KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ CỦA THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN

     Không một nhà thơ nổi tiếng nào lại không biết cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt nội dung của mình muốn nói một cách súc tích. Không những thế, thủ pháp sử dụng từ ngữ của mỗi tác giả sẽ tạo ra những phong cách nghệ thuật riêng của mình.

     Điểm đặc biệt của thi sĩ Nguyễn Xuân Văn là khéo sử dụng từ và câu, chẳng những không làm mất đi nội chính của Phúc âm mà còn tăng thêm ý nghĩa một cách thật thi vị. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua những cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ, từ láy, tách từ, đảo ngữ, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, thành ngữ tục ngữ và phương pháp cải biên thành ngữ, tục ngữ cũng như kết hợp chúng tạo nên những vế đối ngay trong cùng một câu thơ của tác giả.

I- SỬ DỤNG ĐIỆP TỪ:

     Trong các câu thơ có hiện tượng điệp từ, điệp ngữ lượng thông tin thường có độ tập trung cao. Ngoài nội dung thông tin chính, nó còn có thêm các nội dung thông tin bổ sung như thông tin cảm xúc, đánh giá. Khi hiện tượng này xuất hiện với mật độ lớn, sắc thái biểu cảm của câu sẽ tăng lên rất cao.

Tác giả Sứ Điệp Tình Thường rất hay sử dụng hình thức dùng đi dùng lại một từ nào đó với mục đích nhấn mạnh ý nghĩa nhằm tập trung sự chú ý của người đọc, không những chỉ nhắc lại vài lần trong một câu mà đôi khi còn vận dụng điệp từ trong rất nhiều câu.

dụ 1:                       

Sống bằng Lời Chúa sống lâu

Sống bằng cơm bánh sống đâu có dài.

(647 – 648)

dụ 2:

Vậy mà có kẻ hợm mình

 Không tin, không nhận, coi khinh, coi thường.

(2817 – 2818)

dụ 3:

Quay sang bên phía dân hiền

Chúa rằng: “Ngoại vật vào bên trong người

Không làm ngươi mất tốt tươi

Mất nhân, mất nghĩa, mất vui trong lòng.

(3023 – 2026)

Ví dụ 4:

Men đây là thứ giáo điều

Khó nhai, khó nuốt, khó tiêu vô cùng.

(3149 – 3150)

dụ 5:                       

Đức tin bằng hạt cải con

Chỉ núi  núi dịch, chỉ non  non dời.

(3291 – 3292

 Ví dụ 6:           

Người ta dẫn một tên vào

Nợ vua vạn nén muốn đào phương xa

Vua truyền đem bán hắn ta

Bán con, bán vợ, bán gia sản trừ. ư

(3401 – 3404)

Ví dụ 7:                       

Chúng con ghi nhớ một điều

Khi mang sứ mệnh đi gieo Tin Mừng

Như chiên lạc giữa sói rừng

Đừng giày, đừng dép cũng đừng túi đai.

(4075 – 4078)

 Ví dụ 8:

Tiên vàn đem hết khả năng

Bằng tâm bằng lực và bằng trí khôn

Nghĩa bằng cả linh hồn

Kính yêu một Chúa chí tôn trên trời.

(4127 – 4130)

 Ví dụ 9:

Phá ngay kho lẫm ngoài trong

Xây nhiều cái mới có vòng tường bao

Nào dài, nào rộng, nào cao

Bao nhiêu của cải chứa vào lớp lang.

(4379 – 4382)

Ví dụ 10

Còn trời còn nước còn non

Còn người hối lỗi là còn niềm vui. (4843 – 4844)

Ví dụ 11

Cõi lòng tê tái bàng hoàng

Thấy dòng tội lỗi nhẫy tràn tuôn ra

Tội nơi tuổi trẻ tuổi già

Tội từng giới một đàn bà đàn ông

Tội chung cả một cộng đồng

Tội riêng dòng họ chất chồng lẫn nhau

Tội người đủ sắc đủ màu

Tội từ thuở trước đời sau mọi thời.

