thế… đi sâu vào bản văn, người ta không thể không kính phục sâu xa đối với nền học vấn uyên bác khiến tác giả có thể ung dung vận dụng sự hiểu biết của ḿnh để đưa Thánh Kinh vào trong văn hoá dân tộc và sử dụng văn hoá dân tộc để tŕnh bày đạo lư của Thánh Kinh. Đây là công việc mà ngày càng được Giáo Hội mạnh mẽ khuyến khích, sau khi đă có những đổi mới rất táo bạo của Công Đồng Vatican II, như việc dùng tiếng nói của mỗi dân tộc thay cho tiếng Latinh làm ngôn ngữ phụng vụ…”[4]
Ơ thời kỳ này, ta có thể kể thêm về trường hợp của tác giả: Gioan Thanh Minh (1588-633) và Raphael Đắc Lộ ( 1611-1687) với Văn Thánh Giuse, Văn ông Tôbia.
II. THỜI KỲ NẢY LỘC-ĐÂM CHỒI (TK XVIII-XIX)
1. INÊ TỬ ĐẠO VĂN. Đây là một thiên trường ca (khuyết danh) gồn 563 câu thơ Nôm lục bát, kể chuyện cuộc tử đạo của một người phụ nữ VN có tên thánh là Inê (Agnès), xảy ra khoảng năm 1700, thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ở xứ Đàng Trong. Đến thế kỷ XIX, tác phẩm này được chuyển dịch sang tiếng Pháp, Anh và Latinh, để cùng với bản tiếng Việt (quốc ngữ), in song song với phần phụ lục cuốn “Từ điển latinh-Việt” của ĐGM Taberd (1794-1840), xuất bản tại Bengale (An Độ) năm 1838[5].
2. Lm.Philipphê Bỉnh (1759-1826). Theo Lm GS Thanh Lăng, Lm BỈnh đă lưu lại 26 tác phẩm viết tay về các thể loại, trong đó có cả thơ đạo, đời.
3. Lm Giuse Đặng Đức Tuấn (1815-1874). Quê quán tại B́nh Định, thuộc địa sở Công giáo kỳ cựu Gia Hựu. Năm 1848, thụ phong linh mục tại G̣ Thị. Nổi tiếng uyên thâm nho học, tinh thông Pháp, Anh, La ngữ. Ngoài 2 bản điều trần đệ tŕnh vua Tự Đức, sự nghiệp thi ca của ông rất đáng kể, đặc biệt 2 tác phẩm trường thiên: Việt Nam giáo sử Diễn Ca (670 câu thơ song thất lục bát) và Lâm Nạn Phụng Quốc Hành (566 câu thơ phức hợp).
4. Thánh Lm. Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853). Nguyên quán Cái Mơn (Bên Tre), thụ phong linh mục năm 1846. Là người cộng tác chí cốt với ĐGM Taberd trong việc biên soạn, ấn hành cuốn “Từ điển Việt-Latinh” , sáng lập viên thi xă và tác giả thi phẩm “Phi Năng Thi Tập”. Toàn bộ di cảo trên đă được sưu tập và hiệu đính[6].
Ngoài ra, c̣n có một số tên tuổi lớn như: Nguyễn Trường Tộ (1830-1871); Phạm Trạch Thiện (1811-1903) với Văn Dâng Hoa, Văn Đức Bà Rosa; Lm Trần Lục (1825-1899) với ca Vè Cụ Sáu; Petrus Trương Vĩnh Kư (1837-1898), một danh nhân văn hoá lớn của Việt Nam[7].
III. THỜI KỲ ĐƠM HOA KẾT TRÁI (TK XX)
Làn gió thơ mới ở VN ta khởi đi từ Nguyễn Văn vĩnh (Đông Dương Tạp chí), từ Tản Đà (An Nam Tạp Chí), từ Phan Khôi (Phụ Nữ Tân Văn) ở những thập niên đầu thế kỷ XX. Thơ mới dấy lên thành phong trào nhờ Tự Lực Văn Đoàn với những cây đa cây đề như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Huy Cận… ở những năm 1930-1945. Ḍng chảy thi ca Công giáo cũng nương theo một nhịp vồn vă, rộn ràng như thế. Ơ đây, chúng tôi xin khái quát một số tác giả tác phẩm nổi bật nhất để làm bằng chứng. Tất nhiên chỉ là sự lựa chọn chủ quan của nhà đạo, c̣n phải đợi lịch sử, thời gian và công chúng tiếp tục đánh giá thêm về sau.
