KỸ NĂNG KẾT HỢP VÀ TẠO TỪ MỚI CỦA THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN

     Khi vạch kế hoạch viết tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường, có lẽ nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã tốn rất nhiều công sức để làm sao chuyển thể bộ Tân ước qua văn vần mà không làm cho người đọc nhàm chán khi tránh lập lại những từ ngữ thông thường, bằng cách kết hợp các thủ pháp của nghệ thuật làm thơ một cách thật linh động. Điều đó có thể minh chứng qua những cách kết hợp sau đây của tác giả.

 

I- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TÁCH TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG:       

Ví dụ 1

Ôi! lòng tin kém dường nào

Giống như kẻ ngoại lo  vào  lo  ra

Lo  ăn mặc, lo  cửa nhà

Lo  cau trổ muộn, lo  già hết duyên. (1709 – 1712)

Để diễn tả tâm trạng của kẻ thiếu lòng tin, qua 3 câu thơ, tác giả đã sử dụng 6 lần điệp từ “lo” để nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại cái lo quá sức không cần thiết, kết hợp với phương pháp tách từ “vào” và “ra” để nhấn mạnh thêm tâm trạng không lúc nào an tâm, đồng thời sử dụng câu đối xứng “lo cau trổ muộn, lo già hết duyên” để diễn tả hết cái lo vật chất “ăn mặc, cửa nhà” đến cái lo tinh thần.

Ví dụ 2:

Ăn làm sao? Nói làm sao?

Đất không nhận diện, / trời nào điểm danh.

 Nghe lời Ta biết thực hành

Khôn ngoan nên mẫu, / trung thành nên gương. (1791 – 1794)

     Tác giả tách từ “ăn nói’, “đất trời”, “gương mẫu” để tạo thành những vế đối trong trong cả hai câu tám để nhấn mạnh cái nội dung chính là phải “nghe lời Ta”.            

Ví dụ 3: 

Thừa cơ nước đục sóng ngầm

Làm cho, cho  lỡ  cho  lầm một phen

Ra tay đổi trắng thay đen

Sao cho, cho  hạ  cho  hèn mới thôi. (3651 – 3654)

Khi sử dụng điệp từ “cho” và tách từ ‘lỡ lầm”, “hèn hạ” tác giả đã khiến cho âm mưu của bọn thầy thông biệt phái nhằm gài bẩy Chúa Giêsu trong vụ xử người đàn bà ngoại tình nhằm mục đích miệt thị Ngài trở trên nặng nề gấp bội.

Ví dụ 4:

Nung không chảy, / cháy không tiêu

Càng không chết được, / càng nhiều đắng cay. (5015 – 5016)

     Với thủ pháp tách từ “nung cháy” kèm vận dụng điệp từ “càng” khiến cho cả hai vế trong mỗi câu trở nên đối xứng một cách tài tình.

 Ví dụ 5: 

Dựng nên nhân loại từ đầu

 Một  đôi  nam nữ, / một  khâu  vợ chồng. (5101 – 5102)

     Hai vế đối xứng của câu tám thật hay, cái đôi nam nữ ấy là cuộc hôn nhân đầu tiên mà Thiên Chúa đã tác hợp nên vợ chồng.

Ví dụ 6:

Mặc cho suy ngắn luận dài

Mắt  mù quáng mắt, / lòng  chai đá  lòng

Không còn phân biệt đục trong

Để mong hối cải, / để hòng an thuyên. (5827 – 5828)

     Chỉ  vỏn vẹn trong 2 câu thơ mà tác giả đã vận dụng phương pháp tách từ “suy luận” kết hợp với điệp từ “mắt”, “lòng” tạo nên vế đối thật chỉnh. Cái  “mù quáng” và “chai đá” đó còn được nhấn mạnh thêm ở câu tám với vế đối “Để mong hối cải” / “Để hòng an thuyên”.

