|
Biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiếng Việt
bao gồm các phép so sánh, phép ẩn dụ, phép hoán dụ và phép khoa trương.
Linh mục Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng rất khéo những biện pháp tu từ
ngữ nghĩa này và chúng ta sẽ cùng thưởng thức các thủ pháp của ngài qua
tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường.
I- SỬ DỤNG PHÉP SO SÁNH:
So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng
vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt
giữa chúng. Cơ sở của phép so sánh tu từ học chính là tính khác biệt về chất
và về loại giữa các sự vật, hiện tượng.
Như vậy thực chất của phép so sánh tu từ là
dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật, hiện tượng này để giải thích
cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác.
Phép so sánh tu từ bao gồm: so sánh có từ so
sánh, so sánh ngang bằng, so sánh bậc hơn kém, so sánh bậc cao nhất và so
sánh không có từ so sánh.
1- So sánh có từ so sánh:
Khi sử dụng phép so sánh có từ so sánh, các
nhà thơ thường sử dụng các từ : như, là, hơn, kém, nhất.
Ví dụ 1:
Họ rằng: “Môn đệ ông
Gioan
Tịnh chay kinh kệ tân
toan liền ngày
Còn như quý đệ tử đây
Trà trưa, rượu sớm, mặt
dày lắm sao?” (1357 - 1360)
Ví dụ 2:
Chúa rằng: “Dầu tự chứng
minh
Chứng Ta vẫn chắc như đinh
cột nhà. (3701 – 3702)
Ví dụ 3:
Bỗng nghe tiếng Chúa gọi
to:
“Hỡi thằng ngu ngốc như
bò nghe đây. ” (4389 – 4390)
Ví dụ 4:
Bao lần Ta đã quan hoài
Muốn thu con cái lạc loài
của ngươi
Như gà mẹ chạy tới lui
Thu con dưới cánh chăm
nuôi không ngừng. (4509 – 4512)
Ví dụ 5:
Cùng nhau một hội một
thuyền
Thương nhau như cắt máu
truyền cho nhau. (6893 – 6894)
Ví dụ 6:
Oai nghi khiếp quỷ kinh
ma
Chúng nghe như sét nổ va
ngang đầu
Giựt mình cả bọn ngã nhào
Chẳng còn biết đất trời đâu
mà rờ. (7699 – 7702)
Ví dụ 7:
Bỗng nom thấy cuộn dây
thừng
Quần ma bỏ lại cạnh rừng
đêm qua
Đôi ngươi trực thị Giu-
đa
Loé lên như thể bị tà
thôi miên. (8121 – 8124)
Ví dụ 8:
Người đâu mặt mũi hoà
hiền
Mà trông phong độ như
viền hào quang
Vẻ gì chính trực đàng
hoàng
Vẻ gì cao quí hiên ngang
tuyệt vời. (8225 – 8228)
Ví dụ 9:
Dân càng già miệng già
hàm
Lồng lên như ngựa bất
kham thét gào. (8327 – 8328)
Ví dụ 10:
Đánh thôi đất thảm trời
sầu
Khắp người toé máu nát nhầu
thịt da
Ngọn roi như đốt lưng ngà
Gươm đâm xé ruột muối chà
tưa gan. (8441 – 8444)
Ví dụ 11:
Quan liền cắt đội lý hình
Pháp trường điệu Chúa đóng
đinh mặc lòng
Tuyên xong bản án bất
công
Nghe lòng như bị mũi
chông đâm vào. (8569 – 8572)
Ví dụ 12:
Kỳ hào tư tế hả hơi
Bá vai thủ hạ vang trời
hò reo
Như vừa đánh thắng một
keo
Như vừa trút bỏ đá đeo
bên mình
Thét lên như bị động kinh:
Mau cho hắn nếm mũi đinh
tử thần. (8575 – 8580)
2- So sánh không có từ
so sánh:
Cái hay của phép so sánh là so sánh không từ
so sánh mà nhà thơ Nguyễn Xuân Văn thường viết trong Sứ điệp tình thường.