(7523 – 7530)

II- SỬ DỤNG ĐIỆP NGỮ:

Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn cũng thường sử dụng một tổ hợp từ được lặp đi lặp lại nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của hành động, trạng thái hay tính chất của sự vật. Những đoạn thơ lấy thủ pháp điệp làm mã nghệ thuật chính trong việc tổ chức văn bản thường gây ấn tượng sâu sắc đối với người đọc về chiều sâu của cảm xúc.   

1- Sử dụng điệp ngữ trong một câu

Giận Người chúng chực xông ra

Tra tay, không kẻ dám tra tay vào. (3561 – 3562)

2- Sử dụng điệp ngữ trong hai câu:

Cứu người  không đợi  nài lâu

Thương người không đợi người cầu mới thương. (2419 – 2420)

3- Sử dụng điệp ngữ trong nhiều câu:

Ví dụ 1

Cho con được chết một lần

Cho con được trút nợ trần từ đây

Cho con được phúc gặp Thầy

Cho con thấy được một ngày sáng tươi. ”

(2059 – 2062)

Ví dụ 2

Đây là mầu nhiệm đức tin

Đây là lương thực trường sinh mỹ miều

Đây là chân lý cao siêu

Đây là Bí Tích Tình Yêu tuyệt vời.

(6927 – 6930)

 Ví dụ 3:

Đầu thân gỗ chạm vòng gai

Đóng sâu mũi nhọn như gài móc câu

Máu tươm từ trán, từ đầu

Máu tươm từ vết thương sâu khắp mình

Máu tươm chảy suốt lộ trình

Giọt lầm cát bụi, giọt in mặt đường.

(8605 – 8610)

Ví dụ 4:

Còn đâu mặt ngọc môi son

Còn đâu bóng dáng nước non rạng ngời

Còn đâu phúc đất ơn trời

Còn đâu ánh sáng cho đời nữa đây.

(8613 – 8616)

4- Sử dụng nhiều điệp ngữ đan xen nhau

Ví dụ 1:

Lời sao nặng cả ngàn cân

Nghe êm như suối hồng ân chay về

Lời sao thắm thiết tình quê

Nghe rưng nước mắt nghe mê mẩn người

Lời sao như vọng từ trời

Nghe ra như gọi như mời tội nhân

Lời sao như gột lòng trần

Như lôi đất thấp đến gần trời cao

Lời sao huyền dịu làm sao

Như thâu tim óc như vào thịt xương.

(1163 – 1172)

Ví dụ 2

Vì ai chịu cực đền bồi

Để ai hờ hững buông trôi tháng ngày

Vì ai ngậm đắng nuốt cay?

Để ai mãi miết đắm say dục tình?

Vì ai kiệt lựchy sinh

Để ai đem dạ rẻ khinh coi thường?

(7613 – 7618)

III- SỬ DỤNG TỪ LÁY, TỪ TƯỢNG HÌNH, TƯỢNG THANH:

     Trong các ngôn ngữ đơn lập kiểu như tiếng Việt, từ láy là sự hoà phối ngữ âm giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết và có tác dụng biểu trưng hoá. Dường như, sự lặp lại toàn bộ hay bộ phận âm thanh từ láy tạo nên đặc thù trong nghĩa của mỗi từ mà chỉ khi đọc lên mới cảm thụ hết được. Mỗi từ láy chứa đựng trong mình một sự thể hiện rất tinh tế và sinh động về sự cảm thụ chủ quan, về cách đánh giá và thái độ của người sử dụng nó trước sự vật và hiện tượng trong đời sống xã hội.

Từ láy là những từ có sức gợi cảm cao, dễ tạo nên tính nhạc điệu, tiết tấu trong ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt trong thơ ca. Cho nên, từ láy có một vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra tiết tấu, ngữ điệu của câu. Một câu thơ chứa nhiều từ láy thường là câu thơ nghiêng nhiều về chất trữ tình, lấy nội tâm, tâm lý làm đối tượng miêu tả.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng rất nhiều từ láy để diễn đạt những bối cảnh và tình tiết cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu trong Sứ Điệp Tình Thường.