Ví dụ 7:

Tố  gian, tố  dối một hồi

Bên  mâu  bên  thuẫn , tố  bồi lẫn nhau. (7863 – 7872)

     Tính “gian dối”, cái “mâu thuẫn” càng trở nên nặng nề hơn khi được tác giả kết hợp thủ pháp tách từ “gian”, “dối” và “mâu”, “thuẩn” với điệp từ “tố”.

Ví dụ 8: 

 Nhổ  vào  mặt, khạc  vào  đầu

Thi nhau bứt tóc giựt râu tơi bời. (7921 – 7922)

     Hai động từ ghép “khạc nhổ” khi tách từ vẫn mang ý nghĩa độc lập nhưng nó lại được làm tăng thêm ý nghĩa khinh miệt khi đối tượng của nó được nhấn mạnh là “mặt”, “đầu” nhờ điệp từ “vào”.

 

II- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, ĐIỆP NGỮ VÀ ĐẢO NGỮ:

Ví dụ 1:

Được mời dự tiệc cao lương

Cùng ta kết nghĩa thịt xương thâm tình

Cùng nhau như bóng với hình

Trong hình có bóng, trong mình có Ta

Cùng nhau máu thịt hợp hoà

Trong thịt có máu, trong Ta có mình. (2789 – 1794)

     Để diễn đạt mầu nhiệm của Bí Tích Thánh Thể và sự hợp nhất một cách trọn vẹn với Mình Máu Thánh Chúa, Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng các điệp từ “trong”, “bóng”, “hình”, “máu”, “thịt”, “Ta”, “mình” và các điệp ngữ “cùng nhau” với cách đảo ngữ “trong Ta có mình”, “trong mình có Ta” làm cho ta có cảm tưởng nó đan xen một cách mật thiết mà không cách nào tách ra được. Phải là một người có kỹ năng sử dụng từ ngữ điêu luyện thì mới có thể vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn như vậy.

Ví dụ 2: 

Lại càng bị xéo bị dày

Lại càng dập mặt rách mày tả tơi

Lại càng đuối sức mòn hơi

Liệt gân rũ cốt rã rời tay          chân

Cực thân cực xác một phần

Cực tâm cực trí ngàn lần thêm kinh.

Khổ lòng bằng vạn khổ hình

Tội đền vạ chịu công linh nào vừa. (8655 – 8662)

     Trên đường khổ nạn, tác giả đã khéo dùng điệp ngữ “lại càng”, tách từ “cực khổ” và tạo thành các điệp từ “cực” và “khổ” đã làm tăng nỗi khổ đau của Đức Kitô lên bội phần.

 

III- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐIỆP TỪ, TỪ ĐỒNG NGHĨA, CÂU ĐỐI XỨNG:

Ví dụ 1:

Gọi Thầy là Chúa là Thầy

Ý vừa đúng  ý, / lời  hay phải  lời. (6797 – 6798)       

     Tác giả đã bố trí điệp từ ‘ý” và “lời” tạo thành hai vế đối xứng trong câu tám với từ đồng nghĩa “đúng’ và “phải” thật hay.

Ví dụ 2:

Tuyên xong bản án bất công

 Nghe lòng như bị mũi chông đâm vào

 Nặng nề xuống khỏi toà cao

Vừa  dơ dáng  mặt, / vừa  ngao ngán  đời. (8571 – 8574)

     Cách kết hợp điệp từ “vừa” với các từ láy “dơ dáng” và “ngao ngán” cùng vần “áng” tạo nên hai vế đối  không những đã hay mà khi đọc lên còn tạo nên vần điệu thật êm tai.

Ví dụ 3: 

 Xin Cha tha thứ , Cha ơi!

Bắt  đền  sao  nổi, / bắt  bồi  sao  kham. (8867 – 8868)

     Kiểu tách từ “đền bồi” kết hợp với điệp từ “bắt” để nhấn mạnh rồi hai từ đồng nghĩa “sao nổi”, “sao kham” tạo nên hai vế đối không những hay về hình thức mà còn làm nổi bật nội dung câu thơ mà tác giả muốn nói lên.