Sau đây là một số đoạn thơ đơn cử:
Ví dụ 1:
Phúc thay dân chúng Sâm-
ri
Càng nghe giảng thuyết
càng suy phục nhiều
Không vì thiếu phụ bao
nhiêu
Mà vì Lời Chúa cao siêu
nhiệm mầu. (1059 – 1062)
Ví dụ 2:
Lời cao dẫn giải thêm cao
Ý sâu nghĩa lý thêm vào
càng sâu. (1295 – 1296)
Ví dụ 3:
Tuy hèn vẫn có dưới tay
Một vài tên lính thường
ngày ra công
Chỉ đông phải đến bên đông
Chỉ tây cũng phải buộc
lòng sang tây
Huống hồ uy đức của Thầy
Tới lui để nhọc gót giày
dám đâu. (1827 – 1832)
Ví dụ 4:
Gioan là đèn sáng mặc dầu
Ta còn có chứng sở cầu
nơi Cha
Chứng rằng: “Cha đã sai
Ta
Chứng bằng lời nói, chứng
qua việc làm. ” (2945 – 2946)
Ví dụ 5:
Luật Trời thì các ngươi
quăng
Mà khư khư giữ thói xằng
người xưa
Dám coi luật Chúa bằng
thừa
Vừa không tôn trọng lại
vừa bỏ qua. (3009 –3012)
Ví dụ 6:
Chúa rằng: “Xéo khỏi nơi
đây
Sa- tan gây rối cho Thầy
hay sao?
Lời sao chẳng được lời
nào?
Ý người xa ý trời cao
nghìn trùng. (3205 – 3208)
Ví dụ 7:
Các con hãy khá nhớ lời
Nếu không sống lại cuộc
đời bé thơ
Để mà đón nhận ước mơ
Quyết không đến được bến
bờ tiêu diêu. (3347 – 3350)
Ví dụ 8:
Chúa rằng: “Mang lấy tội
khiên
Là mang lòi tói mang
xiềng mang gông. (3771 – 3772)
Ví dụ 9:
Hỡi ôi! Đức Mẹ Đồng Trinh
Ôm con yêu dấu thống tình
khóc than
Mạch sầu núi lở khó hàn
Dòng sầu đá chảy tuyết
tan khôn cầm
Ai ngăn nổi giọt lệ thầm
Ai cầm nổi máu tim bầm ứa
ra. (9087 – 9092)
II- SỬ DỤNG PHÉP ẨN DỤ:
Trong Sứ Điệp Tình Thường, tác giả cũng thường
vận dụng phép so sánh không nói thẳng ra, đó là phép ẩn dụ. Khi đọc câu thơ
có phép ẩn dụ, người tiếp cận phải dùng năng lực liên tưởng để qui chiếu
giữa các yếu tố hiện diện trong câu thơ với các sự vật, hiện tượng tồn tại
ngoài câu thơ. Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi
này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc.
1- Phép ẩn dụ nhân hoá:
Ẩn dụ nhân hoá là kiểu ẩn dụ được xây dựng
trên mối quan hệ giữa người và vật. Đó là phép ẩn dụ được hình thành trên
cơ chế chuyển nghĩa giữa trường về con người và trường về sự vật mà tác
giả đã vận dụng trong tác phẩm của mình.
Ví dụ 1:
Sứ Trời dẫn giải gần xa
“Trái Thần bởi phép Thánh
Thần tượng sinh
Hoa trinh giữ vẹn hương
trinh
Vườn xuân nắng giãi thêm
hình sắc xuân. (147 – 150)
Để diễn đạt mầu nhiệm nhập thể, tác giả đã
sử dụng từ “Trái Thần” để nói về Chúa Giêsu và từ “Vườn xuân” là nói về Đức
Mẹ.