Ví dụ 1:

Bóng chiều đã ngã về tây

Tiếng chim xao xác gọi bầy lưa thưa. (351 – 352)

          Ví dụ 2:

Thương người quả phụ bơ vơ

Mất con gan ruột bơ phờ nát tan

Thấy bà thổn thức lệ tràn

Đến gần nhỏ nhẹ ủi an mấy lời. (1857 – 1860)

Ví dụ 3:

Giờ đây lòng Chúa xốn xang

Tơ vò trăm mối ngổn ngang  bời bời. (6747 – 6748)

Ví dụ 4

Quả tim như bị đinh thâu

Nghe rươm rướm máu, nghe đau điếng người. (8921 – 8922)       

IV- SỬ DỤNG TÁCH TỪ:

     Trong giao tiếp thông thường chúng ta thường gặp một hiện tượng “trống nghĩa” hay “không có nghĩa” ở một số vỏ âm thanh là “từ tố” thì trong giao tiếp nghệ thuật xuất hiện một nghệ thuật “làm đầy” ý nghĩa ở các vỏ âm thanh này.

     Trong Sứ Điệp Tình Thường, qua bàn tay của thi sĩ Nguyễn Xuân Văn những từ tố tưởng như trống nghĩa, nay lại nhận được một ý nghĩa có tính độc lập, có khả năng tái hiện lại cảm giác của người ta về một nét cá tính, một hành động hoặc tính chất của sự vật hoặc hiện tượng.

Ví dụ 1:                       

Tiền đường luận thị đoán phi

Chờ lâu kẻ bấc người chì xôn xao. (79 – 80)

Ví dụ 2:

Gioan không ăn uống từ lâu

Thì rằng: “Gioan bị quỷ câu ma chài. ” (1919 – 1920)

 Ví dụ 3:

Xin đừng khinh dể la rầy

Xin đừng kêu  ngốc  gọi  ngây  em nào

Chúng mang hình ảnh trời cao

Cuộc đời diễm phúc hơn bao kiếp người. (3357 – 3360)

Ví dụ 4:

Ông bà biết họ đa đoan

Tiền  nhân  hậu  quả đổ tràn cho con. (3437 – 3438)

Ví dụ 5:

Dù cho năm  lỡ  mười  lầm

Đơn sơ phó thác âm thầm cậy trông. (4877 – 4878)

Ví dụ 6

Thanh niên quen cảnh sang giàu

Nghe qua mặt   mày  chau  trở về. (5155 – 5156)

Ví dụ 7:                       

Các con tình nghĩa đậm đà

Bốn mùa sinh  lộc  nở  hoa  trong Thầy. (7035 – 7036)

V- SỬ DỤNG ĐẢO NGỮ:

     So với văn xuôi, thơ ca có mức độ mở rộng các thành phần phụ định ngữ hay trạng ngữ còn lớn hơn và đa dạng hơn vì thơ ca có lợi thế về vần và nhịp điệu. Chính các yếu tố này đã nâng đỡ cho độ dài cấu trúc của câu, đồng thời cũng tạo ra cho thơ ca một khả năng đặc biệt về việc sử dụng các loại kết cấu đảo ngữ.

     Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng khá nhiều cách đảo ngữ trong tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường của mình. Trong phong cách nghệ thuật các kiểu cấu trúc đảo cú pháp đều có giá trị về phong cách học.

1- Đảo bổ ngữ:

Ví dụ 1

Một hôm dạo cảnh ven hồ

Trông lên đồi cát nhấp nhô bóng người. (1153 – 1154)        

Nếu đúng là phải viết: “bóng người nhấp nhô”.

Ví dụ 2

Hiệp đoàn với các môn nhơn

Núi sông đây đó gót chơn không ngừng. (2151 – 2152)                   

Câu văn xuôi phải viết là : Gót chơn không ngừng trên khắp núi sông.

Ví dụ 3:

Hành hung đồng nghiệp đồng nghề

Say sưa  chè chén đủ bề thối tha. (4417 – 4418)     

Theo trình tự câu văn phải được viết là: chè chén say sưa.