Ví dụ 4:

Dốt nghề nhờ cậy ai đây?

Bạn  lơ láo  bạn, tình   trây trúa  tình. (4705 – 4706)

     Kết hợp điệp từ “bạn”, “tình” với từ láy “lơ láo”, “trây trúa” tạo nên hai vế đối xứng không những hay về hình thức mà còn sâu sắc về nội dung “Bạn lơ láo bạn” / “Tình trây trúa tình”.

 

IV- KỸ NĂNG KẾT HỢP ĐẢO TỪ VÀ CÂU ĐỐI XỨNG:

     Đảo từ là một thủ pháp rất thường được các thi sĩ sử dụng trong thơ. Cái hay của Nguyễn Xuân Văn là không sử dụng thủ pháp này một cách đơn thuần mà kết hợp tạo nên những vế đối trong thơ lục bát.

Ví dụ 1:

Giựt mình cả bọn ngã nhào

Chẳng còn biết đất trời đâu mà rờ

Giây sau bừng tỉnh giấc mơ

Hoang mang đầu óc, / bơ phờ tóc tai. (7703 – 7704)

Trong câu văn bình thường thứ tự câu phải được viết như sau:

- Đầu óc hoang mang.

 - Tóc tai bơ phờ.

 

V- KỸ NĂNG LẶP TỪ VÀ TÁCH TỪ:

Ví dụ 1:

Bao giờ gặp cảnh đuổi xua

Quỷ ma biết cách chào thua chạy dài

Quanh quanh  quẩn quẩn bên ngoài

Xa ngôi nhà cũ độ vài ba hôm. (4351 – 4354)

Tác giả tách từ “quanh quẩn” để tạo nên kiểu lặp từ “quanh quanh”. “quẩn quẩn” khiến cho ta cảm thấy bọn quỷ dữ vẫn còn chờ thời cơ để tiếp tục làm huỷ hoại con người.

Ví dụ 2:

Lời quan thực thực  hư hư

Nghe ra đâu phải nói từ ruột gan. (8259 – 8260)

Ứng dụng thủ pháp tách từ “thực hư” để tạo nên kiểu lặp từ “thực thực”, “hư hư”, tác giả đã làm cho người đọc biết được cá tính của Phi- la- tô là không dứt khoát khi giải quyết vấn đề, chứng tỏ sự thiếu trách nhiệm trong cương vị của một vị quan tổng trấn.

 

VI- KỸ NĂNG KẾT HỢP TỪ ĐỒNG NGHĨA VÀ TRÁI NGHĨA TRONG CÂU ĐỐI XỨNG:

Ví dụ 1: 

Nào đâu thấy Chúa cơ hàn

Mà đem cơm áo ủi an bao giờ

Chúa đâu lưu lạc bơ vơ

 Để mong  cửa trước , để chờ  ngõ sau

Bao giờ thấy Chúa ốm đau

Ngày lo  cơm cháo , đêm hầu  thuốc thang. (6551 – 6556)  

     Tác giả dùng cặp từ trái nghĩa “cửa trước”, “ngõ sau”; “ngày lo”, “đêm hầu” và “cơm cháo”, “thuốc thang” để tạo nên các vế đối xứng khién cho người đọc không thể không lưu tâm đến nội dung mà tác giả muốn diễn đạt.

Ví dụ 2: 

Mấy lời bảo khẽ vào tai

Người trong  bối rối, kẻ ngoài  phân vân. (6839 – 6840)

     Với cặp từ trái nghĩa “người trong”, “kẻ ngoài” kết hợp với cặp từ đồng nghĩa “bối rối”, “phân vân” tạo nên hai vế đối xứng thật hoàn chỉnh.

