TÍNH TỔNG HỢP NGÔN NGỮ TRONG THƠ CỦA NGUYỄN XUÂN VĂN

Đặc điểm về tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện ở chỗ phong cách này chấp nhận đưa vào trong nó rất nhiều từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ,  từ nghề nghiệp… Đó là vốn từ hầu như không được sử dụng trong các phong cách hành chính công vụ, chính luận, báo chí và phong cách khoa học. Trong khi đó ở phong cách nghệ thuật nó lại là những dấu hiệu quan trọng làm nên phong cách tác giả và tác phẩm.

Qua tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng nhiều loại từ chuyên ngành để mô tả và diễn đạt mọi sự kiện và tình tiết được kể trong Tin Mừng dưới dạng thơ lục bát thật điêu luyện và thích hợp. Chúng ta có thể tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ của tác giả qua các chuyên ngành y học, nông học, tư pháp, Phật học, tướng học, võ thuật, địa phương, Hán Việt và lảy Kiều dưới nhiều hình thức thể hiện ngôn ngữ khác nhau.         

 

I- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ Y HỌC:

1- Sử dụng từ ngữ Y học Tây phương (Y học hiện đại):

 Trong phong cách nghệ thuật của mình, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng cả những từ trong y học để mô tả các trạng thái sinh lý và bệnh lý của nhân vật một cách khá chính xác.

dụ 1:                      

Gioan là tên chọn từ đầu

Tay vừa ngưng bút, âm hầu mở ra. (237 – 238)

Tác giả xác định rõ âm thanh này phát xuất từ hầu họng, có thể là một bệnh lý ở vùng hầu họng khiến cho ông Giacaria không nói được chứ không phải bệnh lý ở não bộ thuộc hệ thần kinh trung ương.

dụ 2:                      

Bốn mươi ngày sống một mình

Kiêng ăn cữ uống lặng thinh nguyện cầu

Mãn kỳ chay tịnh dài lâu

Ruột gan Con Chúa bắt đầu xôn xao.        

Thi sĩ đã sử dụng các từ thường dùng trong y học để mô tả cảm giác đói sinh lý của người chay tịnh chỉ “xôn xao” một cách nhẹ nhàng vì do làm chủ được cái đói của mình, chứ không phải cái đói bệnh lý của một kẻ bị đói trong bệnh tiểu đường hoặc đói do bệnh thần kinh.

dụ 3:                      

Chúa rằng: “Sao chẳng phân minh

Bao giờ ngoại vật vào mình người ta

Cửa tim không thể bước qua

Làm sao đem trút mối tà vô trong

qua cửa bụng một vòng

Quanh qua quẩn lại tạo dòng máu tươi. (3035 – 3040)

Là một Linh mục, nhưng tác giả mô tả chẳng khác nào một y sĩ, phân biệt rõ ràng “ngoại vật” không thể trực tiếp đi vào hệ thống huyết quản đến “cửa tim” mà nó phải qua “cửa bụng” của dạ dày rồi được chuyển hoá “quanh qua quẩn lại” để tạo thành máu chạy trong các huyết quản.

dụ 4:

Phán xong nhổ bọt hoà tan

Trộn thành bùn xức thị quan tên mù. (3875 – 3876)

Tác giả đã dùng từ “thị quan” nhằm nói đến toàn bộ hệ thống thị giác có tính cách bao quát, hơn là dùng từ  “nhãn quan” nhằm chỉ “đôi mắt”. Bởi vì chúng ta không biết người mù này không thấy được do tổn thương bộ phận nào của hệ thống thị giác. Do vậy khi dùng từ “thị quan” là tác giả nhằm nói Chúa Giêsu chữa bệnh là chữa từ nguyên nhân sinh bệnh chứ không chỉ chữa triệu chứng bệnh.

dụ 5:

Cùng nhau một hội một thuyền

Thương nhau như cắt máu truyền cho nhau. (6893 – 6894)

            Trong y học hiện đại thường gọi là “lấy máu truyền” nhưng tác giả đã dùng cụm từ “cắt máu truyền” nhằm nói lên sự sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để cứu anh em đồng loại.

dụ 6:

Đánh thmội, đánh tan tành

Mỗi roi thịt xẻ da banh máu trào. (8449 – 8452)

Thi sĩ mô tả thứ tự từng tổ chức bị tổn thương do đòn vọt của bọn lý hình: da banh, thịt xẻ, gân bày, xương lòi và đã khéo vận dụng điệp từ “đánh” để làm nặng lên những tổ chức bị “banh”, “xẻ’, “bày” và “lòi” này.

