NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TƯỢNG VÀ ÂM THANH CỦA THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN

Nói tới nghệ thuật là nói tới cái đẹp. Cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ là sự sao chép, mô phỏng cái đẹp ngoài cuộc sống và trong thiên nhiên. Nó là cái đẹp được tái tạo lại trong hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ.

Một tác phẩm nghệ thuật đích thực trước hết phải là một mẫu mực về ngôn từ. Điều này thể hiện rõ ý thức, vai trò cũng như vốn sống của nhà nghệ sĩ được phản ánh dưới dạng các lời nói nghệ thuật. Khi miêu tả hiện thực, nhà thơ không thể bê nguyên si những lời nói ở của miệng nhân vật cùng những đối thoại của khẩu ngữ sinh hoạt tự nhiên. Để khái quát hoá trong quá trình xây dựng hình tượng, nhà thơ phải biết chọn lựa và gọt giũa các phương tiện từ ngữ khi đưa vào tác phẩm. Nói đúng hơn, nhà thơ đã tái tạo lại ngôn ngữ ở ngoài dời làm cho nó trở nên sống động hơn, “văn hoá” hơn. Nghĩa là nhà thơ đã làm cho ngôn ngữ của đời sống có màu sắc của văn hoá thời đại và mang tính thẩm mỹ nghệ thuật.

Khi ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện chức năng tác động theo hướng thẩm mỹ thì bản thân tính thẩm mỹ của việc sử dụng từ và ngữ cũng có một vai trò đắc lực giúp cho việc thực hiện chức năng trên có hiệu quả. Một câu thơ nghệ thuật có tính thẩm mỹ cao tự nó đã tạo nên ấn tượng mạnh cho nhận thức trực giác, in đậm vào trí nhớ người đọc hình ảnh huyền diệu của âm thanh và nhạc điệu.

Những tác phẩm thi ca nổi tiếng đều mang cả phong cách tạo hình của điêu khắc và hội hoạ cũng như phong cách tạo thanh của âm nhạc. Nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã khéo kết hợp cả hai phong cách này vào trong tác phẩm Sứ Điệp Tình Thường một cách thật hài hoà và sinh động.

I- NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TƯỢNG:        

Để thực hiện các chức năng của mình, ngôn ngữ nghệ thuật tác động đến người đọc qua một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ mang tính hình tượng. Hiện tượng này được gọi là “Sự vượt quá giới hạn về bản chất tín hiệu của các đơn vị ngôn ngữ”. Đó là một kiểu phản ánh mang tính đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật làm cho nó khác với ngôn ngữ ở tất cả các phong cách khác. Nói cụ thể, khi các đơn vị ngôn ngữ tham gia với tư cách là các tham tố tạo nên hình tượng nghệ thuật, tự nó đã làm mờ nhạt đi tính bản thể của tín hiệu ngôn ngữ để tạo nên một loại nghĩa mới ngoài bản thể, hay là “siêu tín hiệu”. Trong trường hợp này, việc nhận biết ý nghĩa của câu thơ không phải bằng con đường phản ánh của tín hiệu ngôn ngữ mà bằng con đường lý giải quá trình biểu tượng hoá các tín hiệu này thông qua các thao tác tư duy trừu tượng.

Đã nói đến hình tượng trong thơ thì cũng như trong văn xuôi phải có chi tiết. Chỉ có điều khác văn xuôi là chi tiết trong văn xuôi bề bộn, đông đúc phong phú. Chi tiết trong thơ được chọn lựa không phải chủ yếu tả cho đúng cái thực ở chi tiết đặc sắc nhất mà chủ yếu là chi tiết dễ làm xúc động người đọc thơ, đánh mạnh vào cảm xúc tư duy hoặc làm nổi rõ chủ đề của tác phẩm.

Nguyễn Xuân Văn đã có những câu thơ mô tả hình ảnh cụ thể, hình ảnh trừu tượng và cả hình ảnh cụ thể xen lẫn với hình ảnh trừu tượng.