 

VII- SỬ DỤNG CÂU ĐỐI XỨNG:

     Câu đối là loại văn bản mang tính độc đáo của bản sắc văn hoá dân tộc và của văn hoá phương Đông. Đây là loại văn bản có tổ chức rất ngắn gọn chỉ gồm có hai câu được tổ chức theo kiểu kết cấu tương phản hay đối chọi nhau cả về hình thức âm thanh lẫn ý nghĩa. Nó là loại thơ 2 câu, thơ trang trí. Mỗi câu có 7 chữ, đứng riêng ra vẫn có ý nghĩa trọn vẹn.

Về mặt ngôn ngữ, câu đối được xây dựng trên cơ sở của “tính âm tiết”, một đặc điểm quan trọng của loại hình ngôn ngữ đơn lập, tiêu biểu là các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán. Về mặt văn hoá, nó được xây dựng trên cơ sở triết lý âm dương lấy cân xứng để tạo nên hài hoà, lấy sự hoàn chỉnh để tạo nên vẻ đẹp có tính thẩm mỹ nghệ thuật.

     Hiện nay với sự đa dạng của phong cách nghệ thuật, tính chất ngôn ngữ của câu đối cũng có nhiều biến đổi: ít có sự đối xứng hoàn toàn từng câu, từng chữ, mà lấy đối ý làm chủ yếu. Số chữ trong câu cũng không nhất thiết phải 7 chữ như trước mà mở rộng rất nhiều.

     Dưới sự mở rộng đó, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng cách đối này trong thơ lục bát ngay trong mỗi một câu thơ. Bởi vì trong thơ lục bát không có sự cân đối về số chữ giữa hai câu với nhau. Cho nên với câu 6, tác giả sử dụng cách đối xứng 3 / 3 và trong câu 8 là cách đối xứng 4 / 4. Khi chia đối xứng như vậy thì không thể nào có sự đối về luật bằng mà chỉ có thể đối ý mà thôi nhưng vẫn làm tăng tính nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm nhờ tăng thêm nhạc điệu của câu thơ.

1- Đối xứng trong câu 6 chữ:

Ví dụ 1:

 Đồng dòng dõi, / xứng tông môn

Cùng nàng đủ lễ đính hôn ước nguyền. (111 – 112)

Ví dụ 2: 

Chúa vào mở sách chọn đề

Lời Kinh ý nghĩa đủ bề triển khai

Người phục lý, / kẻ phục tài

 Có tên quỉ ám lai nhai nhất thời. (1113 – 1116)

Ví dụ 3:

Thấy tận mắt, / nghe tận tai

Nhiều người công chính vọng hoài khi xưa. (2211 – 2212)

Ví dụ 4:

 Xuyên qua ý, / thấu qua lòng

Chúa ngầm giải đáp bằng vòng dụ ngôn. (4645 – 4646)

Ví dụ 5:

Sông chưa cạn, / đá chưa mòn

Đức Tin rồi nữa có còn hay không?

Ví dụ 6:

Giờ ly biệt, phút tử sinh

Làm sao kể hết tâm tình cho vơi. (6877 – 6878)

Ví dụ 7:

Trời đẹp mặt, đất tươi mày

Qua cơn ác mộng là hay Thầy về. (7281 – 7282)

Ví dụ 8:

Không giật ghế, / chẳng giành ngai

Đời không phải chỗ tranh tài hơn thua. (8265 – 8266)

Ví dụ 9:

Không đũa ngọc, / chẳng mâm son

 Mà nhiều hương vị thơm ngon lạ lùng. (9425 – 9426)

2- Đối xứng trong câu 8 chữ:

Ví dụ 1:

Hờn duyên tủi phận với người

Chịu câu khinh bạc, / nhịn lời mỉa mai. (39 – 42)

Ví dụ 2: 

Ông bà dáng dấp nghèo nàn

Người kinh bạc đuổi, / kẻ tàn bạo xua. (321 – 322)