dụ 7:

Kỳ hào tư tế hả hơi

vai thủ hạ vang trời hò reo

Như vừa đánh thắng một keo

Như vừa trút bỏ đá đeo bên mình

Thét lên như bị động kinh:

Mau cho hắn nếm mũi đinh tử thần. (8575 – 8580)

            So sánh sự đắc thắng của bọn “kỳ hào tư tế” nhảy lên mừng rỡ như bị “động kinh” thật là một phép so sánh kèm khoa trương nhưng diễn tả thật đúng tâm trạng của bọn chúng khi thành công trong việc tố cáo và bắt giết Chúa Giêsu.

dụ 8:          

Một tên giữ chặt thân mình

Tên cầm búa đóng rung rinh mặt đồi

Đinh xuyên thịt nát xương lồi

Đinh thâu gân mạch đứt đôi máu trào. (8791 – 8794

            Mặc dầu không nói rõ đinh xuyên qua vùng xương cổ tay nhưng khi dùng cụm từ “đinh xuyên thịt nát xương lồi” và ‘đinh thâu gân mạch” tác giả vẫn muốn giữ nguyên truyền thống Cựu ước là Con Người không bị gãy dập một xương nào.

2- Sử dụng từ ngữ Y học Đông phương (Y học cổ truyền):

dụ 1:

Chúa rằng: “ bệnh tất cầu phương

Không dưng ai dễ chủ trương mời Thầy. (1351 – 1352)

 

dụ 2:

Biết bao thuốc thánh  phương thần

Chúa đâu bệnh tật mà cần ra tay. (6583 – 6584)

            Ngoài ngôn ngữ y học Tây phương, tác giả cũng vận dụng cả từ  ngữ  của y học đông phương như “cầu phương”, “mời Thầy”, kết hợp việc tách từ “phương thuốc” và “thánh thần” để tạo nên từ mới “thuốc thánh”, “phương thần” để diễn đạt tư tưởng của mình về những sự việc có liên quan đến sức khoẻ con người.

dụ 3:

 “Trình Thầy nước đã cạn nguồn

Mạch đời em bé tắt luôn giờ rồi!” (2451 – 2452)

            Tác giả đề cập đến sự ra đi của đời người bằng giọng thơ “nước đã cạn nguồn” và bằng cả triệu chứng y học “mạch đời đã tắt”, nhưng cái hay là ở chỗ không hề dùng một từ “chết” nào cả.

dụ 4:

Ra tay cứu kẻ khốn cùng

Bất kỳ cổ, lại, lao, phong chớ nề. (4089 – 4090)

Không những sử dụng từ ngữ y học Tây phương một cách khá chính xác mà thi sĩ còn sử dụng thuật ngữ của Y học Đông phương một cách nhuần nhuyễn. Theo nhận định của y học Đông phương ngày xưa thì “phong, lao, cổ, lại” là tứ chứng nan y không thể chữa khỏi, vì thời kỳ đó chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.  

dụ 5:

Nguyện lần này nữa thứ ba

Lời cầu quá đỗi thiết tha chân thành

Xác hồn dữ dội giao tranh

Khiến cho kinh mạch nghịch hành gớm ghê

Trong cơn hấp hối nặng nề

Mồ hôi lẫn máu dầm dề tuôn ra. (7637 – 7642)

            Từ “kinh mạch” và từ “nghịch hành” hoàn toàn là ngôn ngữ của Y học Đông phương nhằm nói đến sự vận hành bất thường của khí huyết trong kinh mạch. Bởi vì “Tỳ thống nhiếp huyết mạch” nghĩa là tạng Tỳ có chức năng dẫn máu đi trong lòng huyết mạch, mà “Ưu thương Tỳ” có nghĩa là lo nghĩ quá sức sẽ làm tổn hại đến công năng của tạng Tỳ . Chính vì thế mới có thể xuất hiện triệu chứng ra mồ hôi máu do Tỳ bất nhiếp huyết.

dụ 6:

Lời kinh kết ý cuối cùng

Vang lên như tiếng tơ chùng thiết tha:

“Linh hồn Con phó tay Cha”

Dứt câu sinh khí thoát ra dần dần

Gục đầu nhắm mắt lìa trần

Chảy đôi dòng lệ xót thân thương đời. (9011 – 9016)

Thay vì dùng từ “tắt thở”, tác giả đã dùng từ “sinh khí” thoát ra dần dần nhằm diễn đạt Chúa hoàn toàn vui nhận cái chết thể xác để phú ban “sinh khí” tức là Thánh Thần, cho nhân loại. Cách dụng từ của thi sĩ để diễn tả mầu nhiệm này thật sâu sắc.

