|
Một trường thiên gần mười ngàn câu khó mà tránh được vài khuyết điểm. Khi đọc Sứ Điệp Tình Thường, ngoài những cái hay kể trên, cũng có đôi chỗ tôi hơi lấy làm tiếc. Tôi chia sẻ điều này với linh mục Trăng Thập Tự, một người khá gần gũi với tác giả Nguyễn Xuân Văn. Linh mục Trăng Thập Tự cho biết khi còn sống, cha Văn rất mong được người ta góp ý để hoàn thiện tác phẩm. Mỗi lần có ai góp ý, ngài rất mừng, dù là bạn thơ, bạn linh mục, giáo dân hay nhân viên biên tập của nhà xuất bản. Tất cả những góp ý chính xác đều được ngài trân trọng và dụng công điều chỉnh. Chúng ta biết việc này không dễ, vì mỗi câu lục bát đều ăn vần sít sao với câu trên và câu dưới, rút dây là động rừng, muốn sửa một chữ có khi phải thay đổi mấy câu thơ liền. . Được biết tâm nguyện ấy của tác giả, trong bài “Nghệ thuật tạo nhạc điệu” và bài “Đối chiếu với cách gieo vần của Nguyễn Du”, tôi đã có vài góp ý. Ở đây tôi xin phép nêu thêm một số từ mà, trong khả năng và sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi cho là tác giả sử dụng chưa được thích hợp cho lắm. Nay tác giả đã qua đời nhưng thiết tưởng trong Giáo Hội vẫn có người có thẩm quyền thay tác giả để sửa đổi những gì cần hoàn chỉnh. Do đó, tôi xin góp ý ở đây để, nếu có gì nên sửa thì trong những ấn bản sau, ban biên tập của Toà Giám Mục có thể sửa lại cho tác phẩm được hoàn thiện hơn. 1- “Trường” hay “thường”:Trong các câu sau đây tác giả viết “thường sinh”: (1) Chính Ta là bánh thường sinh. (2730) (2) Cha mang chính mạch thường sinh. (2923) (3) Đây là lương thực thường sinh mỹ miều. (6928) Thế nhưng trong những câu khác tác giả lại viết là trường sinh - Ta là lương thực trường sinh. (2767) - Ai ăn uống sẽ trường sinh đời đời. (2784) - Cha là nguồn mạch trường sinh. (2795) 2- Từ “em” thay cho từ “anh”:Hi- đia là mụ hồ ly Vắng chồng lỗi đạo say mê anh chồng. (1983 – 1984) Theo Thánh Kinh thì bà này lấy em chồng chứ không phải anh chồng. “Là vì Hêrôđê đã bắt Yoan, xiềng ông lại mà tống ngục, nhân vụ Hêrôđia, nguyên là vợ của Philip anh ông. ” (Mt 14, 3) nên phải đính chính lại câu thơ: Hê rô- đia mụ hồ ly Vắng chồng lỗi đạo say mê em chồng. II- CÁC TỪ SỬ DỤNG CHƯA THÍCH HỢP: 1- Từ “lời kinh”:(4) Để chuẩn bị khai thông dòng đau khổ Thiên Chúa sai một kẻ gọi là Gioan Dùng lời kinh đe cuộc sống lăng loàn Dùng phép rửa giục lòng người xám hối. Từ “lời kinh” có thể chỉ diễn tả một lời nguyện nhất thời của con người, nhưng trong bối cảnh của dân Do Thái thời Chúa Giêsu, tất cả luật lệ mà họ thi hành đều dựa vào Thánh Kinh Cựu Ước: đó là Lời Thiên Chúa qua các tiên tri. Cho nên thích hợp hơn cả là dùng từ “Thánh Kinh” sẽ giúp cho câu thơ thêm chuẩn xác hơn. Để chuẩn bị khai thông dòng đau khổ Thiên Chúa sai một kẻ gọi là Gioan Dùng Thánh Kinh đe cuộc sống lăng loàn Dùng phép rửa giục