|
Đặc điểm về tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện ở chỗ phong cách này chấp nhận đưa vào trong nó rất nhiều từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ, từ nghề nghiệp… Đó là vốn từ hầu như không được sử dụng trong các phong cách hành chính công vụ, chính luận, báo chí và phong cách khoa học. Trong khi đó ở phong cách nghệ thuật nó lại là những dấu hiệu quan trọng làm nên phong cách tác giả và tác phẩm. Qua tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng nhiều loại từ chuyên ngành để mô tả và diễn đạt mọi sự kiện và tình tiết được kể trong Tin Mừng dưới dạng thơ lục bát thật điêu luyện và thích hợp. Chúng ta có thể tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ của tác giả qua các chuyên ngành y học, nông học, tư pháp, Phật học, tướng học, võ thuật, địa phương, Hán Việt và lảy Kiều dưới nhiều hình thức thể hiện ngôn ngữ khác nhau.
I- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ Y HỌC: 1- Sử dụng từ ngữ Y học Tây phương (Y học hiện đại):Trong phong cách nghệ thuật của mình, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng cả những từ trong y học để mô tả các trạng thái sinh lý và bệnh lý của nhân vật một cách khá chính xác.
Tác giả xác định rõ âm thanh này phát xuất từ hầu họng, có thể là một bệnh lý ở vùng hầu họng khiến cho ông Giacaria không nói được chứ không phải bệnh lý ở não bộ thuộc hệ thần kinh trung ương.
Thi sĩ đã sử dụng các từ thường dùng trong y học để mô tả cảm giác đói sinh lý của người chay tịnh chỉ “xôn xao” một cách nhẹ nhàng vì do làm chủ được cái đói của mình, chứ không phải cái đói bệnh lý của một kẻ bị đói trong bệnh tiểu đường hoặc đói do bệnh thần kinh.
Là một Linh mục, nhưng tác giả mô tả chẳng khác nào một y sĩ, phân biệt rõ ràng “ngoại vật” không thể trực tiếp đi vào hệ thống huyết quản đến “cửa tim” mà nó phải qua “cửa bụng” của dạ dày rồi được chuyển hoá “quanh qua quẩn lại” để tạo thành máu chạy trong các huyết quản.
Tác giả đã dùng từ “thị quan” nhằm nói đến toàn bộ hệ thống thị giác có tính cách bao quát, hơn là dùng từ “nhãn quan” nhằm chỉ “đôi mắt”. Bởi vì chúng ta không biết người mù này không thấy được do tổn thương bộ phận nào của hệ thống thị giác. Do vậy khi dùng từ “thị quan” là tác giả nhằm nói Chúa Giêsu chữa bệnh là chữa từ nguyên nhân sinh bệnh chứ không chỉ chữa triệu chứng bệnh.
Trong y học hiện đại thường gọi là “lấy máu truyền” nhưng tác giả đã dùng cụm từ “cắt máu truyền” nhằm nói lên sự sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để cứu anh em đồng loại.
Thi sĩ mô tả thứ tự từng tổ chức bị tổn thương do đòn vọt của bọn lý hình: da banh, thịt xẻ, gân bày, xương lòi và đã khéo vận dụng điệp từ “đánh” để làm nặng lên những tổ chức bị “banh”, “xẻ’, “bày” và “lòi” này.
So sánh sự đắc thắng của bọn “kỳ hào tư tế” nhảy lên mừng rỡ như bị “động kinh” thật là một phép so sánh kèm khoa trương nhưng diễn tả thật đúng tâm trạng của bọn chúng khi thành công trong việc tố cáo và bắt giết Chúa Giêsu.
Mặc dầu không nói rõ đinh xuyên qua vùng xương cổ tay nhưng khi dùng cụm từ “đinh xuyên thịt nát xương lồi” và ‘đinh thâu gân mạch” tác giả vẫn muốn giữ nguyên truyền thống Cựu ước là Con Người không bị gãy dập một xương nào. 2- Sử dụng từ ngữ Y học Đông phương (Y học cổ truyền):
Ngoài ngôn ngữ y học Tây phương, tác giả cũng vận dụng cả từ ngữ của y học đông phương như “cầu phương”, “mời Thầy”, kết hợp việc tách từ “phương thuốc” và “thánh thần” để tạo nên từ mới “thuốc thánh”, “phương thần” để diễn đạt tư tưởng của mình về những sự việc có liên quan đến sức khoẻ con người.