Ví dụ 3:

Thầy trò khăn gói đề huề

Hướng nhà quen lối, / bóng quê thạo đường. (1269 – 1270)

Ví dụ 4:

Một hôm dân chúng gần xa

Vượt tràn sóng gió, / băng qua núi rừng. (1465 – 1466)

 Ví dụ 5:

Ôi lòng chai đá người ta

Lửa nung không chảy, / mưa sa chẳng sờn. (1929 – 1930)

Ví dụ 6:

Con trai bị bố bỏ rơi

Gái xa hiền mẫu, / dâu rời mụ gia. (2577 – 2578)

 Ví dụ 7:

Chúng rằng: “Nhờ quỷ Dê- bu

Chở che phía trước, / hộ phù bên sau. (4285 – 4286)

 Ví dụ 8: 

Hay là cho chúng thong dong

 Xuống khe nước ngọt, / lên đồng cỏ thơm. (4481 – 4482)

Ví dụ 9: 

Vừa đi vừa giảng lần hồi

Sớm vùng thành thị, / chiều nơi xóm làng. (4489 – 4490)

Ví dụ 10:

Chi bằng mời kẻ tật nguyền

 Áo cơm túng thiếu, bạc tiền khó khăn . (4557 – 4558)

 Ví dụ 11: 

 Bao nhiêu của cải đâu còn

Chân tê sòng bạc, / gót mòn lầu xanh. (4825 – 4826)          

 Ví dụ 12: 

Hỡi quân ăn bẩn uống tồi

Ruột gan  giả nghĩa, /  miệng môi  giả hình. (6271 – 6272)

Ví dụ 13: 

Bên trong dối trá ngang tàng

Độc ngâm  đầy bụng, /  ác mang  nặng người. (6283 – 6284)

Ví dụ 14: 

Chúng con bền chí theo Thầy

Gian lao  không bỏ, / đắng cay  không rời. (6735 – 6736)

Ví dụ 15: 

Cùng nhau vinh hiển một nhà

Rượu thơm  chung chén, /  tiệc hoa  đồng bàn. (6739 – 6740)

 Ví dụ 16:

Tô- ma cất giọng càu nhàu:

 Rằng: “Nơi Thầy đến biết đâu mà dò?

Nếu Thầy không chỉ đường cho

Xa gần  ai biết, / quanh co  ai tường?” (6975 – 6978)

Ví dụ 17:

Cho thế gian mở mắt ra

Thấy Con tận nghĩa, / thấy Cha tận tình. (7079 - 7080)        

Ví dụ 18:                     

Đoạn đường đau khổ còn dài

Đắng cay ngàn nỗi, / chông gai vô vàn. (7333 – 7334)

Ví dụ 19:                     

Sau lưng đứa đẩy đứa xô

Dây da  kéo cổ, / gậy thô  đập đầu. (7777 – 7778)

Ví dụ 20:                     

Kỳ hào tư tế quay cuồng

Như bầy quỷ ám , / như tuồng khùng điên

Chạy lui chạy tới liền liền

Tai nghe quỷ dục, / miệng khuyên sói gầm. (8387 – 8390)

Ví dụ 21:                     

Trông Con thảm quá Con ơi

Ngọc sa vũng lấm, / châu rơi bãi sình. (9103 – 9104

Ví dụ 22:     

Rước thi thể Chúa đưa sang

Nước hoa rửa máu, / lụa vàng lau thương. (9153 – 9154)

Ví dụ 23:                     

Các bà cúi mặt làm thinh

Nỗi e cứng miệng, / nỗi kinh ngại lời. (9221 – 9222)

 Ví dụ 24:                     

Cho muôn dân tỉnh mộng đời

Sương gieo ân tứ, / mưa rơi phúc lành. (9709 – 9710)

3- Đối xứng trong cả câu 6 và câu 8 chữ:

Ví dụ 1:                       