2- Đảo trật tự “danh từ + động từ”:

Ví dụ 1

Hồ Ti- bê- rát đẹp trời

Gió im sóng lặng ngược xuôi thuyền bè. (1155 –1156)        

Nếu đúng là phải viết: “thuyền bè ngược xuôi”

Ví dụ 2

Trà thơm rượu ngọt đủ mùi

Mượn câu chúc tụng đầy vơi chén quỳnh. (2023 – 2024)

Nếu đúng là phải viết: “chén quỳnh đầy vơi”

 Ví dụ 3:

Lễ Chiên một phút một gần

Chỉ vài hôm nữa nợ nần trả xong. (6599 – 6600)

 Nếu đúng là phải viết: “trả xong nợ nần”

3- Đảo thành ngữ:

Ví dụ 1

Biển hồ chói rạng trời mây

Buồm xuôi gió thuận nửa ngày đến nơi. (3131 – 3132)

Tuy câu: “Buồm xuôi gió thuận” là đúng thứ tự của từ, nhưng trong thành ngữ là “xuôi buồm thuận gió”.

Ví dụ 2

Bạn bè đau khổ buồn lòng

Người sao nghĩa bội, ân vong lạ lùng. (3419 – 3420)

Thành ngữ là câu: “Vong ân bội nghĩa”

Ví dụ 3:

Chủ nhà lặng tiếng im hơi

Giây sau gắng gượng trả lời cho qua. (4861 – 4862)

Thành ngữ là câu: “Im hơi lặng tiếng”

4- Đảo trật tự các yếu tố trong từ phức:

Ví dụ 1:

Vinh thay vú sữa nuôi chàng

Chúa rằng: “Vinh phúc rỡ ràng phần hơn

Cho ai biết từ và ngữ chánh chơn

Cho người trung tín theo ơn Chúa Trời. ” (2173 – 2176)

Trong câu bình thường là từ “chơn chính” hay “chân chính”.

Ví dụ 2:

Mai- sen truyền phép cắt bì

Phép do Tổ phụ thời kỳ xưa xa. (3531 – 3532)

Trong câu bình thường là từ “xa xưa”.

Ví dụ 3:

Ngọn nguồn cao thấp cạn sâu

 Họ dòng ta đếm trên đầu ngón tay. (3549 – 3550)

Trong câu bình thường là từ “dòng họ”.

Ví dụ 4

Ta về đuổi trộm khỏi ràn

Cho chiên nhơ nhởn trên làn cỏ xanh. (4029 – 4030)

Trong từ láy là “nhởn nhơ”.

Ví dụ 5:

Thấy qua tội trạng gớm ghê

Các ngài nghĩ sẽ phán phê thế nào?” (7915 – 7916)

Trong câu bình thường là từ “phê phán”.

Ví dụ 6:

Nhìn người môn đệ tâm giao

Thầy lâm khốn khó núng nao chối Thầy. (7933 – 7934)

Trong câu bình thường là từ “nao núng”.

5- Đảo trật tự các yếu tố trong đoản ngữ:

Ví dụ 1:

Hạt dù nhỏ bé tỉ teo

Mọc lên cải vẫn lớn theo tháng ngày

Sum sê rậm lá to cây

Chim trời ríu rít đậu ngay trên cành. (2243 – 2246)

Trong câu văn xuôi phải được viết là:

- “Cải vẫn mọc lớn lên theo tháng ngày”

- “Cây to lá rậm sum sê”

- “Chim trời đậu ríu rít ngay trên cành”.

Ví dụ 2:

Tháp Si- lô bị đổ nhào

Đè  mười tám thợ  chết  vào một băng. (4437 – 4438)

Trong câu văn xuôi phải được viết là: Tháp Si- lô bị đổ nhào, đè chết một băng mười tám thợ.

Ví dụ 3

Trước khi gà gáy đêm nay

Sờn lòng con đã chối Thầy ba phen. (7489 – 7490)

Trong trật tự câu thơ bình thường phải được viết là: Con sờn lòng đã ba phen chối Thầy.