Bổ sung vào thời kỳ nở rộinày của thi ca Công giáo Việt Nam, có thể kể tới kho tàng Vè Văn, kinh văn, Tuồng Tích đạo (đang trôi dạt và sẽ bị lăng quên, nếu không được đầu tư, sưu tập) và những tác giả: Nguyễn Hữu Bài (1863-1935); Mai Lâm (1915-1992); Phạm đ́nh Tân (1913-1992); Hồ Dzếnh (1916-1981); Bàng Bá Lân (1912-1988); Tống Viết Toại, Long Giang Tử, Vơ Long Tê, Xuân Ly Băng, Phạm Đ́nh Khiêm, Vũ Văn Kính, Cao Vĩnh Phan, An Sơn vị, Vũ Đức Trinh, Quách Thoại, Hoàng Kim, Nguyễn Duy Diễn, Lê Đ́nh Bảng, Trăng Thập Tự, Nguyễn Tầm Thường, Đơn Phương…
SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG – NGUYỄN XUÂN VĂN
TRÊN LỘ TR̀NH HỘI NHẬP VĂN HOÁ.
I. HỘI NHẬP VĂN HOÁ, CON ĐƯỜNG TƠ LỤA CỦA HỘI THÁNH
Đêm nay, trời trở lạnh. Suốt từ An Chỉ, Gia Hựu, G̣ Thị, Làng Sông, Ghềnh Ráng về Sông Cầu, Măng Lăng, Hoa Châu, Đông Mỹ, Tuy Hoà, Phú Yên. Qui Nhơn như vào hội mùa xuân, mùa xuân của văn chương, của thi ca Công giáo. Hạnh phúc cho tôi dường nào, khi được nói đôi điều về người con ưu tú NXV và SĐTT của miền đất Qui Nhơn thiêng thánh này. Hồn tôi, thú thật, lúc này đang ngất ngây, bay bổng, dâng triều. Bởi tôi đang th́ thầm nhẩm lại những lời dạy bảo ngọt ngào đầy tính tiên tri, đầy sức nhạy cảm của Hội Thánh mà tôi yêu ở buổi hừng đông ấy. Không ngất ngây sao được, khi tôi đọc lại những tâm t́nh thiết tha thấm đẫm từng câu chữ:
1. Trong Huấn Dụ của Bộ Truyền Giáo, 1659 gửi 2 vị chủ chiên tiên khởi của giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài: “Đừng t́m cách, đừng t́m lư lẽ để thuyết phục các dân tộc thay đổi nghi thức, tập tục và phong hoá của họ; trừ phi điều đó trái ngược hẳn với tôn giáo và luân lư…đừng đem đến cho các dân tộc ấy cái xứ sở của quư vị. Mà chỉ đem đức tin, một đức tin không khước từ, cũng không làm tổn thương các nghi thức và tập tục của các dân tộc nào… Quư vị hăy t́m cách làm quen với những tập tục đó…”
2. Trong Công Đồng Vatican II (1962-1965). Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”.
3. Trong Tông Huấn ”Rao giảng Tin Mừng” , 1975. Bi kịch của thế giới chúng ta là sự đoạn tuyệt giữa Tin Mừng và Văn Hoá
4. Trong các Tông Huấn-Sắc chỉ của triều đại ĐGH Gioan-Phaolô II: 1979 với Uỷ Ban giáo Hoàng về Thánh Kinh; 1980 diễn văn đọc tại Nairobi; 1982 thiết lập Hội Đồng Giáo Hoàng về văn hoá; 1998 diễn văn khai mạc Thượng HĐGM châu Á; 1999 tài liệu về “Mục Vụ Vă Hoá.”
II. SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG, ĐƯỜNG ĐI ĐĂ TỚI.
1. Hội Nhập Văn Hoá, một nỗ lực không mệt mỏi.
Đọc lại và kiểm nghiệm lịch sử Giáo Hội và Công giáo ở VN, phải thành thật nh́n nhận rằng, ở mỗi nơi, mỗi thời và mỗi phạm vi, với nhiều mức độ đậm nhạt khác nhau, hội nhập văn hoá luôn luôn diễn ra, tiếp biến không ngưng nghỉ. Có thể là bảo thủ, hoài cổ, tŕ chậm. Cũng có thể là cấp tiến, nóng vội, quá đà. Điều đáng mừng là nó đă có, nó vẫn đang chuyển động ở một số lĩnh vực mà ta cảm nhận được.