Tác giả đề cập đến sự ra đi của đời người bằng giọng thơ “nước đã cạn nguồn” và bằng cả triệu chứng y học “mạch đời đã tắt”, nhưng cái hay là ở chỗ không hề dùng một từ “chết” nào cả.
Không những sử dụng từ ngữ y học Tây phương một cách khá chính xác mà thi sĩ còn sử dụng thuật ngữ của Y học Đông phương một cách nhuần nhuyễn. Theo nhận định của y học Đông phương ngày xưa thì “phong, lao, cổ, lại” là tứ chứng nan y không thể chữa khỏi, vì thời kỳ đó chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.
Từ “kinh mạch” và từ “nghịch hành” hoàn toàn là ngôn ngữ của Y học Đông phương nhằm nói đến sự vận hành bất thường của khí huyết trong kinh mạch. Bởi vì “Tỳ thống nhiếp huyết mạch” nghĩa là tạng Tỳ có chức năng dẫn máu đi trong lòng huyết mạch, mà “Ưu thương Tỳ” có nghĩa là lo nghĩ quá sức sẽ làm tổn hại đến công năng của tạng Tỳ . Chính vì thế mới có thể xuất hiện triệu chứng ra mồ hôi máu do Tỳ bất nhiếp huyết.
Thay vì dùng từ “tắt thở”, tác giả đã dùng từ “sinh khí” thoát ra dần dần nhằm diễn đạt Chúa hoàn toàn vui nhận cái chết thể xác để phú ban “sinh khí” tức là Thánh Thần, cho nhân loại. Cách dụng từ của thi sĩ để diễn tả mầu nhiệm này thật sâu sắc.
II- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NÔNG HỌC: Có lẽ sống với các họ đạo sinh nhai chủ yếu bằng nghề nông ở Tuy Hoà, Phú Yên, tác giả đã vận dụng các từ ngữ nông học rất thích hợp khi mô tả các hoạt động về ngành nghề này.
Ngoài công việc đồng áng nói về ruộng lúa, tác giả còn nêu lên những rau củ gieo trồng ngắn ngày “rau húng”, “rau tần”, “cải cay”, “khoai”.
Rõ ràng nhà thơ cũng đã từng thưởng thức cái thú chọi gà của nông thôn Việt Nam nên mới sử dụng những từ “chuốt cựa”, “chọi nhau”, “đá sau”.
Hoặc chí ít nhà thơ cũng đã từng nuôi gà và chăm sóc chúng nên mới có thể ghi nhận những hình ảnh có liên quan nhiều đến gà, một loại gia cầm rất thân thiết và gần gũi với nhà nông Việt Nam, nên không lạ gì khi thi sĩ vận dụng những từ “giống lông”, “giống cánh”, hoặc từ “gà mẹ”, “thu con”, “chăm nuôi” để tạo nên hình ảnh so sánh tình thương của Chúa Giêsu đối với dân thành Giê- ru- sa- lem.
“Không giống cánh, cũng giống lông” là đảo thành ngữ “Không giống lông, cũng giống cánh”.
Kể cả những hình ảnh rất thường gặp trong cuộc sống nhà thơ cũng đã sử dụng gà để diễn tả chúng một cách tài tình. Thay vì nói cột chắc, buộc chặt thì từ “cột tréo cánh gà” diễn tả cái cột vừa đau đớn lại vừa chắc chắc không thể tự tháo ra được.
Cái lạnh có nhiều mức độ khác nhau và tuỳ theo sức chịu lạnh của mỗi người mà nó những phản ứng khác nhau, tác giả đã dùng cụm từ “lạnh nổi da gà” có lẽ không chỉ nhằm diễn tả cái lạnh của trời đêm bên ngoài mà còn muốn diễn đạt cái tâm trạng lo sợ bên trong của thánh Phêrô.
III- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NGÀNH TƯ PHÁP: Tác giả đã vận dụng các từ ngữ của ngành tư pháp để diễn đạt cuộc xử án bất công của Chúa Giêsu như một cuộc điều trần công khai của Ngài trước công nghị và bọn vua quan thời đó.