Ví dụ 2:
Dưới chân con bóng đã
tròn
Chúa dừng nghỉ mệt
tránh đòn
nắng trưa. (957 – 958)
Thi sĩ đã sử dụng từ “con bóng” để nhân cách
hoá “ông mặt trời” đang “đánh đòn nắng trưa”.
Ví dụ 3:
Qua cơn sóng nổi gió trôi
Thầy trò im lặng cùng
ngồi nhìn xa
Dần dần thấy đất Giét-
xa
Con thuyền mệt
mỏi vượt
qua biển hồ. (2367 – 2370)
Rõ ràng tác giả dùng từ “con thuyền mệt mỏi”
để diễn tả trạng thái của các môn đệ vừa thoát qua cơn bão táp trong đêm.
Ví dụ 4:
Được
Lời
không nhận lấy Lời
Không tin nơi Đấng mà Người
đã sai. (2951 – 2952)
Từ “Lời” ở đây không thể hiểu là lời nói mà
chắc chắn là nói về “Đấng” mà Chúa Cha đã sai đến thế gian, đó chính là
Chúa Giêsu, Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa.
Ví dụ 5:
Chúa xuân
ví đến kịp thời
Hoa xuân đâu bị dập vùi
cho cam. (5331 – 5332)
Từ “Chúa xuân” là nói đến Chúa Giêsu, còn từ
“Hoa xuân” là ám chỉ La- da- rô.
Ví dụ 6:
Ai trao câu đố vào tai?
Cho người khó đứng cho ai
khôn ngồi
Kể từ buổi ấy qua rồi
Biết vàng cao giá,
lửa
thôi thử vàng. (5995 – 5998)
Từ “vàng” là nói về Chúa Giêsu, từ “lửa” ám
chỉ biệt phái.
Ví dụ 7:
Thiên thần chẳng rõ chẳng
hay
Con Người cũng chẳng được
bày tỏ ra
Chỉ riêng mình Đức Chúa
Cha
Đo lường tuổi tác trời
già mà thôi. (6457 – 6460)
Có lẽ chỉ có các loại sinh vật theo cái qui
luật sinh bệnh lão tử thì mới già, chứ trời đất thì không theo qui luật
này nên không ai gọi “trời già”. Tác giả đã nhân cách hoá tuổi tác của ông
trời nhằm mục đích nói đến ngày cánh chung mà thôi.
Ví dụ 8:
Dù Thầy có phải ra đi
Là đi sắp chỗ thay vì các
con
Bao giờ hoa nở trăng tròn
Sẽ quay trở lại
nước non
trùng phùng. (6967 – 6970)
Từ “trùng phùng” diễn đạt sự gặp gỡ của con
người, cho nên trong câu thơ này từ “nước non” phải hiểu là đại biểu cho
Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài.
2- Phép ẩn dụ tượng trưng:
Tác giả Sứ Điệp Tình Thường cũng thường sử
dụng ẩn dụ tương trưng là loại ẩn dụ được dùng đi dùng lại nhiều lần trở
thành các hình ảnh có giá trị tượng trưng.
Ví dụ 1:
Chân trời mộng ước lùi xa
Nghĩ thôi mai cỗi trúc
già thì thôi
Chim bay về núi tối rồi
Ngày xanh mấy thuở vãn
hồi cho đâu? (45 – 48)
Trong đoạn thơ trên, rõ ràng các từ “mai
cỗi”, “trúc già”, phải hiểu đó là nói về ông bà Giacaria đã già yếu và từ
“chim bay” trong câu “ về núi tối rồi” là nói về tuổi già của ông bà đã
không còn khả năng sinh con.
Ví dụ 2:
Vợ chồng sum họp đề huề
Nước non như cũ,
trăng thề
còn nguyên. (85 – 86)
Từ “nước non” và từ “trăng thề” thường biểu
hiện cho tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng.
Ví dụ 3:
Thầy trò vui chuyện đổi
thay
Chúa rằng: “ Thiên hạ cho
Thầy là ai?”