lòng người xám hối. Vả lại, chính trong câu 11, tác giả đã xác nhận “lời kinh” chính là “Thánh Kinh” Có pho Kinh Thánh phi thường Có trang lịch sử vẻ vang một thời. (11 – 12) 2- Từ “khí độ hùng hào”:Thấy người khí độ hùng hào Mấy tên Do Thái nhao nhao hỏi rằng. (813 – 814) Chúa Giêsu rất tức giận vì bọn con buôn đã biến Nhà Chúa thành nơi mua bán nên Ngài đã dùng roi đánh đuổi chúng ra khỏi đền thờ. Cái tức giận của Ngài là cái “nộ khí xung thiên” do thấy chúng quá phạm thượng, từ đảo “hùng hào” không mô tả được hết cái tâm trạng của Chúa Giêsu trong lúc đó. Theo tôi để diễn tả sự tức giận của một Thiên Chúa làm người khiến bọn Do Thái phải khiếp sợ nên diễn đạt cái “nộ khí xung thiên” đó như sau: Thấy người khí nộ hùng cao Mấy tên Do Thái nhao nhao hỏi rằng. (813 – 814) 3- Từ “tú lệ”:Người đâu tú lệ phi thường Đã thông quá khứ lại tường vị lai. (1031 – 1032) Diễn tả sự thông minh mà dùng từ “tú lệ” là không chuẩn xác, vả lại chữ “tú lệ” lại chỉ nét đẹp của người con gái, trong khi trước tác giả lại mô tả Chúa Giêsu là một trang hảo hán “khí độ hào hùng”, do đó không thể dùng từ “tú lệ” mà nên thay bằng từ “trí tuệ”. Người đâu trí tuệ phi thường Đã thông quá khứ lại tường vị lai. 4- Từ “gót hồng”:Dân thành trẻ ước già trông Xin Người dừng tạm gót hồng nghỉ ngơi. (1055 – 1056) Cũng như nhận xét đoạn trên, từ “gót hồng” nhằm diễn tả người con gái ăn sung mặc sướng chứ không thể mô tả một nam tử phiêu bạt nay đây mai đó “không nhà không cửa”, “không đá kê đầu” như Chúa Giêsu được. Vì Chúa Giêsu được dân chúng trọng vọng như một vị Cứu Tinh nên có thể thay từ “gót hồng” bằng từ “gót rồng” cho hợp vần và hợp ý nghĩa làm Vua của Ngài hơn. Dân thành trẻ ước già trông Xin Người dừng tạm gót rồng nghỉ ngơi. (1055 – 1056) 5- Từ “huyền ảo”:Trong bầu không khí hân hoan Tiếng Người huyền ảo như ngàn thông reo. (1471 – 1472) Từ “huyền ảo” được sử dụng để diễn tả hình ảnh chứ không dùng để diễn tả âm thanh. Vả lại, Chúa Giêsu giảng rất rõ ràng minh bạch chứ không có gì mơ hồ huyền ảo cả. Nếu muốn diễn đạt giọng nói của Ngài có sức truyền cảm thì có dùng từ “dìu dặt” để diễn đạt. Vì “dìu dặt” là một từ láy diễn tả âm thanh lúc nhanh lúc chậm, khi bổng khi trầm, một cách êm ái, nhịp nhàng. Trong bầu không khí hân hoan Tiếng Người dìu dặt như ngàn thông reo. 6- Từ “bởi”:Cha là nguồn mạch trường sinh Ta sinh, Ta sống bởi tình yêu Cha. (2795 – 2796) Trong câu thơ trên, chữ “bởi” không diễn tả được hết sự kết hợp mật thiết như chữ “bằng”. Bởi vì câu này có thể hiểu như sau: Tôi sống bởi tình yêu có nghĩa là vì tình yêu mà tôi sống vui tươi, nhưng không có tình yêu tôi chưa chắc đã chết. Tôi sống bằng cơm nước, có nghĩa nhờ cơm nước mà tôi sống, không có cơm nước tôi chắc chắn chết. Và cũng bằng sự tương thông mật thiết tình yêu đó mà