IV- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NHÀ PHẬT: Tuy là một Linh mục Công giáo, nhưng thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng khá nhiều ngôn ngữ của nhà Phật để diễn tả những tình tiết trong Thánh Kinh của nhà Đạo.
Rõ ràng từ “tịnh chay”, “kinh kệ”, “đệ tử” trong 2 câu thơ trên là từ thường dùng trong nhà Phật hơn là trong nhà Đạo, bởi vì tương ứng với các từ này bên nhà Đạo là các từ “ăn chay”, “kinh sách” và “môn đệ”, nhưng chính việc sử dụng các từ của nhà Phật mà tác giả đã làm nổi bật lên sự nghiêm nhặt trong “chay tịnh” của các “đệ tử” của Gioan tiền hô, so với cách “ăn chay” “trà trưa, rượu sớm” của các “môn đệ” của Chúa Giêsu chẳng thấy đọc “kinh sách”.
Tất cả những từ “căn duyên”, “đệ tử đích truyền”, “chúng sinh”, “bồng lai tiên cảnh”, “bến bờ tiêu diêu”, “căn phúc”, “độ trì” là những từ rất thường dùng trong ngôn ngữ nhà Phật.
V- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ NHÂN TƯỚNG HỌC: Khi viết Sứ Điệp Tình Thường, Nguyễn Xuân Văn đã quá ngũ tuần, quá cái tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, ít nhiều cũng đã có kinh nghiệm khi quan sát để có những nhận xét về những con người mà mình có dịp diện kiến. Những nhận xét đó đã thể hiện trong tác phẩm của nhà thơ với những từ ngữ của nhân tướng học.
Không ai đi gánh nước giữa trưa mà mặc quần áo đẹp cả, điều đó biểu lộ cái bản chất thích làm đẹp quá mức, lại tô son điểm phấn cho thêm “lá liễu, hoa đào”, kèm theo cái dáng đi đỏng đảnh “tay vò tay gáo” thì rõ ràng phạm ngay cái tướng “Đào hoa chi diện” và “Nga hành áp bộ” thuộc 72 loại tướng tiện dâm của phụ nữ đã được Viên Liễu Trang đúc kết thì làm sao người phụ nữ này không có nhiều chồng cho được.
Tại sao không gọi là “mụ tiện tỳ”, “mẹ tiện tỳ”… mà tác giả chỉ cần dùng một chữ “ả” là đủ để tạo nên hình ảnh một cô gái đẹp còn xuân sắc, nhưng chắc chắn trong tướng cách bị một khuyết hãm nào đó nên mới lỡ sa chân vào lầu xanh nên bị miệt thị là “tiện tỳ”. Đó chính là loại “nữ nhân tiện tướng” mà những cô gái đẹp hay bị phạm vào cách “nhất xú phá cửu thanh”.
Cũng vậy, tại sao không gọi là “bé má đào”, “nhỏ má đào” … mà tác giả chỉ cần dùng một chữ “ả” là đủ để tạo nên hình ảnh một phụ nữ còn xuân sắc khá quyến rũ vì “đào hoa chi diện” thể hiện ở “má đào” nên mới dễ phạm tội ngoại tình.
Từ “mục quang” là ám chỉ sức mạnh của ánh mắt toả ra. Câu “Hoà nhi bất nhược” được ghi trong các sách nhân tướng học cho rằng đây là một trong những cách quí của mắt, nghĩa là khi nhu thuận mà không hề khiếp đảm.
Đọc qua đoạn thơ trên, chúng ta có ngay một ấn tượng đây là một vị quan bị thịt “cao lớn đẫy đà”, có khuôn mặt không cân đối và đôi mắt không chính trực “tướng trông nửa chính nửa tà khó phân”, thiếu tài năng và thiếu cả lòng nhân hậu “làm quan ít được lòng dân”, đã thế lại thiếu sự khiêm tốn với dáng đi “quan vừa kênh kiệu lên đài”, kèm theo tính cách ngạo mạn “hất hàm nghiêm giọng lấy oai hỏi rằng”.
