|
Khi vạch kế hoạch viết tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường, có lẽ nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã tốn rất nhiều công sức để làm sao chuyển thể bộ Tân ước qua văn vần mà không làm cho người đọc nhàm chán khi tránh lập lại những từ ngữ thông thường, bằng cách kết hợp các thủ pháp của nghệ thuật làm thơ một cách thật linh động. Điều đó có thể minh chứng qua những cách kết hợp sau đây của tác giả.
I- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TÁCH TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG:
Để diễn tả tâm trạng của kẻ thiếu lòng tin, qua 3 câu thơ, tác giả đã sử dụng 6 lần điệp từ “lo” để nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại cái lo quá sức không cần thiết, kết hợp với phương pháp tách từ “vào” và “ra” để nhấn mạnh thêm tâm trạng không lúc nào an tâm, đồng thời sử dụng câu đối xứng “lo cau trổ muộn, lo già hết duyên” để diễn tả hết cái lo vật chất “ăn mặc, cửa nhà” đến cái lo tinh thần.
Tác giả tách từ “ăn nói’, “đất trời”, “gương mẫu” để tạo thành những vế đối trong trong cả hai câu tám để nhấn mạnh cái nội dung chính là phải “nghe lời Ta”.
Khi sử dụng điệp từ “cho” và tách từ ‘lỡ lầm”, “hèn hạ” tác giả đã khiến cho âm mưu của bọn thầy thông biệt phái nhằm gài bẩy Chúa Giêsu trong vụ xử người đàn bà ngoại tình nhằm mục đích miệt thị Ngài trở trên nặng nề gấp bội.
Với thủ pháp tách từ “nung cháy” kèm vận dụng điệp từ “càng” khiến cho cả hai vế trong mỗi câu trở nên đối xứng một cách tài tình.
Hai vế đối xứng của câu tám thật hay, cái đôi nam nữ ấy là cuộc hôn nhân đầu tiên mà Thiên Chúa đã tác hợp nên vợ chồng.
Chỉ vỏn vẹn trong 2 câu thơ mà tác giả đã vận dụng phương pháp tách từ “suy luận” kết hợp với điệp từ “mắt”, “lòng” tạo nên vế đối thật chỉnh. Cái “mù quáng” và “chai đá” đó còn được nhấn mạnh thêm ở câu tám với vế đối “Để mong hối cải” / “Để hòng an thuyên”.
Tính “gian dối”, cái “mâu thuẫn” càng trở nên nặng nề hơn khi được tác giả kết hợp thủ pháp tách từ “gian”, “dối” và “mâu”, “thuẩn” với điệp từ “tố”.
Hai động từ ghép “khạc nhổ” khi tách từ vẫn mang ý nghĩa độc lập nhưng nó lại được làm tăng thêm ý nghĩa khinh miệt khi đối tượng của nó được nhấn mạnh là “mặt”, “đầu” nhờ điệp từ “vào”.
II- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, ĐIỆP NGỮ VÀ ĐẢO NGỮ:
Để diễn đạt mầu nhiệm của Bí Tích Thánh Thể và sự hợp nhất một cách trọn vẹn với Mình Máu Thánh Chúa, Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng các điệp từ “trong”, “bóng”, “hình”, “máu”, “thịt”, “Ta”, “mình” và các điệp ngữ “cùng nhau” với cách đảo ngữ “trong Ta có mình”, “trong mình có Ta” làm cho ta có cảm tưởng nó đan xen một cách mật thiết mà không cách nào tách ra được. Phải là một người có kỹ năng sử dụng từ ngữ điêu luyện thì mới có thể vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn như vậy.
Trên đường khổ nạn, tác giả đã khéo dùng điệp ngữ “lại càng”, tách từ “cực khổ” và tạo thành các điệp từ “cực” và “khổ” đã làm tăng nỗi khổ đau của Đức Kitô lên bội phần.
III- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TỪ ĐỒNG NGHĨA, CÂU ĐỐI XỨNG:
Tác giả đã bố trí điệp từ ‘ý” và “lời” tạo thành hai vế đối xứng trong câu tám với từ đồng nghĩa “đúng’ và “phải” thật hay.
Cách kết hợp điệp từ “vừa” với các từ láy “dơ dáng” và “ngao ngán” cùng vần “áng” tạo nên hai vế đối không những đã hay mà khi đọc lên còn tạo nên vần điệu thật êm tai.
Kiểu tách từ “đền bồi” kết hợp với điệp từ “bắt” để nhấn mạnh rồi hai từ đồng nghĩa “sao nổi”, “sao kham” tạo nên hai vế đối không những hay về hình thức mà còn làm nổi bật nội dung câu thơ mà tác giả muốn nói lên.
