ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU CÂU THƠ TRONG SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG

 

Theo Ferdinand de Saussure viết trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” thì trí tuệ nắm được bản chất của những mối quan hệ giữa các yếu tố trong từng trường hợp khác nhau. Trong cuộc sống tồn tại bao nhiêu thứ quan hệ thì đầu óc con người có bấy nhiêu chuỗi quan hệ liên tưởng.

Ý niệm con người được gợi lên từ một cảnh vật, một hành động, một tình cảm, một ý nghĩa không phải chỉ đơn độc mà thường gợi lên cả một hệ thống tiềm tàng. Trong quá trình viết Sứ Điệp Tình Thường, Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã liên tưởng từ nhiều sự kiện khác nhau để tạo ra những kết cấu câu thơ ở dạng đơn thể hoặc đa thể khá độc đáo.

Sau đây là một số nhận xét của tôi khi tìm hiểu về cách kết cấu câu thơ trong một số đoạn thơ của thi sĩ.

 

I - KẾT CẤU CÂU THƠ ĐƠN THỂ:

Đây là những cách kết cấu đơn giản rất thường gặp trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Có thể kể ra một số cách kết cấu như sau:

1- Kết cấu thể  phú:

Trong thể này khi muốn mô tả về cảnh vật, đối tượng hay một sự kiện nào thì tác giả nói trực tiếp về vấn đề đó.

Ví dụ để diển tả cảnh các thầy thông luật và biệt phái muốn gài Chúa Giêsu vào thế bí trong vụ phân xử người đàn bà ngoại tình, nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã đi thẳng vào vấn đề.

Sáng sau vừa rạng chân trời,

Chúa vào đền thánh tiếp lời giảng khuyên.

Bàn dân hội trước diện tiền,

Thầy thông, biệt phái ngang nhiên tiến vào.

Dẫn theo một ả má đào,

Đặt ngay trước Chúa cất cao giọng trình:

“Nghe Thầy lý đoán công minh,

Đây là thủ phạm ngoại tình quả tang.

Mai- sen luật đã rõ ràng,

Tội hình ném đá pháp tràng xử ngay.

Tạm quyền dẫn độ tới đây

Chờ nghe Tôn Ý vụ này ra sao?” (3637 – 3648)

2- Kết cấu thể tỉ:

Trong thể này, muốn nói ý gì, tác giả không nói thẳng ra mà mượn một sự vật ở bên ngoài làm tỉ ngữ để người nghe ngẫm nghĩ mà hiểu lấy cái ý ngụ ở trong.

Ví dụ trong vườn Cây Dầu, sau những đấu tranh tư tưởng về việc chấp nhận khổ giá, Chúa Giêsu đã nhận thức hạnh phúc của Ngài chính là vui nhận Thánh ý của Thiên Chúa Cha. Cái tâm trạng vui nhận đó được tác giả ví như “mây đen biến mất trăng trong sáng ngời”, với sự động viên của “gió lùa qua lá tìm lời”.

Đất trời như cũng cầu mong

Mây đen biến mất trăng trong sáng ngời

Gió lùa qua lá tìm lời

Thi nhau rủ rỉ giục Người ra đi.

“Vì Cha đâu có tiếc gì

Vì đời đâu có ngại chi với đời”. (7647 – 7652)

3- Kết cấu thể hứng:

Đây là nói về tình của con người nhân cảm xúc vì một vấn đề nào đó mà bộc lộ ra. Trong thể này, tác giả thường tả một cảnh, một vật hay một điều gì làm câu khai mào, rồi sau đó mượn đấy mà tiếp tục ý mình muốn nói.

Ví dụ trong vườn Cây Dầu, cái cảm xúc trước cảnh:

Bầu trời tím ngắt một màu

Vầng trăng lơ lửng trên đầu mét meo

Cỏ cây ủ rủ buồn teo

Người sầu cảnh cũng sầu theo với Người (7605 – 7608)

đã khiến cho Chúa Giêsu càng buồn cho lòng người chai đá và hờ hững trước những lời mời gọi yêu thương của Ngài.