Ví dụ 4:

Nơi Ngài cầu nguyện không xa

Khoảng vài mươi bước cách ba môn đồ. (7551 – 7552)

Trong trật tự câu văn bình thường phải được viết là: Cách ba môn đồ khoảng vài mươi bước.

6. Đảo trật tự: “Số từ + danh từ”:

Ví dụ 1:

Có người cha thật hiền lương

Con trai  hai đứa sở trường khác nhau. (4677 – 4678)

Trong câu văn xuôi phải được viết: Hai đứa con trai sở trường khác nhau.

Ví dụ 2

Ngài làm như kẻ chăn nghề

Rẽ phân tả hữu chiên dê hai đàng. (6533 – 6534)

Theo thứ tự thì câu thơ phải được viết: Rẽ phân tả hữu hai đàng chiên dê.

7. Đảo trật tự: “Loại từ + danh từ”:

Ví dụ 1

Em nàng còn có hai người

Ma- ri là gái, trai thời La- da. (4191 – 4192)               

Câu văn thứ tự sẽ viết là: Nàng còn có hai người em, em gái là Ma- ri, em trai là La- da.

Ví dụ 2

Sáu ngày trước lễ “Vượt Qua”

Chúa quay trở lại Bê- ta- ni làng. (5591 – 5592)

Câu văn thứ tự sẽ viết là: Sáu ngày trước lễ “Vượt Qua”, Chúa quay trở lại làng Bê- ta- ni.

8. Đảo trật tự và thay đổi ý nghĩa của từ:

Cha yêu Con tự muôn đời

Yêu Con tất cũng yêu người Con yêu. (7337 – 7448)

Từ “Yêu Con” là nói Chúa Cha yêu Chúa Giêsu. Từ “Con yêu” là nói đến những người Chúa Giêsu yêu.

VI- SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG ÂM:

     Từ đồng âm là các từ có vỏ âm thanh giống nhau nhưng có ý nghĩa khác nhau. Lợi dụng đặc điểm này, tác giả khai thác triệt để mối quan hệ về âm thanh giữa các từ vốn khác nhau về nghĩa mà có cùng âm để tạo ra những liên hệ thú vị, hoặc cách hiểu nước đôi về sự vật, hiện tượng được nói tới.

Ví dụ 1:

 Lời dù tha thiết mặc Lời

Dửng dưng môn đệ vui cười xôn xao. (6715 – 6716)

     Từ “lời” ở đầu câu là lời nói tha thiết của Chúa Giêsu, còn từ “Lời” ở cuối câu là nói đến chính bản thân Chúa Giêsu.

Ví dụ 2:

Được Lời ví chẳng giữ Lời

Thì con người ấy ra người đong đưa. (7055 – 7056)

Từ “Lời” ở đầu câu là nói đến chính bản thân Chúa Giêsu, còn từ “Lời” ở cuối câu là ám chỉ  lời nói của Chúa Giêsu.

Ví dụ 3:

Con Người phải chịu khổ hình

Bởi trong kẻ chết phục sinh huy hoàng

 Cả hai trở gót vội vàng

Chuyện sao chưa biết rõ ràng ra sao? (9261 – 9264)

Từ “sao” ở đầu câu là nói đến diễn biến của sự kiện. Từ “sao” ở cuối câu là nhằm mục đích xác định sự kiện.

VII- SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG NGHĨA:

Từ đồng nghĩa là các từ có cùng ý nghĩa mà khác nhau về vỏ âm thanh, thi sĩ đã khai thác mối quan hệ giữa chúng để tạo ra những bất ngờ thú vị.

Ví dụ 1

Môn đồ thu liệm xác thầy

 Mộ đơn  một nấm thương thay kiếp người. (2013 – 2014)

Từ “mộ” và từ “nấm” trong câu thơ này là cùng một nghĩa “nấm mồ”. Từ “đơn” và từ “một” đều có nghĩa là một.

Ví dụ 2:

Lòng càng thêm tủi thêm sầu

Đời thôi đâu nữa còn đâu là đời. (2037 – 2038)

Từ “đâu nữa” và “còn đâu” đều cùng một nghĩa không còn gì cả.