 

II- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NÔNG HỌC:

            Có lẽ sống với các họ đạo sinh nhai chủ yếu bằng nghề nông ở Tuy Hoà, Phú Yên, tác giả đã vận dụng các từ ngữ nông học rất thích hợp khi mô tả các hoạt động về ngành nghề này.

dụ 1:

Nước Trời giống chuyện nông dân,

Đến mùa bắc mạ không cần tính toan.

Lam làm ngủ nghỉ an nhàn,

Hạt gieo xuống đất thời gian nẩy mầm.

Nhà nông cũng chẳng quan tâm,

Tại sao mầm nẩy mầm đâm ra chồi?

Chồi cao thành mạ mấy hồi,

Mạ thành cây lúa, lúa ngoi đòng đòng.

Đòng đòng kết lại thành bông,

Bông vàng lúa chín nhà nông gặt về. (2251 – 2260)

 

dụ 2:

Lúa đà chín ngợp chân trời

Kíp thêm công gặt, kịp thời tăng thu. (2483 – 2484)

Ngoài công việc đồng áng nói về ruộng lúa, tác giả còn nêu lên những rau củ gieo trồng ngắn ngày “rau húng”, “rau tần”, “cải cay”, “khoai”.

Ví dụ 3:

Các ngươi nạp thuế thập phân

Những là rau húng, rau tần, cải cay. (6257 – 6258)

 

Ví dụ 4:

“Nầy Si- mong, hỡi Si- mong!

Sa- tan được phép sàng trong sàng ngoài

Khác nào sàng gạo, sàng khoai

Mà Thầy đã nguyện lâu dài cho con. (7475 – 7478)

Rõ ràng nhà thơ cũng đã từng thưởng thức cái thú chọi gà của nông thôn Việt Nam nên mới sử dụng những từ “chuốt cựa”, “chọi nhau”, “đá sau”.

Ví dụ 5:

Cho dù không phải gà nhà

Chẳng nên chuốt cựa để mà chọi nhau

Ai không ăn trước đá sau

Tức là ủng hộ có đâu ngại gì? (3329 – 3332)

Hoặc chí ít nhà thơ cũng đã từng nuôi gà và chăm sóc chúng nên mới có thể ghi nhận những hình ảnh có liên quan nhiều đến gà, một loại gia cầm rất thân thiết và gần gũi với nhà nông Việt Nam, nên không lạ gì khi thi sĩ vận dụng những từ  “giống lông”, “giống cánh”, hoặc từ “gà mẹ”, “thu con”, “chăm nuôi” để tạo nên hình ảnh so sánh tình thương của Chúa Giêsu đối với dân thành Giê- ru- sa- lem.

Ví dụ 6:

Chúa rằng: “Không phải thế đâu

Cháu con tất phải giống màu cha ông

Không giống cánh, cũng giống lông

Chỉ làm những việc tổ tông đã làm. (3785 – 3788)

“Không giống cánh, cũng giống lông” là đảo thành ngữ “Không giống lông, cũng giống cánh”.

Ví dụ 7:

Bao lần Ta đã quan hoài

Muốn thu con cái lạc loài của ngươi

Như gà mẹ chạy tới lui

Thu con dưới cánh chăm nuôi không ngừng. (4509 – 4512)

Kể cả những hình ảnh rất thường gặp trong cuộc sống nhà thơ cũng đã sử dụng gà để diễn tả chúng một cách tài tình. Thay vì  nói cột chắc, buộc chặt thì từ “cột tréo cánh gà” diễn tả cái cột vừa đau đớn lại vừa chắc chắc không thể tự tháo ra được.

Ví dụ 8:

Chúa thì bị lũ ác nhân

Bao vây nhiếc mắng đủ phần nhuốc nha

Hai tay cột tréo cánh gà

Dần qua lắc lại thôi đà ngất ngư. (7763 – 7766)

Cái lạnh có nhiều mức độ khác nhau và tuỳ theo sức chịu lạnh của mỗi người mà nó những phản ứng khác nhau, tác giả đã dùng cụm từ “lạnh nổi da gà” có lẽ không chỉ nhằm diễn tả cái lạnh của trời đêm bên ngoài mà còn muốn diễn đạt cái tâm trạng lo sợ bên trong của thánh Phêrô.            