Thưa rằng: “Kẻ trúc, người
mai
Nào Gioan Tẩy giả, nào
Ngài Ê- li. (3167 – 3168)
Trong mạch thơ này thì từ “trúc” và từ “mai”
là nhằm nói đến các tiên tri và các ngôn sứ trong Cựu ước.
Ví dụ 4:
Ngày kia vào đến một làng
Dân Sâm- ri hận chẳng
màng đón đưa
Giắc, Gioan nổi sấm sét
thưa:
“Lửa trời khiến đốt cho
chừa, nên chăng?” (3487 – 3490)
Từ “nổi sấm sét” trong câu thơ này tượng trưng
cho sự tức giận.
Ví dụ 5:
Mặt rồng
lộ vẻ vui tươi
Hân hoan chào khách nói
lời tri ân. (6149 – 6150)
Từ “mặt rồng” là từ ẩn dụ nhằm nói đến nhà
vua.
3- Phép ẩn dụ ngụ ngôn:
Ẩn dụ ngụ ngôn là nói đến bài học đạo đức,
nói tới triết lý nhân sinh. Ẩn dụ ngụ ngôn tác động đến người ta một cách
thấm thía vì đó là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố hiện thực của ngôn ngữ
và chất suy tưởng. Có thể nói đây là hình thức phát triển của ẩn dụ nhân
hoá.
Mặc dù Thánh Kinh Tân Ước đầy ắp những dụ
ngôn bằng văn xuôi của Chúa Giêsu, nhưng Linh mục Nguyễn Xuân Văn đã
chuyển những dụ ngôn ấy qua thể qua thể lục bát một cách khéo léo mà không
làm mất đi nội dung giáo lý và đạo đức, về cách ứng xử giữa con người với
con người.
Ví dụ 1: Dụ ngôn “Cỏ lùng”:
Nước Trời giống cảnh thôn
quê
Sang thu chủ ruộng lo bề
tăng gia
Gieo xong giống tốt về
nhà
Kẻ thù lén đến rắc pha cỏ
lùng
Lúa lên thành gié thành
bông
Cỏ lùng xuất hiện lộn
sòng đứng chen
Tình hình đám ruộng rối
ren
Gia nhân đem chuyện trình
lên chủ nhà:
“Ông gieo giống tốt kia
mà,
Cỏ đâu đến mọc ai pha
trộn vào?”
Chủ rằng: “Chắc kẻ thù
nào,
Muốn gây thêm chuyện hỗn
hào với ta”.
Có người xin dọn ruộng
nhà
Chủ rằng: “Đừng vội! Chẳng
thà để yên.
Lúa và cỏ sẽ lớn lên
Tạm thời để nó chẳng nên
nhổ lầm
Đến mùa ta sẽ tới thăm
Bảo đoàn thợ gặt lưu tâm
thi hành
Cỏ thì bó lại từng khoanh
Quăng vào lửa đốt cho
thành bụi tro
Lúa thu vào lẫm vào kho,
Có chi mà phải âu lo nhọc
mình”. (2261 – 2282)
Ví dụ 2: Dụ ngôn “Con chiên lạc”:
Có người chăm sóc chiên
non
Trăm con thấy thiếu một
con trong ràn
Cả bầy để lại rừng hoang
Thương con chiên lạc sẵn
sàng xông pha
Mấy đèo mấy suối cũng qua
Không đành bỏ nó đắm sa
lạc loài
Thấy chiên mắc giữa bụi
gai
Gỡ ra vác thẳng trên vai
đem về
Mà lòng sung sướng tràn
trề
Tin cho bạn hữu bốn bề
mừng vui. (4647 – 4656)
III- SỬ DỤNG PHÉP HOÁN DỤ:
Hoán dụ là cách tạo tên gọi mới cho đối tượng
dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn tả sinh động nội
dung thông báo mà người viết muốn đề cập. Nguyên tắc của hoán dụ là lâm thời
chuyển đổi tên gọi, trong đó “sự vật được nói tới” phải không xuất hiện
trên văn bản. Tác giả Sứ Điệp Tình Thường cũng đã vận dụng biện pháp tu từ
này một cách nhuần nhuyễn.