Đứng trước toà án quan tổng trấn Phi- la- tô nhưng Chúa Giêsu vẫn “phong độ như viền hào quang”, vẫn “cao quí hiên ngang”, bởi vì Ngài biết mình không hề làm điều gì sai trái “vẻ gì chính trực đằng hoàng”. Tất cả những biểu hiện đó là tướng cách “an nhi bất ngu” của một người luôn bình an trước mọi biến cố nhưng không bao giờ lộ vẻ khiếp nhược trước đối phương hay ngu muội không tìm ra hướng giải quyết tích cực.
VI- KỸ NĂNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VÕ THUẬT: Là một nhà thơ thì chắc Nguyễn Xuân Văn không thích võ thuật cho lắm, nhưng khi đọc Sứ Điệp Tình Thường chúng tôi vẫn thoáng thấy trong một đôi chỗ thi sĩ cũng đã sử dụng từ ngữ của môn này.
VII- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG: Tác giả không chỉ trau chuốt tác phẩm của mình bằng những từ hoa mỹ mà còn khéo vận dụng những từ thật dân giả nhưng vẫn có sức diễn tả tạo nên những hình ảnh và âm thanh thật sinh động, đó chính là cái hay của tác phẩm và thể hiện được bút lực của nhà thơ.
Chính từ “nói chuyện gà mờ” làm nổi bật lên cái không rõ ràng, thiếu căn cứ hay hơn là khi viết: Người thì “nói chuyện vô căn”, “nói chuyện sai lầm”, “nói chuyện ỡm ờ”, “nói chuyện trời ơi”… Bởi vì từ “gà mờ’ tạo nên hình ảnh con gà không thấy rõ đường lúc chiều tối mà nhân gian hay gọi là quáng gà.
Đinh đóng cột nhà là đinh trụ cột nên phải dùng đinh lớn chắc đã đóng là không thể gỡ ra được. Đây là sự so sánh ngang bằng nhằm chứng minh cho thân phận của Chúa Giêsu, tuy là khập khiễng nhưng nó lại tạo một hình ảnh chắc chắn dễ được cảm nhận với người Việt Nam sống trong nhà tranh, nhà tôn hoặc nhà ngói.
Từ láy “ê hề” là một từ rất dân giả nhưng diễn tả được cái nhiều đến mức thừa thãi.
Với cụm từ “mừng ơi là mừmg” là loại văn đối thoại nhưng đã được tác giả đưa vào trong văn vần để diễn tả tình cảm mừng không bút nào tả xiết của người đàn bà khi kiếm lại được đồng tiền đã bị mất.
Diễn tả người con ngang ngược và trơ tráo đến mức coi thường cả đạo lý và dư luận xã hội bằng từ láy “trâng tráo” thì không biết dùng từ nào cho chuẩn xác hơn. Và sau khi đã “tóm thu tiền bạc”, cậu ta “tếch liền vó câu” mà không một lời cám ơn và từ giã cha già. Từ “áp phe” nói đến những vụ hối lộ hoặc hùn hạp làm ăn không chính đáng rất phù hợp với từ “ma cô đĩ điếm” khi chỉ đến bọn chỉ làm bạn trên tiền chứ chẳng có chút tình nghĩa keo sơn chi cả.
Từ “quý tử” được tác giả đóng trong ngoặc kép rõ ràng không thể là đứa con quý làm rạng danh cho gia đình, mà là đứa con làm tán gia bại sản bởi vì “bỏ nhà lưu lạc” không phải đi tầm sư học đạo mà lại “theo bầy du côn”. Tác giả đã sử dụng từ “du côn” là từ rất thông dụng trong xã hội dùng để ám chỉ bọn thanh niên không nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp, gây rối trật tự an ninh và sống không có văn hoá thường sa đà vào tứ đổ tường. “Thói côn đồ” là tính cách xử sự thiếu văn hoá của bọn du côn.
Để diễn tả cái tính hợm hĩnh đạo đức giả lại hay khoe trương của bọn thông luật và biệt phái, tác giả chỉ cần dùng cụm từ rất thông dụng “hộp bao cồng kềnh” và “tua để tòn ten” là đủ để phác hoạ chân dung của họ.
Từ “ả” nhằm ám chỉ đến các cô gái không được chín chắc cho lắm. Chính vì thế mà khi đi rước chàng rễ các “ả” đem đèn lại không mang dầu nên mới “lang thang” trễ giờ vì không biết chuẩn bị và lo xa.