Ví dụ 9:

Lửa lòng dù chửa lạnh lòng

Niềm tin sâu đậm đã hòng phôi pha

Trời đêm lạnh nổi da gà

Nhắm ngay đống lửa lân la lại gần. (7833 – 7836)          

 

III- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ  NGÀNH TƯ PHÁP:

Tác giả đã vận dụng các từ ngữ của ngành tư pháp để diễn đạt cuộc xử án bất công của Chúa Giêsu như một cuộc điều trần công khai của Ngài trước công nghị và bọn vua quan thời đó.

Ví dụ 1:

Hội đồng không muốn dằng dai

Luận xong bản án điệu Ngài trình quan. (8173 – 8174)

Ví dụ 2:

Buộc lòng dẫn nạp Giêsu

Là theo công lý chẳng xu phụ người. (8183 – 8184)

Ví dụ 3:

“Vượt Qua” giờ lễ đã gần

Giữ cho hồn xác vẹn phần thanh cao

Nha môn uế tạp biết bao

Tránh bề ô nhiễm đừng vào là hay. (8187 – 8190)

Ví dụ 4:

Quân canh phi báo liền liền

Bỗng đôi cánh cửa điện tiền mở tung

Hai hàng cảnh vệ kiêu hùng

Đưa quan tổng trấn rùng rùng kéo ra. (8195 – 8198)

Ví dụ 5:

Chúng tôi áp giải một tên

Chuyên dùng tà thuật tạo nên phong trào

Mượn điều thuế nặng sưu cao

Gây mầm phản động gieo vào lòng dân. (8209 – 8212)

Ví dụ 6:

Nghe xong quan cũng tò mò

Quay sang bị cáo để dò thực hư:

“Tên kia nghe chẳng lọt ư

Những điều tố cáo đáp như thế nào?” (8217 – 8220)

Ví dụ 7:

Cáo bầy nhiều miệng nhiều lời

Đĩa cân công lý đầy vơi khó lường

Rằng: “Nay việc đến công đường

Bản toà phải luận cho tường gian ngay

Các ngươi cáo buộc Tên này

Là đầu mối loạn là tay bịp đời

Bản toà tra việc xét lời

Trước sau chứng kiến các ngươi thấy gì?

Không tìm ra tội trạng chi

Lẽ nào chụp mũ bắt Y hành hình. (8321 – 8330)

Ví dụ 8:

Quan liền cắt đội lý hình

Pháp trường điệu Chúa đóng đinh mặc lòng

Tuyên xong bản án bất công

Nghe lòng như bị mũi chông đâm vào. (8569 – 8572)

 

IV- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ  NHÀ PHẬT:

Tuy là một Linh mục Công giáo, nhưng thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng khá nhiều ngôn ngữ của nhà Phật để diễn tả những tình tiết trong Thánh Kinh của nhà Đạo.

Ví dụ 1:

Họ rằng: “Môn đệ ông Gioan

Tịnh chay  kinh kệ  tân toan liền ngày

Còn như quý đệ tử đây

Trà trưa, rượu sớm, mặt dày lắm sao?” (1357 - 1360)   

Rõ ràng từ “tịnh chay”, “kinh kệ”, “đệ tử” trong 2 câu thơ trên là từ thường dùng trong nhà Phật hơn là trong nhà Đạo, bởi vì tương ứng với các từ này bên nhà Đạo là các từ “ăn chay”, “kinh sách” và “môn đệ”, nhưng chính việc sử dụng các từ của nhà Phật mà tác giả đã làm nổi bật lên sự nghiêm nhặt trong “chay tịnh” của các “đệ tử” của Gioan tiền hô, so với cách “ăn chay” “trà trưa, rượu sớm” của các “môn đệ” của Chúa Giêsu chẳng thấy đọc “kinh sách”.

Ví dụ 2:

Trong hàng con cái Ích- diên

Rao cho chúng biết căn duyên Nước Trời. (2493 – 2494)

 Ví dụ 3:         

Tương thân tương ái đậm đà

Cho đời nhận biết đâu là căn duyên

Họ là đệ tử đích truyền

Là con một Chúa, là chiên một ràn. (6897 – 6900)

Ví dụ 4:

Chối ta trước mặt chúng sinh

Ta đành chối bỏ trước đình thần Cha. (2573 – 2574)

Ví dụ 5:

Ước chi có lệnh của Thầy

Đỉnh đồi lập tức cất ngay ba nhà

Mỗi người riêng ngự một toà

Bồng lai tiên cảnh đâu mà hơn đây. (3239 – 3242)