Ví dụ 3

Luật còn dạy phải đồng thời

 Yêu mình được mấy, yêu người bấy nhiêu. (4131 – 4132)

Từ “được mấy” và từ “bấy nhiêu” ở đây có nghĩa là với khả năng có thể được.

Ví dụ 4:

Dòng dõi này chẳng bao lâu

 Hết thời  mạt vận bắt đầu suy vi. (4359 – 4360)

Trong câu thơ này thì các từ “hết thời”, “mạt vận”, “suy vi” có cùng ý nghĩa.

Ví dụ 5:  

Tên nào làm dở nói hay

Dạ đầy  man trá  bụng dày  hiểm sâu. (4413 – 4414)

Trong câu thơ này từ “dạ đầy” và “bụng dày” cùng đồng nghĩa. Từ “man trá” và từ “hiểm sâu” cũng đồng nghĩa. Tác giả dùng phương pháp tách từ kết hợp với các từ đồng nghĩa để làm tăng thêm tính cách xấu xa của nhân vật.

Ví dụ 6

Có nơi quá mức khinh thường

Hành hình  thị vệ,  đả thương  quân hầu. (6129 – 6130)

Từ “hành hình” và từ “đả thương” cùng ám chỉ sự đánh đập gây thương tích. Từ “thị vệ” và từ “quân hầu” đều nói về quân lính của nhà vua.

Ví dụ 7:

 Đúng là một lũ ngu si

Những quân bị thịt làm chi nên hình. (7875 – 7876)

Từ “ngu si” và từ “bị thịt” trong hai câu thơ này đều ám chỉ những kẻ ngu dốt không làm được tích sự gì cả.

VIII- SỬ DỤNG TỪ TRÁI NGHĨA:

     Từ trái nghĩa là các từ có ý nghĩa đối lập nhau theo từng cặp hay là các từ có khuynh hướng ngược nghĩa nhau. “Đối ứng” là một thủ pháp quen dùng trong văn chương, đã trở thành thứ mã nghệ thuật quan trọng của thơ ca, câu đối. Chính vì thế mà thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng rất nhiều các từ trái nghĩa trong các câu đối xứng. Điều thi vị là tác giả đã tìm ra các thế đối lập mới, các hiện tượng “trái nghĩa” lâm thời mà người đọc có thể tiếp nhận được.

Ví dụ 1

Chúa rằng: “Ta bảo cho nào

Người im, đá sẽ bay vào tung hô. ” (5661 – 5662)

 Ví dụ 2

Công bình bác ái không ham

Chữ “trung” thì thiếu, chữ “tham” lại thừa.

Con muỗi giả bộ lọc lừa

 Lạc đà nuốt trửng không chừa cái lông. (6261 – 6262)

Ví dụ 3:

Cứ lo chè chén vui chơi

Bôn ba  mặc sức, nghỉ ngơi  mặc tình. (6467 – 6468)

Ví dụ 4:

Bao giờ sứ mạng xong rồi

Hết buồn  xa cách, sẽ vui  họp đoàn. (7025 – 7026)

Ví dụ 5:

Hội đồng dẫn bước đều đều

Miệng chưng  đạo hạnh, lòng khêu  hận thù.

Buộc lòng dẫn nạp Giêsu

Là theo công lý chẳng xu phụ người. (8181-  8184)

Ví dụ 6:

Chuyện rồi cũng chẳng giản đơn

Người đen  kẻ trắng  pha sơn lộn màu. (7883 – 7884)

     Tác giả sử dụng cặp từ trái nghĩa “người đen”, ”kẻ trắng” để mô tả sự bất đồng ý kiến của chúng trong việc làm chứng gian tố cáo Chúa Giêsu qua câu “pha sơn lộn màu” thì thật hóm hỉnh.        

            Với kỹ năng sử dụng từ điêu luyện này, Sứ Điệp Tình Thường quả thật là một khuôn mẫu cho những ai muốn bước vào làng thơ.

 
Đoàn Xuân Dũng

     Giáo Hạt Phú Yên