a. Về ngôn ngữ:
Từ tiếng Latinh đến tiếng Việt. Một hành tŕnh dài. Đây là một trong những nổ lực hội nhập văn hoá để rao giảng Tin Mừng của các giáo đoàn phương Tây khi đến Việt Nam. Họ đă “Học ăn, học nói, học gói, học mở” với đồng bào địa phương. Ơ đây, tôi chỉ nhấn mạnh đến vấn đề ngôn ngữ, chiếc cầu nói giữa người với người, giữa đạo với đời, không có không được. Ngay từ buổi đầu, đă có một loại tiếng nói khác – song song tồn tại bên cạnh tiếng nói của đời sống xă hội – được h́nh thành và sử dụng trong giao lưu rộng răi, như một chuyển ngữ mà ta thường gọi là “tiếng nói truyền đạo” hay “ngôn ngữ nhà đạo” . nó mở cánh cửa nhà thờ, nhà ḍng mà đi ra ngoài đời. Đó vốn là tiếng nói của địa phương, do các nhà truyền giáo làm phương tiện để giao dịch với người bản địa trong các sinh hoạt của ḿnh. Khi mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài ranh giới địa lư, các nhà truyền giáo này vẫn tiếp tục sử dụng tiếng nói đó; và trên thực tế, đă biến nó thành một thứ chuyển ngữ đặc thù có thể áp dụng cho cả những nơi khác. Cũng có trường hợp các hoạt động tôn giáo do phương tây đưa vào đă được dân tộc hoá đi rồi, nhưng tiếng nói trên vẫn tồn tại. Cho nên nói đến ngôn ngữ nhà đạo là nói đến một di sản văn hoá đức tin vô cùng quư giá c̣n đậm đặc trong kinh sách lễ nhạc và cả trong nề nếp suy nghĩ, nói năng, biểu cảm, giao tiếp đời thường nữa. Có điều là nên chăng, xem xét lại, gạn đục khơi trong để đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội, đồng thời bắt nhịp được bước đi, hơi thở của đời sống, của ngôn ngữ dân tộc ḿnh.
b. về ḷng đạo b́nh dân. Thể hiện rơ nét nhất ở:
- Nghi lễ: những sáng kiến bên lề phụng vụ: ngắm lễ, văn hang đá, văn sinh nhật, tuồng thương khó, ngắm đứng, than thánh giá, than mồ, lần chuỗi, dâng hạt, dâng hoa, rước sách, kiệu cờ theo ngôn ngữ và cung cách Việt Nam.
- Am nhạc: từ b́nh ca bằng tiếng Latinh (sách hát Rôma), từ nhạc lời pháp (Cantique) lời Việt, từ cung kinh, cung sách, cung nguyện gẫm ở mỗi địa phương cho đến sự ra đời của các nhạc đoàn. Các tác giả đă h́nh thành một nền âm nhạc Phụng Vụ Công giáo (thánh nhạc thánh ca).
- Kiến trúc: Nhà thờ, nhà nguyện, đền thánh, nhà ḍng, chủng viện, nhà ở, bàn thờ, nghĩa trang, đài tưởng niệm.
- Mỹ Thuật: ảnh tượng dụng cụ thánh, các làng nghề truyền thống Công giáo (lễ phục, cờ xí, chuông trống, đan lát…)
c. Về văn học:
Kinh sách, truyện tuồng, vè văn, ca, ngâm, chương, khúc… đặc biệt ḍng thi ca Công giáo (như đă tŕnh bày ở trên.