Ví dụ 6:

Các con hãy khá nhớ lời

Nếu không sống lại cuộc đời bé thơ

Để mà đón nhận ước mơ

Quyết không đến được bến bờ tiêu diêu. (3347 – 3350)

Ví dụ 7:

Được ăn không thể mời ăn

Dù nhân nghĩa ít mà căn phúc nhiều. (4559 – 4560)

Ví dụ 8:

Là Thần Linh Chúa, chính vì

Là nguồn chân thật độ trì chúng sinh. (7193 – 7194)

Tất cả những từ “căn duyên”, “đệ tử đích truyền”, “chúng sinh”, “bồng lai tiên cảnh”, “bến bờ tiêu diêu”, “căn phúc”, “độ trì”  là những từ rất thường dùng trong ngôn ngữ nhà Phật.  

 

V- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NHÂN TƯỚNG HỌC:

Khi viết Sứ Điệp Tình Thường, Nguyễn Xuân Văn đã quá ngũ tuần, quá cái tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, ít nhiều cũng đã có kinh nghiệm khi quan sát để có những nhận xét về những con người mà mình có dịp diện kiến. Những nhận xét đó đã thể hiện trong tác phẩm của nhà thơ với những từ ngữ của nhân tướng học.

Ví dụ 1:                      

Tay vò tay gáo thảnh thơi

Áo xanh lá liễu, mặt tươi hoa đào. (961 – 962)

Không ai đi gánh nước giữa trưa mà mặc quần áo đẹp cả, điều đó biểu lộ cái bản chất thích làm đẹp quá mức, lại tô son điểm phấn cho thêm “lá liễu, hoa đào”, kèm theo cái dáng đi đỏng đảnh “tay vò tay gáo”  thì rõ ràng phạm ngay cái tướng “Đào hoa chi diện” và “Nga hành áp bộ” thuộc 72 loại tướng tiện dâm của phụ nữ đã được Viên Liễu Trang đúc kết thì làm sao người phụ nữ này không có nhiều chồng cho được.

Ví dụ 2:

Ông này là bậc tiên tri

Lẽ ra biết ả tiện tỳ là ai. (2091 – 2092)

Tại sao không gọi là “mụ tiện tỳ”, “mẹ tiện tỳ”… mà tác giả chỉ cần dùng một chữ “ả” là đủ để  tạo nên hình ảnh một cô gái đẹp còn xuân sắc, nhưng chắc chắn trong tướng cách bị một khuyết hãm nào đó nên mới lỡ sa chân vào lầu xanh nên bị miệt thị là “tiện tỳ”. Đó chính là loại “nữ nhân tiện tướng” mà những cô gái đẹp hay bị phạm vào cách “nhất xú phá cửu thanh”.

Ví dụ 3:

Bàn dân hội trước điện tiền

Thầy thông, biệt phái ngang nhiên tiến vào

Dẫn theo một ả má đào

Đặt trước Chúa cất cao giọng trình. (3639 – 3642)

Cũng vậy, tại sao không gọi là “bé má đào”, “nhỏ má đào” … mà tác giả chỉ cần dùng một chữ “ả” là đủ để  tạo nên hình ảnh một phụ nữ còn xuân sắc khá quyến rũ vì “đào hoa chi diện” thể hiện ở “má đào” nên mới dễ phạm tội ngoại tình.

Ví dụ 4:          

Mục quang không giận mà oai

Hỏi rằng: “Các bạn tìm ai bây giờ?” (7691 – 7692)

Từ “mục quang” là ám chỉ sức mạnh của ánh mắt toả ra. Câu “Hoà nhi bất nhược” được ghi trong các sách nhân tướng học cho rằng đây là một trong những cách quí của mắt, nghĩa là khi nhu thuận mà không hề khiếp đảm.

Ví dụ 5:

Quan người cao lớn đẫy đà

Tướng trông nửa chánh nửa tà khó phân.

Làm quan ít được lòng dân

Tên Phong- phi- lát bất nhân bất tài

Quan vừa kênh kiệu lên đài

Hất hàm nghiêm giọng lấy oai hỏi rằng. (8199 – 8204)

Đọc qua đoạn thơ trên, chúng ta có ngay một ấn tượng đây là một vị quan bị thịt “cao lớn đẫy đà”, có khuôn mặt không cân đối và đôi mắt không chính trực “tướng trông nửa chính nửa tà khó phân”, thiếu tài năng và thiếu cả lòng nhân hậu “làm quan ít được lòng dân”, đã thế lại thiếu sự khiêm tốn với dáng đi “quan vừa kênh kiệu lên đài”, kèm theo tính cách ngạo mạn “hất hàm nghiêm giọng lấy oai hỏi rằng”.