Tay cầm bánh, / mắt nhìn trời

 Xướng câu chúc tụng, /  đọc lời tạ ơn. (6905 – 6906)

Ví dụ 2:                       

Mặt biến sắc, / mắt lạc thần

Ngực thoi thóp thở, /  người bần bật run. (8797 – 8798)

Ví dụ 3:                       

Ngực căng cứng, ức vun cao

Thở ra khí uất, / hít vào nghẹn hơi. (8823 – 8824

Ví dụ 4:                       

Mẹ lo, Mẹ sợ biết bao

Chân run rẩy bước, / lòng xao xuyến buồn

Máu Con đổ, / lệ Mẹ tuôn

Hiệp công đền tội cho muôn ngàn đời. (8893 – 8896

     Với thủ pháp kết hợp tư, Sứ Điệp Tình Thường không chỉ đơn thuần là một bản chuyển thể Phúc âm mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị về mặt văn học.

 

VIII- SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ:

     Trong kho tàng ngôn ngữ của dân tộc, thành ngữ, tục ngữ là những đơn vị có sẵn được hình thành từ lâu đời. Nó có đặc điểm là rất giàu hình ảnh và hình tượng.

     Tác giả Sứ Điệp Tình Thường đã thường xuyên vận dụng thành ngữ, tục ngữ phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng tác phẩm.

Ví dụ 1:                       

Nam nhi điểm mặt bốn phương

 Anh hùng hào kiệt phải nhường cho Gioan. (1903 – 1904)

     “Anh hùng hào kiệt”: anh là người có tài xuất chúng, hùng là người có sức mạnh khí phách, hào là tài giỏi hơn người, kiệt là là có tài năng hơn người.

Ví dụ 2:                       

Tao nhân mặc khách xa gần

Được mời Chúa cũng góp phần chia vui. (2021 – 2022)

     “Tao nhân mặc khách”: người tri thức, thích văn chương, thích sống cuộc đời thanh nhàn hợp với thiên nhiên.

Ví dụ 3:                       

Hạt nhằm đất sỏi không may

Mọc lên độ một vài ngày nắng thiêu.

Hạt nhằm bụi rậm gai nhiều

Nghẽn đi một sớm một chiều mà thôi. (2187 – 2190)

     “Một sớm một chiều” : trong khoảng thời gian hết sức ngắn (khó có thể đạt được kết quả).

Ví dụ 4:                       

Nhà nào huynh đệ tương tàn

Lại không sụp đổ tiêu tan cửa nhà. (4293 – 4294)

“Huynh đệ tương tàn”: anh em hoặc người cùng một nước tàn sát chém giết nhau.

Ví dụ 5:                       

Thị thành là chốn ăn chơi

Ba que xỏ lá gặp thời “áp phe

Vai mang gói bạc kè kè

Ma cô đĩ điếm vãn ve tối ngày

Đồng tiền không cánh mà bay

Giật mình tỉnh mộng trắng tay bao giờ. (4691 – 4698)

     “Ba que xỏ lá”: một trò cờ bạc bịp bợm; những hạng người lừa lọc bịp bợm, đểu cáng.

     “Không cánh mà bay”: tự dưng mất biến đi lúc nào không biết, mất rất nhanh và đột ngột.

Ví dụ 6:                       

Đời tôi trúc chẻ ngói tan

Em tôi còn ở dương gian năm người. (5035 – 5036

     “Trúc chẻ ngói tan”: trúc chẻ là thế chẻ mạnh, chẻ được một mắt thì các đốt sau tự nứt toát hết; ngói tan là thế phá mái ngói, chỉ vỡ một hòn, thì các hòn khác tự xô xuống. Trong câu thơ này ý nói cuộc đời của ông phú hộ đã bỏ đi rồi không còn thể cứu vãn được nữa.

Ví dụ 7:                       

Trời cao đất rộng muôn trùng

Ta đi không thể tháp tùng theo Ta. (6885 – 6886)

     “Trời cao đất rộng”: trời cao không vươn tới, đất rộng không đi hết.