2. Sứ điệp T́nh Thương, một mùa gặt bội thu
a. Từ một hoàn cảnh sáng tác đặc biệt
Có lẽ SĐTT đă được thai nghén và ương ấp suốt từ những năm ở quê nhà B́nh Định, tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943), ở đại chủng viện Qui Nhơn (1943-1948), những năm đi giúp xứ (1945-1956), những năm mục vụ ở Đà Nẵng (1956-1957) và đặc biệt những năm 1977-1981 trong một điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn ở Mằng Lăng, Tuy Hoà, Phú Yên. Để rồi, qua sự động viên, nâng đỡ rất hào hiệp của TGM Qui Nhơn, tác giả Nguyễn Xuân Văn đă sinh thành đứa con tinh thần tṛn trịa, tâm đắc nhất là SĐTT. Để viết SĐTT, tôi nghĩ, Nguyễn Xuân Văn đă phải kinh qua nhiều chặng đường thánh giá, với những giờ chầu lặng lẽ bên Thánh Thể, những thánh lễ hằng ngày, những giờ kinh nguyện, những giây phút trầm tư, kể cả những mặc khải mầu nhiệm riêng tư nào đó trong đời mục vụ. Tất cả cô đúc lại thành hơi thở, thành máu thịt, thành lời, thành vần điệu. Có mồ hôi sôi trên lưng của bác nông dân. Có mùi vị ngọt của mật đường. Có khói thuốc vấn và có cả sỏi đá nhọc nhằn của B́nh Định, Phú Yên nữa. Như người mẹ mang nặng đẻ đau. Phải chắt chiu và đấu tranh nghiệt ngă lắm Nguyễn Xuân Văn mới có được SĐTT trao cho chúng ta. Tự nhiên tôi liên tưởng đến cha sở Léopold Michel Cadière (1869-1955) hạt trưởng hạt Di loan- nhà VN- Huế học bậc thầy đă có lúc phải thốt lên những lời cay đắng về cái thế giằng co vật lộn giữa trách nhiệm của người mục tử với xứ đạo con chiên và nỗi đam mê nghiên cứu viết lách, có vẻ không mấy cần thiết! Hà cớ ǵ, ông cha sở lại phải động năo, chấp bút để làm thơ nhỉ? Tôi tin Nguyễn Xuân Văn cũng ở t́nh cảnh thập giá và vinh quang ấy.
b. Qua lời giới thiệu rất trân trọng.
Để được đấng bản quyền chuẩn nhận theo phép tắc nhà đạo (Nihil obstat và Imprimatur) đă là một trường đoạn. Theo linh mục P. Vơ Tá Khánh[9], khi viết SĐTT ở giáo xứ Mằng Lăng chỉ có một tủ sách rất nghèo nàn, tứ tán sau biến cố 1975. Đại để là phải dựa vào quyển Phúc Am Tổng Hợp của Senatus Sài G̣n 1972. Có nghĩa là Nguyễn Xuân Văn phải khổ công đọc, sắp xếp, dàn dựng làm sao vừa sát câu chữ của Tin Mừng, lại vừa mang phong cách của thi ca Việt Nam. Tôi nghĩ đến nhiều tác giả đă dựa vào Daniel Rops để diễn tả Phúc Âm. Nguyễn Du dựa vào Thanh Tâm Tài Nhân để viết truyện Kiều. C̣n Nguyễn Xuân VĂn th́ phải tái tạo, làm mới từ số không… Hèn chi mà SĐTT đă được đọc, được động viên và được Lm Tổng Đại Diện giáo phận Qui Nhơn lúc ấy là cha Phêrô Nguyễn Soạn giới thiệu một cách trọng thị như thế này : “Trong tinh thần Hội Nhập Văn Hoá, với ước mơ mănh liệt tung gieo Lời Chúa muôn nơi, linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đă diễn giảng cuộc đời Chúa Giêsu Cứu Thế qua 9764 câu thơ kết thành một kiệt tác vừa đượm tính cách dân gian, vừa bộc lộ ư nghĩa sâu xa của giáo lư Kitô giáo. Đây quả là một phối hợp tuyệt vời giữa cái cao siêu của lời Chúa và hồn thơ lai láng của thi sĩ”.
c. Qua sự đồng cảm của dân chúng
Chỉ trong ṿng hai năm, SĐTT đă được tái bản (NXB Thuận Hoá 1998 và NXB tôn giáo 2001) với 2000 bản. Con số ấy đối với thi ca Việt nam là một hiện tượng không tin được. Là người yêu thơ, làm thơ và in thơ, tôi biết rơ chuyện này (cứ hai ngày có một tập thơ ra đời và mỗi tập thơ chỉ dám in 500 cuốn, vừa bán vừa tặng vừa cho phải mất từ hai đến 5,6 năm mới hết. Hú hồn!). Số phận nhà thơ và thi phẩm ở Việt Nam ta thật hẩm hiu! Trong khi đó th́ một năm kể từ ngày qua đời, Nguyễn Xuân Văn đă được đông đảo công chúng yêu thơ đồng cảm. Hẳn chúng ta c̣n nhớ giáo phận Qui Nhơn ngày ấy trong quang cảnh và tâm t́nh của lễ tang trọng thể, xúc động khi đưa tiễn tác giả từ Tuy Hoà về nghĩa trang Làng Sông như thế nào. Có thể quay lại thước phim tưởng niệm 100 ngày (19/04/2002) tại TPHCM với sự hiện diện chủ sự phát biểu rất ngưỡng mộ của ĐGM Giuse Vũ Duy Thống (Chủ tịch Uỷ Ban về Văn hoá), của giới văn nghệ sĩ tên tuổi như các cụ Vũ Văn Kính, Bàng sĩ Nguyên, Phạm Đ́nh Khiêm, các nhà thơ nhà văn, linh tông, huyết tộc, thân hữu gần xa. Kể cả một chương tŕnh thánh lễ, giao lưu gặp gỡ, toạ đàm, ngâm thơ, ca hát về Nguyễn Xuân Văn và SĐTT. Đặc biệt hôm nay ở cấp bậc giáo phận đă đó – theo cha sở Giuse Trương Đ́nh Hiền – Trưởng BTC – những ngày lễ cáo gia tiên trong dịp kỵ nhật tiên tổ và toạ đàm mang tính tưởng niệm, cảm nhận thiêng liêng về linh mục nhà thơ FX Nguyễn Xuân văn. Tôi nhớ một văn hào Pháp đă nói, cái chết đă san bằng tất cả; nhưng có những cái chết trở thành tất tửi.