Ví dụ 6:

Người đâu mặt mũi hoà hiền

Mà trông phong độ như viền hào quang

Vẻ gì chính trực đàng hoàng

Vẻ gì cao quí hiên ngang tuyệt vời. (8225 – 8228)

Đứng trước toà án quan tổng trấn Phi- la- tô nhưng Chúa Giêsu vẫn “phong độ như viền hào quang”, vẫn “cao quí hiên ngang”, bởi vì Ngài biết mình không hề làm điều gì sai trái “vẻ gì chính trực đằng hoàng”. Tất cả những biểu hiện đó là tướng cách “an nhi bất ngu” của một người luôn bình an trước mọi biến cố nhưng không bao giờ lộ vẻ khiếp nhược trước đối phương hay ngu muội không tìm ra hướng giải quyết tích cực.

 

VI- KỸ NĂNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VÕ THUẬT:

Là một nhà thơ thì chắc Nguyễn Xuân Văn không thích võ thuật cho lắm, nhưng khi đọc Sứ Điệp Tình Thường chúng tôi vẫn thoáng thấy trong một đôi chỗ thi sĩ cũng đã sử dụng từ ngữ của môn này.      

Ví dụ 1:

Ai cho một cốc nước trong

Tiểu đồ đỡ khát, Thầy không quên nào

Ai nghe đồ đệ giảng rao

Là nghe được tiếng Thầy trao cho mình. (2599 – 2602)

Ví dụ 2:

Trải bao gian khổ đến đây

Lệnh đồ nhọc sức ra tay không thành

Chúa nhìn đồ đệ đứng quanh

Lòng dù thương hại miệng đành nói lên. (3275 – 3278)

Ví dụ 3:

Công đường la ó ồn ào

Giết đi đáng xử bá đao tên này

Nhất tề  vũ lộng  chân tay

Tấn công dồn dập như bầy diều hâu. (7917 - 7920)

Ví dụ 4:          

Bỗng nom thấy cuộn dây thừng

Quần ma bỏ lại cạnh rừng đêm qua

Đôi ngươi trực thị Giu- đa

Loé lên như thể bị tà thôi miên

Phi thân nhặt lấy liền liền

Coi như bửu bối thần tiên cho mình

Dùng làm phương tiện quyên sinh

Quả là xứng ý hợp tình biết bao. (8121 – 8128)

 

VII- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG:

Tác giả không chỉ trau chuốt tác phẩm của mình bằng những từ hoa mỹ mà còn khéo vận dụng những từ thật dân giả nhưng vẫn có sức diễn tả tạo nên những hình ảnh và âm thanh thật sinh động, đó chính là cái hay của tác phẩm và thể hiện được bút lực của nhà thơ.

Ví dụ 1:

Kẻ thì: “Còn phải tìm đâu?

Đây vì Cứu Thế bấy lâu mong chờ!”

Người thì: “Nói chuyện gà mờ

Ai cho Cứu Thế đến từ Ga- li? (3599 – 3602)

Chính từ “nói chuyện gà mờ” làm nổi bật lên cái không rõ ràng, thiếu căn cứ hay hơn là khi viết: Người thì “nói chuyện vô căn”, “nói chuyện sai lầm”, “nói chuyện ỡm ờ”, “nói chuyện trời ơi”… Bởi vì từ “gà mờ’ tạo nên hình ảnh con gà không thấy rõ đường lúc chiều tối mà nhân gian hay gọi là quáng gà.      

Ví dụ 2:

Chúa rằng: “Dầu tự chứng minh

Chứng Ta vẫn chắc như đinh cột nhà. (3701 – 3702)

Đinh đóng cột nhà là đinh trụ cột nên phải dùng đinh lớn chắc đã đóng là không thể gỡ ra được. Đây là sự so sánh ngang bằng nhằm chứng minh cho thân phận của Chúa Giêsu, tuy là khập khiễng nhưng nó lại tạo một hình ảnh chắc chắn dễ được cảm nhận với người Việt Nam sống trong nhà tranh, nhà tôn hoặc nhà ngói.

Ví dụ 3:

Bao nhiêu cũng cứ đưa về

Cho vào bàn tiệc ê hề của ta. (4585 – 4586)

Từ láy “ê hề” là một từ rất dân giả nhưng diễn tả được cái nhiều đến mức thừa thãi.