Ví dụ 1:
1* Dọc đường dư luận tỉ tê
Rằng: “ Gioan đã bị “Râu dê” cầm tù. ” (1067
– 1068)
2* Gioan từng kết án hôn quân
Cướp con đoạt vợ loạn
luân vô nghì. (1981 – 1982)
3* Nhân ngày Khánh đản dịp may
Hôn quân
mở tiệc vui say đình thần. (1987 – 1988)
4* Lạ thay! Giữa chốn triều đình
Hôn quân
mặt sắt quên mình ngôi cao. (1993 – 1994
Tác giả sử dụng từ “Râu dê” và “hôn quân” ở
đây là để nói về Vua Hêrôđê đã cướp vợ của anh trai mình.
Ví dụ 2:
Côn quang được lệnh bao
vây
Ra đi, đi suốt một ngày
về không
Đưa nhau trình diện hội đồng
Quan thầy hỏi chúng: “Sổ
lồng rồi sao?”
Thưa rằng: “Kim cổ đời
nào
Chưa ai triết lý thâm cao
bằng Người. ”
Dứt lời bị mằng tơi bời:
“Lọ nồi mà cũng bị nhồi
nữa sao?” (3611 – 3618)
Tác giả dùng từ “Lọ nồi” chính là sử dụng
thủ pháp hoán dụ nói đến mấy tên côn quang.
Ví dụ 3:
Dù Ta tự chứng một mình
Chứng ta có mối đồng tình
của Cha
Chính Ngài là Đấng sai Ta
Họ thưa: “Dám hỏi
Cụ nhà
ở đâu?” (3713 – 3716)
Từ “Cụ nhà” mà tác giả sử dụng là nhằm nói
đến Thiên Chúa Cha.
Ví dụ 4:
1* Họ rằng:
“Lạc đạo Ông ơi
Gọi Ông
quỉ ám đúng
lời lẽ chăng?” (3821 – 3822)
2*
Ông
bị quỷ ám chưa tha
Mọi người đều
chết, chết già chết non (3833 – 3834)
Trong các đoạn thơ trên, từ “Ông quỷ ám” đều
nhằm nói về Chúa Giêsu.
Ví dụ 5:
Biệt phái đứng thẳng hiên
ngang
Lên cung sửa giọng âm
vang rền rền:
“Lời tôi khẩn nguyện trước
tiên
Là lời cảm tạ Chúa trên
cõi trời
Cho tôi không giống người
đời
Ngoại tình trộm cắp chơi
bời đắm say
Không như “quân hút máu”
nầy
Mỗi tuần tôi đã giữ chay
hai lần. (4913 – 4920)
Từ “quân hút máu” nhằm chỉ người thu thuế.
Ví dụ 6:
Bấy giờ dù giữa mùa cày
Hai chàng thì sẽ gọi ngay
một chàng
Hai cô xay bột bên đàng
Áo xanh để lại,
áo vàng
đem đi. (6479 – 6482)
Từ “áo xanh” và từ “áo vàng” trong câu thơ
trên chính là sự hoán dụ thay cho hai cô gái.
Ví dụ 7:
Trời mai ngày áp đẹp trời
Phê- rô được lệnh cùng
người Chúa yêu.
(6671 – 6672)
Từ “người Chúa yêu” là nói đến thánh Gioan
tông đồ.
Ví dụ 8:
Chúng con sạch cốt sạch
bì
Mặc dù có kẻ
gan lì đá chai.
(6783 – 6784)
Từ “kẻ gan lì đá chai” nhằm
ám chỉ ông Giu- đa bán Chúa.