Ngổn ngang tâm sự bời bời

Lấy ai chia sẻ ngỏ lời với ai?

Người đời dạ đá lòng chai

Ra công mấy nữa cũng hoài công thôi

Vì ai chịu cực đền bồi

Để ai hờ hững buông trôi tháng ngày. ” (7609 – 7614)

II- KẾT CẤU CÂU THƠ ĐA THỂ:

Ngoài cách kết cấu câu thơ đơn thể, nhà thơ Nguyễn Xuân Văn còn phối hợp những cách kết cấu đơn thể tạo nên những cách kết cấu câu thơ đa thể như sau:

1- Kết cấu thể phú và tỉ:

- Từ thể phú khi mô tả trực tiếp sự kiện Đức Mẹ đi thăm nuôi bà Gia- cai:

“Chị em tâm sự bên nhau

Tin Mừng chia xẻ thêm sâu ân tình. (thể phú) (219 – 220)

Nguyễn Xuân Văn đã chuyển qua thể tỉ khi Đức Mẹ đã trở nên “ánh bình minh” và “rạng ngời dưới mái gia đình bà con”:

Maria như ánh bình minh

Rạng ngời dưới mái gia đình bà con. (thể tỉ) (221 – 222)

- Hoặc khi nhận định về việc Chúa Giêsu chữa người bị quỉ ám, tác giả đã dùng thể phú khi nhận định “bất bình là chuyện thường tình”, nhưng khi sử dụng từ “con quạ mỉa mai” thì đã sử dụng thể tỉ để diễn tả sự so sánh này.

Đầu cành con quạ mỉa mai

Đem heo cho quỉ để ai bất bình. (thể tỉ) (2407 – 2408)

Bất bình là chuyện thường tình

Nào ai cân nhắc trọng khinh cho nào? (thể phú) (2409 – 2410)

2- Kết cấu thể phú và hứng:

- Từ thể phú khi mô tả sự kiện Đức Mẹ mang thai:

Xuân sang rồi hạ cũng sang

Cho hoa đổi sắc cho nàng thay dung. (thể phú) (275 – 276)

Tác giả đã diễn đạt tâm trạng “gói kín ẩn tình” của Thánh Giuse và đi đến quyết định “bôn đào” của ngài.

Giu- se lòng dạ tín trung

Đâu ngờ có chuyện lạ lùng phát sinh

Buồn phiền gói kín ẩn tình

Như người nằm mộng thấy mình chiêm bao

Âm thầm tính chuyện bôn đào

Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn. (thể hứng) (277 – 282)

- Hoặc diễn tả cái hang lừa nơi Chúa Giêsu hạ sinh hoang vắng “rêu phong”, ô nhiễm “nặng mùi rác rưởi”, và đầy dịch bệnh “muỗi mòng vo ve”.

Trong ngoài bụi đóng rêu phong

Nặng mùi rác rưởi, muỗi mòng vo ve. (thể phú) (339 – 340)

Tiếp đó nhà thơ nói lên cái tâm trạng “thao thức” và “thương Nàng” của “bác Giuse”.

Nghĩ thương cho bác Giu- se

Suốt đêm thao thức lắng nghe trào lòng

Nỗi mình cực khổ đành xong

Thương Nàng vất vả long đong canh chầy. (thể hứng) (341 – 344)

- Hoặc từ thể phú mô tả cảnh Đức Mẹ đang ru Chúa Giêsu trong hang lừa với “ngân nga mấy khúc dặt dìu”.

Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng

Vội vàng ríu gối quì bồng Con yêu

Hôn lên vầng trán mỹ miều

Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru con. (thể phú) (351 – 254)

Tác giả chuyển sang diễn tả tâm trạng “khắc khoải” và “thổn thức” của Đức Mẹ.

Ru Con khắc khoải canh trường

Gió mưa thổn thức tuyết sương ngậm ngùi

Ru Con, Con ngủ cho mùi

Một mai đem lại niềm vui cho đời. (thể hứng) (363 – 366)

3- Kết cấu thể hứng và tỉ:

- Từ kết cấu thể hứng khi Đức Mẹ đáp tiếng “xin vâng”, tác giả diễn tả niềm vui mừng của Thiên Quốc bằng những từ “rung động chín tầng trời cao”.