3. Sứ điệp t́nh thương trong ḍng chảy văn học Việt Nam
Nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá Việt Nam có đưa ra nhận định khá lư thú: “Việt nam là đất nước của thi ca”. Có nghĩa, bẩm sinh người Việt Nam đă là thi sĩ (natus poeta). Người Việt ḿnh hầu như ai cũng thích đọc và có khả năng làm thơ, nhất là thơ lục bát. Văn hoá gốc nông nghiệp trọng âm, trong t́nh cảm, tất yếu sẽ có khuynh hướng thiên về thơ; văn hoá gốc du mục trọng dương, trọng lư trí, tất yếu dẫn đến khuynh hướng thiên về văn xuôi[10]. Thống kê trên hai tập “Từ điển Văn học”[11]cho thấy, trong 198 mục từ tác phẩm văn học phương Tây th́ có 43 thơ và 115 văn xuôi (tỷ lệ văn xuôi là 78,3%). C̣n trong 95 mục từ tác phẩm văn học th́ có 69 thơ và 26 văn xuôi (tỷ lệ thơ chiếm 72,6%). Cụ thể từ văn học dân gian truyền khẩu (ca dao, tục ngữ, thành ngữ, đồng dao) cho đến văn chương bác học thành văn (Trê Cóc, Trinh Thử, Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Hoa Tiên Truyện, Mai Đ́nh Mộng Kư, Chinh Phụ Ngâm Khúc, Kim Thạch Kỳ Duyên, Lục Vân Tiên, Đoạn Trường Tân Thanh…). Tất cả đều là thơ và thơ, cho dù là giáo huấn, truyện kể. Trong ḍng chảy văn học Việt Nam ấy, thi ca chiếm lĩnh thế thượng phong. Và trong ḍng chảy thi ca Việt Nam ấy, cũng đă có SĐTT của Nguyễn Xuân Văn, như một tiếp nối, một kế thừa với liều lượng và giá trị xứng đáng.
4. Sứ Điệp T́nh Thương, Thuyền chở đạo.
Có cường điệu chăng, khi tôi nói con đường gần nhất, tuyệt vời nhất để đến với Chúa là con đường của thi ca? thơ là đạo, là đường, là đời Chúa, đời ta. Đạo là lời của Thiên Chúa mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta, như thánh Gioan đă nói.