Ví dụ 9:
Có quân hộ tống bạo tàn
Có dân đông đảo nhập đoàn
trợ oai
Giữa bầy sói dữ lạc loài
Chúa thành cái đích chúng
mài nhọn răng
Trước hàm sư tử hung hăng
Như chiên bị
trói chẳng
rằng chẳng kêu. (8175 – 8180)
Từ “bầy sói dữ” và “hàm sư tử” là tên mà tác
giả dùng để gọi quân hộ tống và bọn người hùa theo kết án Chúa Giêsu.
Từ “chiên bị trói” thì ai cũng hiểu đó là
nói về Chúa Giêsu.
Ví dụ 10:
Hỏi chi thì hỏi mặc dầu
Trăm câu chẳng được một
câu đáp về
Bực mình đánh tiếng cười
chê:
“Trẫm vô duyên gặp Thằng
Hề ngu si
Ban cho Hắn chiếc bạch y
Trả về quan trấn làm chi
thì làm. ” (8295 – 8300)
Từ “Thằng Hề” là nói về Chúa Giêsu.
Ví dụ 11:
Họ rồng, tộc rắn hai nhà
Bấy lâu có chuyện bất hoà
sâu cay
Trời xui đất khiến vụ này
Rắn, rồng từ đó bắt tay
làm lành. (8307 – 8310)
Từ “rồng” là tên gọi Vua Hê- rô- đê.
Từ “rắn” là tên gọi quan tổng trấn Phi- la-
tô.
IV- SỬ DỤNG PHÉP KHOA TRƯƠNG:
Khoa trương hay phóng đại là biện pháp nói
giảm hay nói quá sự thật nhằm diễn tả sự vật hiện tượng dưới cách nhìn hài
hước, châm biếm hoặc hy vọng lạc quan. Tuy là một tác phẩm chuyển thể của
Thánh Kinh, nhưng thi sĩ đã vẫn sử dụng phép khoa trương rất đặc sắc trong
một số trường hợp.
Ví dụ 1:
Ghé tai môn đệ nhỏ to:
Một đồng một cốt Thầy trò
nhà bay
Trao ly cụng chén no say
Với quân bóc lột với tay
gạt lường. (1347 – 1350)
Khi sử dụng các từ “một đồng một cốt”, tác
giả đã phóng đại lên sự chê bai chỉ trích của các thầy thông luật và biệt
phái đối với Thầy trò của Chúa Giêsu. Họ xem Chúa Giêsu và các môn đệ chỉ
là những kẻ “sáng rượu trưa trà” chỉ biết nhậu nhẹt với phường tội lỗi,
còn tất cả những phép lạ Chúa làm chỉ là sự ma mãnh của bọn đồng cốt mà
thôi.
Ví dụ 2:
Ông này là bậc tiên tri
Lẽ ra biết ả tiện
tỳ là ai.
(2091 – 2092)
Tác giả đã dùng từ “ả tiện tỳ” nhằm cho thấy
người Biệt Phái hạ thấp giá trị nhân phẩm của người phụ nữ tội lỗi.
Ví dụ 3:
Chúa ngồi bó gối ngoài
khoang
Say sưa ôm giấc mơ vàng
ngủ yên. (2351 – 2352)
Tác giả đã nói quá về sự mê ngủ của Chúa
Giêsu, thuyền chật phải ngồi bó gối thì không thể nào “say sưa ôm giấc mơ
vàng ngủ yên”, bởi vì Chúa đâu phải là kẻ ham ngủ một cách vô trách nhiệm
trước những lo lắng của các môn đệ, nhưng Chúa muốn thử các môn đệ tin
Ngài như thế nào mà thôi.
Ví dụ 4:
Vào hôm ngày Lễ bắt đầu
Xôn xao nổi dậy những câu
thăm dò
Bọn người Do Thái nhỏ to:
“Liệu chừng Hắn có
dám mò
đến chăng?” (3497 – 3500)
Từ “dám mò” nhằm chê bai và hạ thấp giá trị
của Chúa Giêsu, bởi vì Chúa vẫn công khai lên đền thờ rao giảng vào mỗi
sáng cho đến khi chịu khổ nạn.