Ngôi Cha đã sinh Ngôi Con. Vì thế, theo thiển ý của tôi không nên dùng chữ “bởi” mà nên thay chữ “bằng” sẽ làm tăng lên sự xác tín của câu thơ: Cha là nguồn mạch trường sinh Ta sinh, Ta sống bằng tình yêu Cha. (2795 – 2796) 7- Từ “hay”:Làm tôi hai chủ sao nhằm Hễ yêu chủ nọ thì căm chủ nầy Lòng ai vừa dở vừa hay Vừa yêu Thiên Chúa vừa say bạc tiền. (1685 – 1688) Đã dở thì dở mà đã hay thì hay, không thể nào lòng ai vừa dở lại vừa hay. Theo tôi nên đổi chữ “hay” của hay dở bằng chữ “thay” của thay đổi để diễn đạt sự không trung thành của con người đối với Thiên Chúa. Làm tôi hai chủ sao nhằm Hễ yêu chủ nọ thì căm chủ nầy Lòng ai vừa dở vừa thay Vừa yêu Thiên Chúa vừa say bạc tiền. Nếu không thì nên thay chữ “lòng” bằng chữ “nào”: Nào ai vừa dở vừa hay Vừa yêu Thiên Chúa vừa say bạc tiền. 8- Từ “mấy mươi”:Xem loài hoa dại ngoài đồng Sớm còn tối mất chẳng trông ra gì Thế mà lượng cả từ bi Vẫn cho mặc đẹp huống chi con người Con người trọng gấp mấy mươi Lại không được phúc cao vời hơn sao. (1703 – 1708) Theo sách Khởi Nguyên: Và Thiên Chúa đã phán: “Ta hãy làm ra người, theo hình ảnh Ta, như hoạ ảnh của Ta. Chúng hãy trị trên cá biển và chim trời, và trên các súc vật và mọi loài mãnh thú và mọi thứ côn trùng nhung nhúc trên đất”. (Kn 1, 26) Với lời Thánh Kinh trên thì các loài hoa không thể nào có thể so sánh được với con người, bởi vì con người được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Cho nên từ “mấy mươi” là sự so sánh có giới hạn, giới hạn này là không quá một trăm. Để có thể nói lên khác biệt quá lớn lao đó, chúng ta có thể dùng từ “mười mươi” để nói lên sự so sánh mà không thể nào cân đo đong đếm được. Tương tự như câu nói “tha bảy mươi lần bảy” hàm nghĩa là phải tha luôn luôn. Xem loài hoa dại ngoài đồng Sớm còn tối mất chẳng trông ra gì Thế mà lượng cả từ bi Vẫn cho mặc đẹp huống chi con người Con người trọng gấp mười mươi Lại không được phúc cao vời hơn sao. (1703 – 1708) 9- Từ “nần”:Thầy ôi! Cứu vớt đời con! Cho vành trăng khuyết được tròn như xưa Con cầu cho kiếp sống thừa Được ơn thương xót gặp mùa hồng ân Cho con được chết một lần Cho con được trút nợ nần từ đây Cho con được phúc gặp Thầy Cho con thấy được một ngày sáng tươi. ” (2055 – 2062) Theo tôi thì người đàn bà tội lỗi này này muốn chết không phải vì “nợ nần” mà vì “nợ trần” thì đúng hơn. Cho con được chết một lần Cho con được trút nợ trần từ đây Cho con được phúc gặp Thầy Cho con thấy được một ngày sáng tươi. ” Bởi vì bà ta đã than thân trách phận: Cuộc đời bèo dạt mây trôi Trăm năm thôi thế thì thôi còn gì Tài mà chi, sắc mà chi! Hương hoa rồi cũng qua thì hương hoa. (2043 – 2046) 10- Từ “khoái lạc”:Kẻ gian bị vất ra rìa Nghiến răng khóc lóc chịu bề lửa thiêu Người lành khoái lạc tiêu diêu Muôn đời hưởng phúc hết điều lo âu. (2295 – 