Những từ “đừng mò”, “mà rờ” rõ ràng là ngôn ngữ nói chuyện của dân gian, thế mà tác giả đã khéo đưa vào trong tác phẩm khiến câu thơ trở nên dí dỏm một cách hài hước
Chính cụm từ “quày chân bắt lại” làm mạnh nghĩa của từ “thình lình” hơn là viết “quay chân trở lại”.
Ngoài ra tác giả cũng dùng cả một số từ cổ nhằm làm cho mạnh nghĩa thêm.
Lòi tói là một từ cổ, nay chỉ còn dùng ở những vùng sông nước sống nghề chài lưới, diễn tả sợi dây buộc thuyền bằng xích sắt hoặc bằng dây chảo lớn khiến cho thuyền không thể trôi đi đâu được. Hình ảnh này thật ấn tượng, khi so sánh nó như là gông xiềng của tội lỗi trói chặt sự tự do nên thánh của con người.
Các từ chỉ danh xưng “Mỗ”, hoặc từ nghi vấn “gì ru?” là những từ cổ cũng đã được nhà thơ đưa vào tác phẩm của mình một cách mộc mạc nhưng thật sinh động.
IX- KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ HÁN VIỆT: Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, đôi lúc tác giả cũng dùng một số từ Hán- Việt nhằm diễn tả một ý thật cô đọng và xúc tích hơn.
Trong câu thơ này không thể dùng từ “em gái”, “em nó”, “em nhỏ”, mà phải dùng từ “hiền muội” chỉ người em gái hiền lành dễ thương thì mới nói lên được sự thân thiết.
Từ “mạt vận” đồng nghĩa với từ “hết thời” chỉ giai đoạn đã không còn hưng thịnh và bắt đầu xuống dốc “suy vi”.
Tác giả tách từ “đồi bại” với “phong tục” để ghép thành cụm từ “đồi phong” và “bại tục” nhằm diễn đạt cách sống không phù hợp với phong tục tập quán với những giá trị nhân văn của xã hội đương thời.
“Đồng khí tương cầu” là một phần của câu thành ngữ Hán Việt “Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” nhằm nói những người có chí khí như nhau thì sẽ tự nhiên hoà hợp đựoc với nhau, giúp đỡ lẫn nhau.
“Hồn xiêu phách lạc” là hết cả hồn vía. Tác giả sử dụng cụm từ nhằm nói lên sự sợ hãi của các môn đồ khi thấy đám đông quân lính đến vây bắt Chúa Giêsu. “Viễn tẩu cao phi” là bay cao chạy xa nhằm nói đến sự bỏ chạy tán loạn của các môn đệ. Họ không còn giữ được sự trung kiên với Chúa Giêsu khi thấy Ngài bị bắt trong vườn cây Dầu.
Lảy Kiều là một kỹ năng không riêng gì các nhà nhà thơ mà ngay cả dân gian cũng thường ghép một câu Kiều với một câu thơ nào đó của mình nhằm mượn ý người để nói rõ ý mình. Lảy Kiều còn được coi là một cách cách sử dụng điển tích để quảng diễn tư tưởng hoặc chứng minh điều mình đề cập đã từng xảy ra trong quá khứ. Nó tương tự như hai câu đối 5 và 6 trong thơ Đường Luật thất ngôn bát cú hoặc ngũ ngôn bát cú nhằm làm rõ hơn nội dung mà tác giả muốn nói đến trong hai câu đối 3 và 4.
XI- TÍNH ĐA DẠNG TRONG HÌNH THỨC THỂ HIỆN NGÔN NGỮ: Trong tác phẩm Sứ điệp tình thương, tác giả đã vận dụng tất cả các hình thức thể hiện ngôn ngữ, từ ngôn ngữ tác giả còn gọi là ngôn ngữ của người kể chuyện, cho đến ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Chúng ta có thể thấy rõ qua các đoạn thơ sau đây: 1- Ngôn ngữ tác giả:
2- Ngôn ngữ đối thoại:
3- Ngôn ngữ độc thoại nội tâm:
|
|
Đoàn Xuân Dũng |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|