Ví dụ 4:

Quét nhà tìm khắp mọi nơi

Đến khi thấy được mừng ơi là mừng. (4665 – 4666)

Với cụm từ “mừng ơi là mừmg” là loại văn đối thoại nhưng đã được tác giả đưa vào trong văn vần để diễn tả tình cảm mừng không bút nào tả xiết của người đàn bà khi kiếm lại được đồng tiền đã bị mất.

Ví dụ 5:          

Cậu ta trâng tráo điềm nhiên

Tóm thu tiền bạc tếch liền vó câu…

Thị thành là chốn ăn chơi

Ba que xỏ lá gặp thời “áp phe

Vai mang gói bạc kè kè

Ma cô đĩ điếm vãn ve tối ngày

Đồng tiền không cánh mà bay

Giật mình tỉnh mộng trắng tay bao giờ. (4689 – 4698)

Diễn tả người con ngang ngược và trơ tráo đến mức coi thường cả đạo lý và dư luận xã hội bằng từ láy “trâng tráo” thì  không biết dùng từ nào cho chuẩn xác hơn. Và sau khi đã “tóm thu tiền bạc”, cậu ta “tếch liền vó câu” mà không một lời cám ơn và từ giã cha già.

Từ “áp phe” nói đến những vụ hối lộ hoặc hùn hạp làm ăn không chính đáng rất phù hợp với từ “ma cô đĩ điếm” khi chỉ đến bọn chỉ làm bạn trên tiền chứ chẳng có chút tình nghĩa keo sơn chi cả.

Ví dụ 6:

Thế mà cậu “quý tử” nầy

Bỏ nhà lưu lạc theo bầy du côn. (4825 – 4826)

Ví dụ 7:

Rồi Ngài phán quở Phê- rô:

Con đừng học thói côn đồ làm chi. (7725 – 7726)

Từ “quý tử” được tác giả đóng trong ngoặc kép rõ ràng không thể là đứa con quý làm rạng danh cho gia đình, mà là đứa con làm tán gia bại sản bởi vì “bỏ nhà lưu lạc” không phải đi tầm sư học đạo mà lại “theo bầy du côn”. Tác giả đã sử dụng từ “du côn” là từ rất thông dụng trong xã hội dùng để ám chỉ bọn thanh niên không nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp, gây rối trật tự an ninh và sống không có văn hoá thường sa đà vào tứ đổ tường.

            “Thói côn đồ” là tính cách xử sự thiếu văn hoá của bọn du côn.

Ví dụ 8:

Làm thì cốt để rêu rao

Tay đeo Kinh Luật hộp bao cồng kềnh

Áo thì tua để tòn ten

Tiệc tùng chỗ nhất tiến lên ngồi vào. (6183 – 6186)

Để diễn tả cái tính hợm hĩnh đạo đức giả lại hay khoe trương của bọn thông luật và biệt phái, tác giả chỉ cần dùng cụm từ rất thông dụng “hộp bao cồng kềnh” và “tua để tòn ten” là đủ để phác hoạ chân dung của họ.

Ví dụ 9:

Thôi ta nên tính thế này

Tốt hơn các chị tìm ngay quán làng

Đang khi các ả lang thang

Mua dầu chưa kịp thì chàng đến nơi. (6511 – 6514)

Từ “ả” nhằm ám chỉ đến các cô gái không được chín chắc cho lắm. Chính vì thế mà khi đi rước chàng rễ các “ả” đem đèn lại không mang dầu nên mới “lang thang” trễ giờ vì không biết chuẩn bị và lo xa.

 Ví dụ 10:

Giu- đa trước đã dặn dò

Cứ theo chỉ điểm đừng mò đâu xa.

Đừng lầm vớ phải người nhà

Kẻ mình hôn mặt mới là chính Danh. (7669 – 7672)

Ví dụ 11:

Oai nghi khiếp quỷ kinh ma

Chúng nghe như sét nổ va ngang đầu

Giựt mình cả bọn ngã nhào

Chẳng còn biết đất trời đâu mà rờ. (7699 – 7702)

Những từ “đừng mò”, “mà rờ” rõ ràng là ngôn ngữ nói chuyện của dân gian, thế mà tác giả đã khéo đưa vào trong tác phẩm khiến câu thơ trở nên dí dỏm một cách hài hước

Ví dụ 12:

 “Ki- tô hãy nói tiên tri

Bói xem ai kẻ đánh Mi nghe nào? (7925 – 7926)

Ví dụ 13:

Cả hai bật dậy thình lình

Quày chân bắt lại hành trình thành đô. (9441 – 9442)

Chính cụm từ “quày chân bắt lại” làm mạnh nghĩa của từ “thình lình” hơn là viết  “quay chân trở lại”.