Từ ngàn xưa, lời Chúa, bằng con đường thi ca đă được các bậc thánh nhân, tiên hiền thêu hoa dệt gấm để đến, để làm của nuôi linh hồn mọi người, mọi nơi. Từ Đa-vít với những Thánh Vịnh hiểu theo nghĩa Thánh Vịnh là thi ca tôn giáo, nhằm diễn tả tâm t́nh của người cầu nguyện trong quan hệ với Thiên Chúa, cho đến Diễm T́nh Ca – Cựu ước, thư của Phaolô, Kinh hoà b́nh của Phanxicô Assisi, những ca khúc tâm linh của Gioan Thánh giá, truyện một tâm hồn của Têrêxa Hài Đồng… Tất cả lại là một nẻo đường thi ca. Rất thánh mà cũng rất người. Rất trọng vọng mà cũng rất lăng mạn, huê t́nh. Ơ Việt Nam, như trên đă nói, Tin Mừng đă được thi ca hoá, gieo vào ḷng các tín hữu thật sâu, thật bền. Thuộc ca dao, thuộc Kiều và cũng thuộc kinh sách, ca văn đạo. Tức là thuộc thơ. Ngôn ngữ Việt Nam, tâm hồn người Việt Nam đẫm chất thơ. Hễ là thơ th́ dễ thuộc, dễ nhớ, dễ ngâm nga, ru ḿnh, ru người, ru đời. Nhưng để hát ḥ, ngâm nga cho điệu nghệ, phải là thơ lục bát. Như thế nó mới toát ra cái hơi ngọt lẳng của sa mạc, bồng mạc, c̣ lả, hát xẩm, ca trù, quan họ, chiếu chèo như người bắc bộ; như thế mới thấm sâu cái hơi ḥ u uất, hệ luỵ của Huế, Trung bộ; và như thế mới toả lan trên sông nước kinh rạch của ầu ơ ví dầu, của cải lương Nam bộ. Cho nên, không là ǵ tử thuở hừng đông khi đạo Chúa vào Việt Nam đến nay, tổ tiên ta vẫn lựa chọn thi ca để chuyển tải Tin Mừng, cho đó, lục bát là một hiện tượng, một chỗ ngồi riêng biệt. Dường như với thơ lục bát, các nhà thơ Việt Nam xem ra có vẻ dài hơi hơn, tṛn vành rơ chữ hơn, thấu lư đạt t́nh hơn, bát ngát thăng hoa hơn. Tôi muốn nói đến hiện tượng lục bát trong thi ca Việt Nam. Cứ nh́n ngược về văn học cổ điển, cận đại, trung đại. Cứ nh́n xuôi về văn học hiện đại, sẽ thấy nổilên chói là những chùm sao; Từ ca dao, đồng dao, từ những truyện thơ Nôm khuyết danh cho đến truyện Kiều. Từ những phiến tài hoa như Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Hồ Dzếnh, Tế Hanh, Bàng Bá Lân và nay là Nguyễn Xuân Văn. Riêng việc lục bát hoá Phúc Am xưa nay đă có khá nhiều người dụng công, dụng sức. Nhưng để gọi là diễn ca Phúc Am bằng thơ lục bát Việt Nam ở mức độ nghệ thuật, có lẽ duy chỉ một ḿnh Nguyễn Xuân Văn xứng đáng chiếm giải khôi nguyên. Ong ngồi riêng một chiếu, chiếc chiếu hoa cạp điều, được dệt bằng cây cói thơm mùi hương dầu của biển, của đất của người Phú Yên này. Đây là điều bước đầu tôi đă ghi nhận khái quát ở lời bạt, ngay khi tác phẩm SĐTT ra mắt công chúng. Tôi nhớ có một lần đă lâu lắm, nhà thơ nhà báo Trần Dạ Từ (khôi nguyên về thơ, giải thưởng văn học nghệ thuật, 1970) kể chuyện. Trọng một buổi mạn đàm về về thơ, nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh (chủ soái sáng lập nhóm nhà văn Hàn Thuyên trước 1945, cùng với Đồ Phồn, Trương Tửu, Đặng Thai Mai) giữa lúc hứng chí, đă quên cả tuổi già để đứng dậy, bắt chước nhịp đi của một người Việt Nam thời trước. Ong vừa đi vừa cong vai, vừa phe phẩy tay theo bộ tịch một người đang gồng gánh. Ong nói, đây này, ông cha ḿnh ngày xưa đă đi đứng thế này. Người ḿnh là con nhà nông, luôn luôn có gồng gánh. Gồng gánh ở hai đầu tŕ xuống, tạo thế quân b́nh đặc biệt cho bước chân đi theo nhịp chẵn, đều đặn, kĩu kịt, liên tục, nhịp nhàng. Cái thơ lục bát của ḿnh nó có là do cái thế đi đặc biệt ấy.[12]
Tại sao tôi không đả động ǵ đến các thể loại thơ khác nhau cho đa dạng, đỡ nhàm tẻ, mà cứ phải nhắc lại cái điệp ngữ “Lục bát”? Bởi nó đă thành huyết mạch mà cha ông ta xưa và nay đến lượt Nguyễn Xuân Văn đă sử dụng để thác ngụ t́nh ư. Là kẻ “bảo hoàng hơn vua” chăng? Là người gác cửa ngôi đền quá khứ, cứ mải mê đi theo cái khuôn sao cũ rích chăng? Thưa, không. Hoàn toàn không. Lục bát tự nó thở ra từ máu thịt con người Việt Nam. Chẳng cần sự bảo vệ và biện hộ tầm thường của tôi. Nó vẫn sống phơi phới và măi lung linh trên bầu trời thi ca. C̣n dân tộc, mới là Việt Nam. Khối người đă từng viết, viết nhiều theo thể lục bát – một thể thơ dân tộc tinh ṛng và thuần khiết nhất – mà vẫn cứ lạc điệu, lai căng theo kiểu clonaid – nhân bản vô tính. Rất vè, rất kiểu cọ, chẳng dân tộc tí nào.