2298) Hạnh phúc bên Chúa là một sự bình an tinh thần chứ không thể là sự hưởng thụ khoái lạc vật chất. Vì thế nên thay từ “khoái lạc” bằng từ “an lạc”. Kẻ gian bị vất ra rìa Nghiến răng khóc lóc chịu bề lửa thiêu Người lành an lạc tiêu diêu Muôn đời hưởng phúc hết điều lo âu. 11- Từ “đinh ninh”:Luật rằng: “Thảo kính mẹ cha, Dể duôi cha mẹ tội ra tử hình”. Các ngươi lại dạy đinh ninh: Ai đem hương hoả nhà mình lập nên Dâng làm của hậu lâu bền Ngày sau khỏi phải báo đền mẹ cha. (3013 – 3018) Tác giả dùng từ “đinh ninh” có lẽ là để xác định đúng như vậy. Nhưng theo mạch văn là Chúa trách họ dạy những điều không đúng, nên theo tôi nên dùng từ “linh tinh” thì hợp lý hơn. Luật rằng: “Thảo kính mẹ cha, Dể duôi cha mẹ tội ra tử hình”. Các ngươi lại dạy linh tinh: Ai đem hương hoả nhà mình lập nên Dâng làm của hậu lâu bền Ngày sau khỏi phải báo đền mẹ cha. 12- Từ “phũ phàng”:Hãy trông hạt lúa xinh vàng Không rơi xuống đất phũ phàng một khi. Nó đâu sinh lợi lộc gì Ví bằng để nó chết đi một lần. (5765 – 5768) Từ “phũ phàng” có nghĩa là bạc ác và tàn nhẫn, bỏ rơi một cách không thương xót, nhưng trên thực tế nhà nông sau khi gieo lúa vẫn phải theo dõi sự phát triển của nó. Vì thế, nên dùng quá trình “Sinh, trưởng, hoá, thu, tàng” để diễn tả sự phát triển tự nhiên của tất cả các loại sinh vật trên trái đất. Hãy trông hạt lúa xinh vàng Không rơi xuống đất thu tàng hoá đi. Nó đâu sinh lợi lộc gì Ví bằng để nó chết đi một lần. (5765 – 5768) 13- Từ “thẩm phán trường”:Sứ thần rộn rịp tưng bừng Thổi loa truyền gọi vang lừng bốn phương Người đâu hoả ngục thiên đường Phút giây đến thẩm phán trường tập trung. (6437 – 6438) Trong tư pháp chỉ có từ thẩm phán và hội đồng thẩm phán chứ không có từ “thẩm phán trường”. Cho nên câu thơ có thể đổi lại một chút cho thích hợp. Sứ thần rộn rịp tưng bừng Thổi loa truyền gọi vang lừng bốn phương Người đâu hoả ngục thiên đường Phút giây hiện diện án trường tập trung. (6437 – 6438) 14- Từ “cắt máu chuyền”:Cùng nhau một hội một thuyền Thương nhau như cắt máu chuyền cho nhau. (6893 – 6894) Từ “chuyền” diễn tả một sự chuyển giao bên ngoài. Từ “truyền” mô tả sự đưa trực tiếp vào bên trong cơ thể. Trong y học, người ta dùng từ “truyền dịch”, “truyền đạm” hay “truyền máu” chứ không dùng từ chuyền. Cùng nhau một hội một thuyền Thương nhau như cắt máu truyền cho nhau. 15- Từ “phong toả”:Sương đêm phong toả mịt mù Đường vào thung lũng quanh co gập ghềnh Bốn bề vắng ngắt buồn tênh Khiến lòng Con Chúa cũng mênh mông buồn. (7457 – 7460) Từ “phong toả” là ngôn ngữ của quân sự, dùng để chỉ sự bao vây một khu vực nào đó, không cho kẻ ra người vào. Trong câu thơ này nên dùng từ “bao phủ” có lẽ thích hợp hơn. Sương đêm bao phủ mịt mù Đường vào thung lũng quanh co gập ghềnh Bốn bề vắng ngắt buồn tênh Khiến lòng Con Chúa