 Ví dụ 8:                       

 Cùng nhau một hội một thuyền

Thương nhau như cắt máu chuyền cho nhau. (6893 – 6894

     “Một hội một thuyền’: cùng chung một hoàn cảnh, một cảnh ngộ hoặc một bè phái phe cánh.

Ví dụ 9:                       

Gặp khi gió táp mưa sa

Nhớ rằng Thầy đã phán qua mọi lời. (7213 – 7214)

     “Gió táp mưa sa”: gió đập mạnh, mưa nặng hạt. Chỉ sự phũ phàng của thiên nhiên đối với hoa cỏ cây cối, ngầm chỉ sự vùi dập phũ phàng của cuộc đời đối với thân phận mong manh của con người.

Ví dụ 10:                     

 Đánh thôi đất thảm trời sầu

Khắp người toé máu nát nhầu thịt da. (8441 – 8442

     “Đất thảm trời sầu”: cảnh u buồn đau khổ.            

 

IX- CẢI BIÊN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ:

Đặc biệt là tác giả phối hợp cả phương pháp tách từ, đảo ngữ và cải biên các thành ngữ và tục ngữ một cách hết sức sáng tạo.

1- Đảo ngữ thành ngữ:

Ví dụ 1

Bấy lâu dãi nắng dầm mưa

Quần chưa biến sắc, áo chưa thay màu. (2399 – 2400)      

     “Dãi nắng dầm mưa” là đảo thành ngữ  “dầm mưa dãi nắng”.

Ví dụ 2:                       

Chúa rằng: “Không phải thế đâu

Cháu con tất phải giống màu cha ông

Không giống cánh, cũng giống lông

Chỉ làm những việc tổ tông đã làm. (3785 – 3788

     “Không giống cánh, cũng giống lông” là đảo thành ngữ “Không giống lông, cũng giống cánh”.

Ví dụ 3:                       

Dù ai lớn mật gan lì

Không sao cướp được điều gì nơi Cha. (4239 – 4240

“Lớn mật gan lì” là cải biên và đảo thành ngữ “to gan lớn mật” chỉ kẻ ương bường liều lĩnh.

Ví dụ 4:                       

Nước Tôi không bởi gian trần

Tôi không mãi mã chiêu quân bao giờ. (8251 – 8252)

     “Mãi mã chiêu quân” là cải biên và đảo thành ngữ “ chiêu binh mãi mã” chỉ sự mộ quân mua ngựa, tập hợp lực lượng xây dựng thêm vây cánh.

2. Cải biên thành ngữ:

Ví dụ 1: 

 Âm thầm tính chuyện bôn đào

Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn. (281 – 282)

     “Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn” là cải biên thành ngữ “Ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn

 Ví dụ 2:                       

 Phần thầy dạy các con rằng

Dĩ ác báo ác sao bằng thi ân. (1595 – 1596)

Trong câu thơ trên “Dĩ ác báo ác” là cải biên thành ngữ “Dĩ ân báo oán” là lấy ân đức báo lại oán thù.

Ví dụ 3

Luật truyền: yêu bạn ghét thù

Song Thầy bảo thật: cho dù địch nhân

Hãy yêu chẳng khác người thân

Thi ân cho kẻ vong ân bạc tình. (1605 – 1608

“Vong ân bạc tình” là cải biên thành ngữ Hán- Việt “Vong ân phụ nghĩa” nói về sự không nhớ đến công ơn những người đã cưu mang giúp đỡ mình, bội phản lại tình nghĩa bấy lâu có được.