Tôi nói đến 9764 câu thơ lục bát của SĐTT v́ chúng đă ở trên đỉnh cao có thể ngang tầm với ca dao, đồng dao và những nhà thơ phù thuỷ về lục bát như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính. Đây là một trường hợp đặc biệt nhất trong cơi thi ca nhà đạo ḿnh. Tôi chọn lục bát v́ nó là hơi thở, là máu thịt, là tần số trái tim người Việt Nam. Cứ ung dung, nhẩn nha, đủng đỉnh. Chả cần hối hả, khúc mắc, vội vàng ǵ. Nói như nhà thơ Nguyễn Đ́nh Thi, lục bát là hơi thở của người Việt. Nói tự nhiên như hơi thở con người, bởi thế thơi mới so le câu dài, câu ngắn, khong đều nhưng đi bằng đôi nhân nhịp chẵn (thường là hai từ một 2/2/2). Hít sâu vào th́ ngắn, thở ra th́ dài. Hít sâu vào huyệt đan điền. Thở ra tới cơi vô biên đời người. Đây là một thể thơ thông dụng, rất dễ viết, ai cũng viết được, mở miệng là nói được, kể cả những người ít học, thậm chí nhiều bà mẹ quê không biết chữ cũng nói thơ, thuộc thơ lục bát hơn cả những bậc tài trí uyên thâm. Nhưng viết lục bát cho hay, cho đẹp, cho bay bướm, cho thành thi ca th́ khó vô cùng. Những tưởng sau truyện Kiều, với “lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”, lục bát đă khép lại, đă đụng trần, không ai dám bén mảng đến chân đến cái toà lâu đài cao ngất và sang trọng ấy nữa. Nhưng không phải thế. Nó c̣n mở ra bao nhiêu cánh cửa bát ngát để thử tài, thử bút lực, thử thi pháp của các thi sĩ cùng những người yêu mến, muốn thưởng thức nó. Nói một cách thông thái như nhà văn Nguyễn Tuân th́, anh bảo anh là nhà thơ Việt Nam ư? Vậy anh hăy cho tôi đọc vài câu thơ lục bát của anh, tôi sẽ nói cho anh là hạng bậc thi sĩ thế nào.
SĐTT và Nguyễn Xuân Văn xứng đáng để tôi khẩu phục tâm phục ở chỗ nó dám góp mặt, góp với lời với cơi thi ca lục bát tài hoa của các bậc tiền bối mà không sợ kém cạnh hay mặc cảm tự ti.
Hơn nữa, cái hay, cái đẹp, cái giá trị của SĐTT không chỉ ở câu chữ, ở độ dày, ở chiều dài gần gấp ba lần Truyện Kiều, mà c̣n ở cái thần, cái hứng, cái ư, cái tứ làm nên hồn vía phảng phất, bàng bạc hoặc sâu lắng ở đằng sau, ẩn sâu bên trong những con chữ, những vần điệu kia. Đúng như nỗi khát khao cháy bỏng của tác giả Nguyễn Xuân Văn gửi gắm rất nhiều trong SĐTT là dùng thi ca, thơ lục bát để trao gởi lời Chúa đến mỗi người. Chẳng phải chuyện tầm phào, trà dư tửu hậu của thế nhân thường t́nh, mà là chở đạo đến chổ nước sâu, xa bờ, xa khơi, mong cho thuyền đầy cá. Chỉ cần đọc lại một trích đoạn:
“Lời sao nặng cả ngàn cân
nghe êm như suối hồng ân chảy về
Lời sao thắm thiết t́nh quê
Nghe rưng nước măt, nghe mê mẫn người
Lời sao như vọng từ trời
Nghe ra như gọi, như mời tội nhân
Lời sao như gột ḷng trần
Như lôi đất thấp đến gần trời cao”.