cũng mênh mông buồn. (7457 – 7460) 16- Từ “mài miệt”:Vì ai chịu cực đền bồi Để ai hờ hững buông trôi tháng ngày Vì ai ngậm đắng nuốt cay? Để ai mài miệt đắm say dục tình? Vì ai kiệt lựchy sinh Để ai đem dạ rẻ khinh coi thường? (7613 – 7618) Theo tôi trong câu thơ trên không cần thiết phải dùng thủ pháp đảo ngữ từ láy để cho đúng luật bằng trắc mà chỉ thay từ “ mài miệt” bằng từ “mãi miết” là đủ. Vì ai chịu cực đền bồi Để ai hờ hững buông trôi tháng ngày Vì ai ngậm đắng nuốt cay? Để ai mãi miết đắm say dục tình? Vì ai kiệt lựchy sinh Để ai đem dạ rẻ khinh coi thường? 17- Từ “lầy nhầy”:Một bầy ó quạ đánh hơi Xác treo xổ ruột nằm phơi lầy nhầy. (8149 – 8150) Trong câu thơ này vì xác vẫn còn “treo xổ ruột” nên sử dụng từ “lầy nhầy” không được thích hợp cho lắm. Vì từ “lầy nhầy” là nói đến hiện tượng xác chết đã phân huỹ thành nước, còn từ “bầy nhầy” là hiện tượng xác vẫn chưa phân huỷ hết. Một bầy ó quạ đánh hơi Xác treo xổ ruột nằm phơi bầy nhầy. 18- Từ “thở vào”:Ngực căng cứng, ức vun cao Thở ra khí uất, thở vào nghẹn hơi. (8823 – 8824) Trong y học khi hô hấp gồm có hai động tác là thở ra và hít vào, ít khi gọi là thở vào. Nên câu thơ được thay từ như sau: Ngực căng cứng, ức vun cao Thở ra khí uất, hít vào nghẹn hơi. 19- Từ “bắt thăm”:Áo ngoài dù đã nhạt màu Chúng chia làm bốn trước sau đồng phần Áo trong một tấm nguyên thân Không đường khâu, chẳng biết phân thế nào? Sau hồi cãi vã ồn ào Bắt thăm cho biết của vào tay ai Nghiệm lời Kinh Thánh nào sai “Áo ngoài chia cắt, áo dài bắt thăm. ”(8833 – 8840) Theo tôi có lẽ nên dùng từ “bốc thăm” thì chuẩn hơn. Áo ngoài dù đã nhạt màu Chúng chia làm bốn trước sau đồng phần Áo trong một tấm nguyên thân Không đường khâu, chẳng biết phân thế nào? Sau hồi cãi vã ồn ào Bốc thăm cho biết của vào tay ai Nghiệm lời Kinh Thánh nào sai “Áo ngoài chia cắt, áo dài bốc thăm. ”(8833 – 8840) 20- Từ “vỉ van”:Chúa nghe lời họ vỉ van Theo vào nhà chúc bình an mọi người. (9419 – 9420). Từ “van vỉ” là kêu xin một cách khẩn khoản, thiết tha và dai dẳng. Dùng thủ pháp đảo ngữ “vỉ van” ở đây không làm rõ nghĩa của từ này. Cho nên theo tôi có thể dùng từ ghép “nỉ van” hàm nghĩa năn nỉ và van xin để thay thế cho rõ nghĩa hơn. Chúa nghe lời họ nỉ van Theo vào nhà chúc bình an mọi người. 21- Từ “uyển chuyển”:Mặt Người thanh tú hiền hoà Dáng Người trang nhã hào hoa tuyệt vời Áo bào như cánh mây trời Đôi ngươi linh động chói ngời vinh quang Bước đi uyển chuyển nhịp nhàng Cất lời hoan chúc tay dang cung tròn: “Bình an tất cả chúng con. ” (9455 – 9461) Câu “bước đi uyển chuyển nhịp nhàng” làm cho ta có cảm tưởng là bước đi của các người mẫu thời trang trên sàn diễn chứ không thể là dáng đi của một Thiên Chúa Phục Sinh. Vì thân xác phục sinh của Chúa Giêsu không còn bị chi phối bởi những qui luật vật lý tự