Ví dụ 4

Cho dù không phải gà nhà

Chẳng nên chuốt cựa để mà chọi nhau

Ai không ăn trước đá sau

Tức là ủng hộ có đâu ngại gì? (3329 – 3332

     “Ăn trước đá sau” là cải biên thành ngữ “Ăn trước trả sau

Ví dụ 5:                       

Nầy Ta bảo thật các ngươi

“Một người tội lỗi cải hồi hoàn lương

Thiên thần hoan hỉ phi thường

Reo vui nhộn cả thiên đường khác chi?” (4669 – 4672)

“Cải hồi hoàn lương” là tác giả cải biên thành ngữ “cải ác hoàn lương”.

Ví dụ 6

Lão rằng: “Khốn nạn thân tôi

Thời gian đâu để đền bồi nữa đây

Hỡi ơi mang kiếp đoạ đày

Hết còn trời rộng đất dày kêu than. (5031 – 5034)

     “Trời rộng đất dày” là cải biên thành ngữ “Trời cao đất rộng”.

Ví dụ 7:                       

Nàng rằng: “Khổ lắm ông ơi

Ví dù ông đã cất Người đi đâu

Nghe tôi khẩn thiết van cầu

 Xin cho: “Hợp Phố đưa châu trở về. ” (9289 – 9292)

     Tác giả đã cải biên thành ngữ  “Châu về Hợp Phố” thành câu “Hợp Phố đưa châu trở về”.

 

X- KỸ NĂNG GHÉP TỪ ĐỂ TẠO CỤM TỪ MỚI:

     Đây chính là tính sáng tạo của nhà thơ khi đã nắm bắt được tất cả các thủ pháp sử dụng từ để tạo ra những cụm từ mới giúp cho ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng phong phú hơn.

Ví dụ 1:                       

Nếu con yêu kẻ yêu con

Bèo qua đúc lại thì còn công chi. (1615 – 1616)

Tác giả tách từ “qua lại” để ghép với từ “bánh bèo”, “bánh đúc” và cải biên thành ngữ “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại” để tạo nên một thành ngữ  mới “bèo qua đúc lại”.

Ví dụ 2:                       

 Ngoài ra tôi thích từ bi

Ăn gừng trả mật phiền gì anh đâu? (5241 – 5242)

Tác giả cải biên thành ngữ “ăn cám trả vàng” để tạo một thành ngữ mới “ăn gừng trả mật” mà không làm thay đổi nội dung ngữ nghĩa.                

Ví dụ 3:                       

Cai- pha hắng giọng lấy oai

Truyền đem can phạm đối khai  trước toà.

Hằm hằm một bọn trảo nha

Lôi người bị trói đứng ra giữa phòng. (7861 – 7862

Từ “đối khai” hàm nghĩa là công khai đối chất.

Từ “trảo nha” hàm nghĩa là bọn nha đinh tra khảo.

 Ví dụ 4:                       

“Tôi dù là kẻ vong ân

Ông là tên bợm sát nhân lộng hành

Tôi đem bán máu người lành

Tội tôi quá nặng không đành cam tâm.

Cai- pha nghiêm mặt âm trầm

Hội đồng cưởi khỉnh ầm ầm quát lên. (8063 -  8068)

     Từ “âm trầm” hàm nghĩa thâm trầm và âm hiểm.

Ví dụ 5:                       

Tha tên ác quỷ hung thần

Trao Con Thiên Chúa cho quân lý hình

Tức thì cả một cơ binh

Mật xà, gan sấu sinh linh coi thường. (8421 – 8424)            

     Từ “mật xà” là túi mật của con rắn, ý nói là sự ác độc.

     Từ “gan sấu” là lá gan của cá sấu, ý nói về sự hung dữ.

Ví dụ 6:                       

Lần đầu lúc Chúa hiện ra

Môn nhân đủ mặt, Tô- ma thiếu mày. (9505 – 9506)

          Nhà thơ dùng thủ pháp tách từ “đủ thiếu” và ‘”mặt mày” để ghép thành từ mới là “đủ mặt” và “thiếu mày”.    

 

Đoàn Xuân Dũng

     Giáo Hạt Phú Yên