(SĐTT lời phi lộ)
sự thành công của SĐTT rơ ràng hiện ra ở nhiều mặt, nhiều góc độ. Như tham luận của các thuyết tŕnh viên: Lm nhạc sĩ Anh Đăng, nhà giáo Nguyễn Tiệm, nhà thơ Nguyên Đạt. Với mỗi người trong chúng ta, chắc hẳn cũng có những cảm nhận ngưỡng mộ khác nhau. Riêng bản thân tôi sau khi đă đọc xong SĐTT như một tâm nguyện, như một lệnh truyền. Hệt như Đa-vít viết và ca hát Thánh Vịnh trước ḥm bia Thiên Chúa. Thơ là thần lương. Thơ gợi hứng, gợi cảm. Thơ là cầu nguyện bằng bản văn nóng rực Thần Khí, để rồi hơi thơ của làn hương cầu nguyện bay lên tới cơi thiên đường. Nói khác đi, thơ là thần học, một thuật ngữ mang tính tự trải nghiệm như văn hào Ư Giovana Boccacio (1313-1375), là suy niệm về vị thế của thơ (situation de la Poésie) của Jacques Maritain, 1938, của Paul Claudel, của Charles Péguy, của Tagore… Đọc, hiểu và cảm thơ lục bát của Nguyễn Xuân Văn trong SĐTT theo cái nghĩa ấy, tức là ta đi vào lộ tŕnh của Hội nhập văn hoá của tác giả vậy. Từ nay, với SĐTT, con đường tơ lụa ấy đă tới gần, đă leo lên tới đỉnh, để nh́n thấy và nhận ra Tin Mừng. Viết tới đây, tôi bồi hồi nhớ lại có lúc Hàn Mạc Tử chỉ có một một ước mơ tầm thường là được đọc trọn vẹn pho sách Thánh Kinh, mà không có! Xin cảm ơn lm nhà thơ FX. Nguyễn Xuân Văn. Xin cảm ơn SĐTT. Từ nay, ai nấy có thể mang theo bên ḿnh, gối đầu giường một pho sách thiêng liêng làm của nuôi linh hồn, pho sách ấy chính là SĐTT. Đúng là đức tin đă được trở thành văn hoá.
KẾT LUẬN
Xa thật xa, bằn bặt trước cả Công đồng Vatican II và Thượng HĐGM châu Á, Giáo Hội đă lên đường. Lên đường và ra khơi, càng lúc càng trở nên thúc bách trong nhu cầu HNVH. Hành tŕnh ấy mở ra muôn dặm bát ngát, nhưng cũng điệp trùng những phức tạp, gập gềnh. Ngày nay, đặc biệt lúc này, khi đấm ngực tự thú để nh́n về các châu lục mênh mông, đặc biệt châu Á biển người, châu Á đa văn hoá, đa tôn giáo, đa sắc tộc, nhu cầu HNVH vẫn đang mời gọi chúng ta.
Hơn 400 năm vào Việt nam, Tin Mừng của Chúa đă thấm nhập bằng nhiều cách, ở nhiều mức độ khác nhau. Với sức mạnh của Thần Khí, với vận dụng sáng tạo của nhiều thế hệ, Tin Mừng đă trở thành Đức Tin và Ḷng Đạo, thành máu thịt của tín hữu Việt Nam. Không giống các dân tộc khác, người tín hữu Việt Nam đón nhận và sống dồi dao Tin Mừng theo cung cách riêng của ḿnh, của một dân tộc “quí sĩ trọng nông”, của một dân tộc vất vả lầm than, nhưng luôn luôn ước mơ chắp cánh bay lên. Thi ca như con thuyền chở đạo, có khúc, có lúc, để cập bến, lên bờ.
Tất nhiên hành tŕnh HNVH vẫn c̣n mở ra nhiều góc biển chân trời, những chỗ xa bờ, những vịnh nước sâu, nhiều sóng gió. Cả ngư phủ và hành khách đều phải ra sức chèo chống. Cha ông ta đă mở nẻo, chỉ đường bằng con đường tơ lụa của thi ca. Tác giả Nguyễn Xuân Văn với SĐTT ở thời đă măn, nhắn gửi chúng ta đồng hành với Ngài trên lộ tŕnh thênh thang ấy.
Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận t́nh. T́nh bất tận ư. Cho phép tôi dừng lại v́ ngày đă tàn và đêm đă khuya đă chớm. Thắp hương gọi hồn cụ Nguyễn Du, xin mượn câu thơ kết thúc 15 năm đoạn trường của nàng Kiều để thay lời muốn nói, lời chia tay của tôi đêm nay:
“Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”.
Tuy hoà, ngày 10.01.2002