nhiên nên tôi thấy nên chuyển lời thơ như sau: Mặt Người thanh tú hiền hoà Dáng Người trang nhã hào hoa tuyệt vời Áo bào như cánh mây trời Đôi ngươi linh động chói ngời vinh quang Bước đi thanh thoát nhẹ nhàng Cất lời hoan chúc tay dang cung tròn: “Bình an tất cả chúng con. ” 22- Từ “đệ tử”:Mười hôm trước lễ Ngũ tuần Khắp nơi đệ tử nhanh chân tựu về Gia- liêm họp mặt vui ghê Biết bao chuyện lạ bên lề Phục sinh. (9695 – 9698) Với từ “đệ tử” có lẽ tác giả muốn nói đến tất cả những người đã từng theo Ngài rao giảng Tin Mừng bao gồm 12 tông đồ, 72 môn đệ các thành phần khác. Tuy nhiên, trong các bản dịch Thánh Kinh không thấy dịch giả nào dùng từ “đệ tử” để nói về những người theo Chúa thời ấy. Theo tôi, thích hợp hơn là nên dùng từ “môn đệ”. Vả lại, chính sau đoạn thơ trên, tác giả cũng đã sử dụng từ “môn đệ” để nói về những người này. Chúa đưa ánh mắt nhìn quanh Mấy trăm môn đệ kết thành vòng hoa. (9729 – 9730) Cho nên đoạn thơ nên được đổi lại như sau: Mười hôm trước lễ Ngũ tuần Khắp nơi môn đệ nhanh chân tựu về Gia- liêm họp mặt vui ghê Biết bao chuyện lạ bên lề Phục sinh. Không riêng gì Nguyễn Xuân Văn, ngay cả tác phẩm nổi tiếng của thi hào Nguyễn Du mặc dù đã được chỉnh sửa nhưng vẫn còn có những câu thơ sử dụng từ mà theo tôi vẫn còn chưa hợp lý cho lắm. Có thể đơn cử một ví dụ trong Truyện Kiều: Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi, Nghĩ đòi cơn, lại sụt sùi đòi cơn. Giọng Kiều rền rĩ trướng loan, Nhà huyên chợt tỉnh hỏi: “Cơn cớ gì? “Cớ sao trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?” Thưa rằng: “Chút phận ngây thơ, “Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. (221 – 228)
Một người con gái nhỏ lệ đêm khuya mà dùng từ “rền rĩ” thì có hơi quá. Theo tôi nên dùng từ “thút thít” có lẽ thích hợp hơn. Vì “rền rĩ” là âm thanh rầu rĩ, buồn thảm, trầm vang vọng liên tiếp, kéo dài từng hồi. Còn “thút thít” là tiếng khóc kéo dài thành từng tiếng nhỏ rời rạc. Mặc dù từ “dầm dề” phù hợp với từ “giọt mưa” vì từ này có nghĩa là thấm nước nhiều đến mức chảy ra. Nhưng nếu sử dụng nhân cách hoá cái khóc của hoa lê bằng từ “đầm đìa” thì có lẽ hay hơn, vì từ này diễn tả khóc nhiều đến mức chảy ròng ròng. Sao con thấy cục thấy hòn Thấy từng cái rác tí hon mắt người Lại không thấy đất thấy trời Thấy cây đà cửa ở nơi mắt mình. (1725 – 1728) Với tấm lòng trân trọng Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn, người đã về cùng Chúa, nhưng ước nguyện của Ngài là muốn phổ biến Sứ Điệp Tình Thường một cách rộng rãi không những cho đồng bào Công giáo mà còn cho những người muốn tìm hiểu về Đức Kitô một cách dễ hiểu và đơn giản, tôi ước mong những đóng góp nhỏ bé này sẽ góp phần giúp cho tác phẩm được hoàn thiện hơn.
|
|
Đoàn Xuân Dũng |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|