Xin vâng cho nở Tin Mừng

Cho nghe rung động chín tầng trời cao

Cho Danh Thánh Chúa ngọt ngào

Cho mưa ơn xuống dồi dào láng lai

Cho lòng Mẹ được an bài

Cho Con Thiên Chúa đầu thai làm người. (thể hứng) (161 – 166)

Tác giả chuyển qua thể tỉ, dùng các từ “cho đất lặng gió, cho trời tan mây” để diễn tả sự bình an do ơn cứu độ đem lại, và sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, “đất trời kết hợp từ đây”.

“Xin vâng” là Mẹ nhận lời

Cho đất lặng gió cho trời tan mây

Đất trời kết hợp từ đây

Đất dâng của lễ, trời xây bàn thờ. (thể tỉ) (167 – 170)

- Hoặc từ thể hứng diễn tả tình cảm của Ba Vua khi mới lần đầu diện kiến vị “anh quân” Hê- rô- đê:

Ba Vua từ tạ ra đi

Mang theo ấn tượng một vì anh quân

Hẹn lòng trở lại kết thân

Để cho xứ sở thêm phần vinh quang. (thể hứng) (455 – 458)

Linh mục thi sĩ đã kết ở thể tỉ với lời thơ so sánh tâm địa của ông Vua đó là “lòng lang dạ thú”.

Ngờ đâu gặp lão ngang tàng

Mặt người dạ thú, lòng lang hẹp hòi. (thể tỉ) (459 – 460)

4- Kết cấu thể phú, hứng và tỉ:   

Đặc sắc hơn là chỉ trong một đoạn thơ, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã kết cấu bằng cả ba thể phú, hứng và tỉ như các đoạn thơ sau đây:

- Từ sự kiện ông bà Gia- cai không có con vì đã “bên ông bảy chục, bên bà sáu mươi”

“Mong làm sao được nữa mà

Bên ông bảy chục, bên bà sáu mươi. (thể phú) (39 – 40)

Tác giả đã diễn tả cái “hờn duyên tủi phận” với chính mình, và cay đắng hơn nữa là “chịu câu khinh bạc, nhịn lời mỉa mai”.

“Hờn duyên tủi phận với người

Chịu câu khinh bạc, nhịn lời mỉa mai. (thể hứng) (41 –  42)

Cuối cùng nhà thơ đã dùng thể tỉ để so sánh với cái tuổi không còn hy vọng có con của ông bà bằng từ “mai cỗi trúc già”.

Thương cho ông lão Gia- cai

Trải bao tháng rộng năm dài trôi qua

Chân trời mộng ước lùi xa

Nghĩ thôi mai cỗi trúc già thì thôi. (thể tỉ) (43 – 46)

- Hoặc từ sự kiện rao giảng Nước Trời đã đến “bên chân”:                   

Người ơi! Trời vỡ sông Ngân

Nước Trời chảy đến bên chân người rồi. (thể phú) (1081 – 1082)

Tác giả đưa đến tâm tình “tẩy lốt bùn hôi”:

Ơn trời xuống một lần thôi

Hãy mau tẩy lốt bùn hôi đời mình. (thể hứng) (1083 – 1084)

Để rồi sự khao khát mong chờ đó được Lời Chúa đáp thoả như “đất khô gặp trận mưa rào”, đã làm “cho lê nẩy lộc, cho đào trổ hoa”:

Lời người hoà dịu thanh bình

Nghe ra cởi mở tâm tình xiết bao

Đất khô gặp trận mưa rào

Cho lê nẩy lộc, cho đào đào trổ hoa. (thể tỉ) (1085 – 1088)

Với những cách kết cấu câu thơ đầy ấn tượng như trên, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã tạo cho người đọc dễ thuộc “Thơ Tin Mừng” nhờ những mối liên tưởng sinh động.

 

Đoàn Xuân Dũng

     Giáo Hạt Phú Yên