Kết hợp điệp từ “bạn”, “tình” với từ láy “lơ láo”, “trây trúa” tạo nên hai vế đối xứng không những hay về hình thức mà còn sâu sắc về nội dung “Bạn lơ láo bạn” / “Tình trây trúa tình”.
IV- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐẢO TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG: Đảo từ là một thủ pháp rất thường được các thi sĩ sử dụng trong thơ. Cái hay của Nguyễn Xuân Văn là không sử dụng thủ pháp này một cách đơn thuần mà kết hợp tạo nên những vế đối trong thơ lục bát.
Trong câu văn bình thường thứ tự câu phải được viết như sau: - Đầu óc hoang mang. - Tóc tai bơ phờ.
Tác giả tách từ “quanh quẩn” để tạo nên kiểu lặp từ “quanh quanh”. “quẩn quẩn” khiến cho ta cảm thấy bọn quỷ dữ vẫn còn chờ thời cơ để tiếp tục làm huỷ hoại con người.
Ứng dụng thủ pháp tách từ “thực hư” để tạo nên kiểu lặp từ “thực thực”, “hư hư”, tác giả đã làm cho người đọc biết được cá tính của Phi- la- tô là không dứt khoát khi giải quyết vấn đề, chứng tỏ sự thiếu trách nhiệm trong cương vị của một vị quan tổng trấn.
VI- KỸ NĂNG KẾT HỢP TỪ ĐỒNG NGHĨA VÀ TRÁI NGHĨA TRONG CÂU ĐỐI XỨNG:
Tác giả dùng cặp từ trái nghĩa “cửa trước”, “ngõ sau”; “ngày lo”, “đêm hầu” và “cơm cháo”, “thuốc thang” để tạo nên các vế đối xứng khién cho người đọc không thể không lưu tâm đến nội dung mà tác giả muốn diễn đạt.
Với cặp từ trái nghĩa “người trong”, “kẻ ngoài” kết hợp với cặp từ đồng nghĩa “bối rối”, “phân vân” tạo nên hai vế đối xứng thật hoàn chỉnh.
Câu đối là loại văn bản mang tính độc đáo của bản sắc văn hoá dân tộc và của văn hoá phương Đông. Đây là loại văn bản có tổ chức rất ngắn gọn chỉ gồm có hai câu được tổ chức theo kiểu kết cấu tương phản hay đối chọi nhau cả về hình thức âm thanh lẫn ý nghĩa. Nó là loại thơ 2 câu, thơ trang trí. Mỗi câu có 7 chữ, đứng riêng ra vẫn có ý nghĩa trọn vẹn. Về mặt ngôn ngữ, câu đối được xây dựng trên cơ sở của “tính âm tiết”, một đặc điểm quan trọng của loại hình ngôn ngữ đơn lập, tiêu biểu là các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán. Về mặt văn hoá, nó được xây dựng trên cơ sở triết lý âm dương lấy cân xứng để tạo nên hài hoà, lấy sự hoàn chỉnh để tạo nên vẻ đẹp có tính thẩm mỹ nghệ thuật. Hiện nay với sự đa dạng của phong cách nghệ thuật, tính chất ngôn ngữ của câu đối cũng có nhiều biến đổi: ít có sự đối xứng hoàn toàn từng câu, từng chữ, mà lấy đối ý làm chủ yếu. Số chữ trong câu cũng không nhất thiết phải 7 chữ như trước mà mở rộng rất nhiều. Dưới sự mở rộng đó, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng cách đối này trong thơ lục bát ngay trong mỗi một câu thơ. Bởi vì trong thơ lục bát không có sự cân đối về số chữ giữa hai câu với nhau. Cho nên với câu 6, tác giả sử dụng cách đối xứng 3 / 3 và trong câu 8 là cách đối xứng 4 / 4. Khi chia đối xứng như vậy thì không thể nào có sự đối về luật bằng mà chỉ có thể đối ý mà thôi nhưng vẫn làm tăng tính nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm nhờ tăng thêm nhạc điệu của câu thơ. 1- Đối xứng trong câu 6 chữ:
2- Đối xứng trong câu 8 chữ:
3- Đối xứng trong cả câu 6 và câu 8 chữ:
Với thủ pháp kết hợp tư, Sứ Điệp Tình Thường không chỉ đơn thuần là một bản chuyển thể Phúc âm mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị về mặt văn học.
VIII- SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: Trong kho tàng ngôn ngữ của dân tộc, thành ngữ, tục ngữ là những đơn vị có sẵn được hình thành từ lâu đời. Nó có đặc điểm là rất giàu hình ảnh và hình tượng. Tác giả Sứ Điệp Tình Thường đã thường xuyên vận dụng thành ngữ, tục ngữ phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng tác phẩm.
“Anh hùng hào kiệt”: anh là người có tài xuất chúng, hùng là người có sức mạnh khí phách, hào là tài giỏi hơn người, kiệt là là có tài năng hơn người.