 

VIII- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ CỔ:

Ngoài ra tác giả cũng dùng cả một số từ cổ nhằm làm cho mạnh nghĩa thêm.

Ví dụ 1:

Chúa rằng: “Mang lấy tội khiên

Là mang lòi tói mang xiềng mang gông. (3771 – 3772)

Lòi tói là một từ cổ, nay chỉ còn dùng ở những vùng sông nước sống nghề chài lưới, diễn tả sợi dây buộc thuyền bằng xích sắt hoặc bằng dây chảo lớn khiến cho thuyền không thể trôi đi đâu được. Hình ảnh này thật ấn tượng, khi so sánh nó như là gông xiềng của tội lỗi trói chặt sự tự do nên thánh của con người.

Ví dụ 2:

Chúa rằng: “Nếu Mỗ nói sai

Chỉ ra cho Mỗ học bài kính trên?

Nhược bằng Mỗ nói lời nên

Tại sao đánh Mỗ bắt đền tội chi? (7813 – 7816)

Ví dụ 3:

Chúa làm ra bộ khẩn trương

“Vậy ra có chuyện phi thường gì ru? (9371 – 9372)

Các từ chỉ danh xưng “Mỗ”, hoặc từ nghi vấn “gì ru?” là những từ  cổ cũng đã được nhà thơ đưa vào tác phẩm của mình một cách mộc mạc nhưng thật sinh động.

 

IX- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT:

Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, đôi lúc tác giả cũng dùng một số từ Hán- Việt nhằm diễn tả một ý thật cô đọng và xúc tích hơn.

Ví dụ 1:

Mát- ta nào biết gì đâu

Chạy vào bất mãn cúi đầu khẽ thưa:

Thầy xem hiền muội kỳ chưa

Ngồi chơi chẳng biết sớm trưa mấy hồi. (4203 – 4206)

Trong câu thơ này không thể dùng từ “em gái”, “em nó”, “em nhỏ”, mà phải dùng từ “hiền muội” chỉ người em gái hiền lành dễ thương thì mới nói lên được sự thân thiết.

Ví dụ 3:

Dòng dõi này chẳng bao lâu

Hết  thời, mạt vận, bắt đầu suy vi. (4359 – 4360)

Từ “mạt vận” đồng nghĩa với từ “hết thời” chỉ giai đoạn đã không còn hưng thịnh và bắt đầu xuống dốc “suy vi”.

Ví dụ 4:

Chuyện trò ăn uống thường thường

Treo gương bại tục, mở đường đồi phong. (4643 – 4644)

Tác giả tách từ “đồi bại” với “phong tục” để ghép thành cụm từ “đồi phong” và “bại tục” nhằm diễn đạt cách sống không phù hợp với phong tục tập quán với những giá trị nhân văn của xã hội đương thời.

Ví dụ 5:                      

Trẫm bày đại yến xong xuôi

Sơn hào hải vị đủ mùi thơm ngon. (6117 – 6118)

Từ “đại yến” là chỉ một buổi tiệc lớn và long trọng.

Từ “sơn hào hải vị” là những thức ăn ngon và quí hiếm của rừng núi và sông biển.

Ví dụ 6:

Thương ai một chút gọi là

Để thương để nhớ đậm đà về sau

Huống hồ đồng khí tương cầu

Vì nhau một thuở bên nhau đời đời. (6561 – 6564)

“Đồng khí tương cầu” là một phần của câu thành ngữ Hán Việt “Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” nhằm nói những người có chí khí như nhau thì sẽ tự nhiên hoà hợp đựoc với nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

Ví dụ 7:          

Thảm thương cho các môn đồ

Hồn xiêu phách lạc cơ hồ ngất đi

Rùng rùng viễn tẩu cao phi

Như cơn gió lốc biết gì nữa đâu. (7751 – 7754)

“Hồn xiêu phách lạc” là hết cả hồn vía. Tác giả sử dụng cụm từ nhằm nói lên sự sợ hãi của các môn đồ khi thấy đám đông quân lính đến vây bắt Chúa Giêsu.

“Viễn tẩu cao phi” là bay cao chạy xa nhằm nói đến sự bỏ chạy tán loạn  của các môn đệ. Họ không còn giữ được sự trung kiên với Chúa Giêsu khi thấy Ngài bị bắt trong vườn cây Dầu.