Ví dụ 5:
Chúng tao có Đấng quan thầy
Từng được Chúa phán dạy
ngay nhãn tiền
Đó là tổ phụ Mai- sen
Ông Giê- su ấy
dân đen
xứ nào. (3963 – 3966)
Từ “dân đen” cũng nhằm chê bai và hạ thấp
giá trị của Chúa Giêsu.
Ví dụ 6:
Ác vàng vừa trốn sau đồi
Trông lên núi Thánh rợp
trời đèn hoa. (6691 – 6692)
Từ “Ác vàng” hay “quạ vàng’ (kim ô) sử dụng
phép ẩn dụ để diễn tả mặt trời.
Ví dụ 7:
Hằm hằm một bọn trảo nha
Lôi người bị trói đứng ra
giữa phòng
Người đâu tiều tuỵ hình
dong
Mà trông ánh mắt uy phong
khác người
Khuyển ưng chưa kịp rút
lui
Một lô ruồi nhặng nối đuôi
kéo vào
Trước toà răm rắp cúi
chào
Luân phiên tố cáo ồn ào
như sôi
Tố gian, tố dối một hồi
Bên mâu bên thuẫn tố bồi
lẫn nhau. (7863 – 7872)
Từ “khuyển ưng” ám chỉ bọn thủ hạ của Cai-
pha và từ “ruồi nhặng” ám chỉ lũ người làm chứng gian.
Ví dụ 8:
Phê- rô như dại như ngây
Ân sâu nghĩa nặng giờ đây
còn gì
Nghẹn ngào bưng mặt chạy
đi
Mắt hoen mờ lệ lòng bi
thiết buồn
Mạch sầu như nước vỡ
nguồn
Chảy mòn hai má chảy
luôn trọn đời. (7979 – 7984)
Qua câu “chảy mòn hai má chảy luôn trọn
đời”. Tác giả đã sử dụng thủ pháp khoa trương nhằm làm tăng thêm lòng ăn
năn chân thành của Thánh Phê- rô trong suốt cả đời ông.
Ví dụ 9:
Lại còn độc địa khôn lường
Lại còn bêu rếu phi thường
chua cay
Rằng: “Nghe lỗ miệng Tên
nầy
Tự xưng Thiên Tử cũng tay
ngạo đời. (8467 – 8470)
Từ “lỗ miệng” có tính chê bai khinh miệt
Chúa Giêsu.
Ví dụ 10:
Kỳ hào ngậm miệng đã lâu
Tiết thêm nọc độc bắt đầu
tuôn ra:
“Ngoại trừ hoàng đế Xê-
da
Chúng tôi đâu có
mồ ma
vua nào?” (8561 – 8564)
Từ “tiết thêm nọc độc” nhằm làm tăng thêm
tính nham hiểm và độc ác của bọn kỳ hào.
Từ “mồ ma” vừa nói lên sự dua nịnh vừa nói
lên sự xảo ngôn của bọn kỳ hào không chấp nhận Chúa Giêsu là Vua mà chỉ thần
phục Hoàng đế Xê- da của đế quốc Rôma.
Ví dụ 11:
Lý hình phóng tới vội
vàng
Hung hăng như
rắn hổ mang
vờn mồi
Miệng phun bọt dãi tanh
hôi
Bày trò lăng nhục ôi thôi
đủ trò. (8585 – 8588)
Từ “rắn hổ mang”, “miệng phun bọt dãi tanh
hôi” cũng đều làm tăng thêm tính nham hiểm và độc ác của bọn lý hình.
Trong giao tiếp nghệ thuật, việc phát huy
hiệu lực của biện pháp tu từ ngữ nghĩa tuỳ thuộc vào vốn ngôn ngữ và quá
trình rèn luyện tư duy của mỗi người. Nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã vận dụng
chúng như là các thủ pháp tạo nên các đặc trưng của Sứ Điệp Tình Thường
giúp cho người đọc có một chìa đi vào các lớp nghĩa ở cả bề sâu và cấu
trúc của nó.
|