“Tao nhân mặc khách”: người tri thức, thích văn chương, thích sống cuộc đời thanh nhàn hợp với thiên nhiên.
“Một sớm một chiều” : trong khoảng thời gian hết sức ngắn (khó có thể đạt được kết quả).
“Huynh đệ tương tàn”: anh em hoặc người cùng một nước tàn sát chém giết nhau.
“Ba que xỏ lá”: một trò cờ bạc bịp bợm; những hạng người lừa lọc bịp bợm, đểu cáng. “Không cánh mà bay”: tự dưng mất biến đi lúc nào không biết, mất rất nhanh và đột ngột.
“Trúc chẻ ngói tan”: trúc chẻ là thế chẻ mạnh, chẻ được một mắt thì các đốt sau tự nứt toát hết; ngói tan là thế phá mái ngói, chỉ vỡ một hòn, thì các hòn khác tự xô xuống. Trong câu thơ này ý nói cuộc đời của ông phú hộ đã bỏ đi rồi không còn thể cứu vãn được nữa.
“Trời cao đất rộng”: trời cao không vươn tới, đất rộng không đi hết.
“Một hội một thuyền’: cùng chung một hoàn cảnh, một cảnh ngộ hoặc một bè phái phe cánh.
“Gió táp mưa sa”: gió đập mạnh, mưa nặng hạt. Chỉ sự phũ phàng của thiên nhiên đối với hoa cỏ cây cối, ngầm chỉ sự vùi dập phũ phàng của cuộc đời đối với thân phận mong manh của con người.
“Đất thảm trời sầu”: cảnh u buồn đau khổ.
IX- CẢI BIÊN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ: Đặc biệt là tác giả phối hợp cả phương pháp tách từ, đảo ngữ và cải biên các thành ngữ và tục ngữ một cách hết sức sáng tạo. 1- Đảo ngữ thành ngữ:
“Dãi nắng dầm mưa” là đảo thành ngữ “dầm mưa dãi nắng”.
“Không giống cánh, cũng giống lông” là đảo thành ngữ “Không giống lông, cũng giống cánh”.
“Lớn mật gan lì” là cải biên và đảo thành ngữ “to gan lớn mật” chỉ kẻ ương bường liều lĩnh.
“Mãi mã chiêu quân” là cải biên và đảo thành ngữ “ chiêu binh mãi mã” chỉ sự mộ quân mua ngựa, tập hợp lực lượng xây dựng thêm vây cánh. 2. Cải biên thành ngữ:
“Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn” là cải biên thành ngữ “Ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn
Trong câu thơ trên “Dĩ ác báo ác” là cải biên thành ngữ “Dĩ ân báo oán” là lấy ân đức báo lại oán thù.
“Vong ân bạc tình” là cải biên thành ngữ Hán- Việt “Vong ân phụ nghĩa” nói về sự không nhớ đến công ơn những người đã cưu mang giúp đỡ mình, bội phản lại tình nghĩa bấy lâu có được.
“Ăn trước đá sau” là cải biên thành ngữ “Ăn trước trả sau
“Cải hồi hoàn lương” là tác giả cải biên thành ngữ “cải ác hoàn lương”.
“Trời rộng đất dày” là cải biên thành ngữ “Trời cao đất rộng”.
Tác giả đã cải biên thành ngữ “Châu về Hợp Phố” thành câu “Hợp Phố đưa châu trở về”.
X- KỸ NĂNG GHÉP TỪ ĐỂ TẠO CỤM TỪ MỚI: Đây chính là tính sáng tạo của nhà thơ khi đã nắm bắt được tất cả các thủ pháp sử dụng từ để tạo ra những cụm từ mới giúp cho ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng phong phú hơn.
Tác giả tách từ “qua lại” để ghép với từ “bánh bèo”, “bánh đúc” và cải biên thành ngữ “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại” để tạo nên một thành ngữ mới “bèo qua đúc lại”.
Tác giả cải biên thành ngữ “ăn cám trả vàng” để tạo một thành ngữ mới “ăn gừng trả mật” mà không làm thay đổi nội dung ngữ nghĩa.
Từ “đối khai” hàm nghĩa là công khai đối chất. Từ “trảo nha” hàm nghĩa là bọn nha đinh tra khảo.
Từ “âm trầm” hàm nghĩa thâm trầm và âm hiểm.
Từ “mật xà” là túi mật của con rắn, ý nói là sự ác độc. Từ “gan sấu” là lá gan của cá sấu, ý nói về sự hung dữ.
Nhà thơ dùng thủ pháp tách từ “đủ thiếu” và ‘”mặt mày” để ghép thành từ mới là “đủ mặt” và “thiếu mày”.
|
|
Đoàn Xuân Dũng |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|