1- Hình ảnh cụ thể:  

dụ 1:

Thầy trò trải mấy ngày đường

Nắng thiêu sạm mặt, bụi vương trắng đầu. (795 – 796)

Mô tả sự khổ nhọc của thầy trò sau những ngày bộ hành mệt mỏi bằng những từ tạo nên hình tượng thật cụ thể “nắng thiêu sạm mặt” và chính xác “bụi vương trắng đầu”.

dụ 2:                     

Dứt lời tay vẫn nhẹ nhàng

Viết rồi lại xoá từng hàng từng câu

Kẻ thù xịu mặt quắp râu

Già rồi tới trẻ quay đầu rút lui. (3667 – 3670)

Cái hình ảnh tiu nghỉu một cách thảm bại của bọn Thông luật và Biệt phái khi bị Chúa Giêsu vạch trần âm mưu gài bẫy Chúa vào vụ án xử người đàn bà ngoại tình đã được tác giả mô tả một cách thật cụ thể rất hài hước “xịu mặt quắp râu”.

dụ 3:

Thánh Nhan muôn ủ nghìn sầu

Nhìn trăng, trăng nhuộm một màu xanh xao. (7931 – 7932)

Để diễn tả trạng thái lo buồn, mất ngủ, bị đánh đập suốt đêm, gây mất nhiều máu, tác giả chỉ cần qua câu thơ: “Nhìn trăng, trăng nhuộm một màu xanh xao” là đủ cho chúng ta thấy được cảnh tượng bọn chúng hành hạ Chúa Giêsu như thế nào rồi. Cái hay là dùng ánh trăng xanh xao để mô tả hình ảnh của một người mất nhiều máu, bởi vì trăng không thể xanh xao.

dụ 4:

“Canh tàn, trăng lặn, sao thưa

Đất chưa rõ mặt, trời chưa thấy đàng. ” (8023 – 8024)

Trời làm chi có mắt để mà “thấy đàng”, đất đâu có con ngươi để nhìn “rõ mặt”. Tạo hình tượng cái chưa rõ, cái chưa thấy ở đây chính là để mô tả cảnh trời tờ mờ sáng.

dụ 5:

Giơ tay trang trọng chúc lành

Mắt nhìn lên cõi trời xanh ngưng thần

Nhẹ nhàng như cánh hồng vân

Tách rời mặt đất bay dần lên cao

Dưới chân mây bạc giăng chào

Trên đầu rực rỡ ánh hào quang bay. (9745 – 9750)

Mô tả sự kiện Chúa Giêsu lên trời, tác giả chỉ cần viết “Nhẹ nhàng như cánh hồng vân” để nói lên Chúa Giêsu phục sinh không còn bị lệ thuộc bởi những quy luật vật lý tự nhiên, để rồi “Tách rời mặt đất bay dần lên cao”.             

2- Hình ảnh trừu tượng:

dụ 1:

Người ngay sợ từ và ngữ tối tăm

Kẻ gian sợ đuốc soi nhằm dấu chân. (907 –  908)

Tác giả đã tạo hình tượng “sợ từ và ngữ tối tăm” và “sợ đuốc soi” nhằm nói lên trạng thái tâm lý của lòng người.

dụ 2:

Chỉ trong một lát nữa đây

Trông Thầy chỉ thấy trời mây một màu

Nhưng rồi trong một ít lâu

Lại nom thấy bóng minh châu Thầy về. (7255 – 7258)

Chỉ cần 4 câu thơ mà tác giả đã diễn tả được cái chết “trời mây một màu” và sự sống lại “bóng minh châu” của Chúa Giêsu thì thật tuyệt diệu.

dụ 3:

Giu- đa chán nản ê chề

Mặt trông hổ mặt lòng chê trách lòng

Ruột gan lộn tréo lộn vòng

Lương tâm rắn rít cắn trong rứt ngoài

Gối tay thao thức canh dài

Tiếng đâu thét mắng vào tai không ngừng. (7999 – 8004)

Sự hối hận muộn màng của Giuđa đã khiến cho tương tâm hắn dằn vặt dữ dội chứ nào có “rắn rít cắn trong rứt ngoài”.

dụ 4:

Hắn rút ngay chiếc hầu bao

Bấy lâu cột kỹ dắt vào bên hông

Mở ra đếm lại từng đồng

Nghe như những cục than hồng trên tay

Không còn thơm mát mảy may

Không còn làm hắn ngất ngây vui mừng

Mắt nhìn túi bạc trừng trừng

lòng nguội lạnh dửng dưng mất rồi

Cho hay những thú tanh hôi

Vui trong chốc lát buồn thôi một đời. (8039 – 8048)

Những đồng bạc tham lam đã làm cho Giuđa nhận thức được tội của mình và cũng chính khi đó những đồng bạc đã trở nên “cục than hồng” chứ chẳng còn “thơm mát” bởi vì hắn đã “nguội lạnh dửng dưng” rồi.

3- Hình ảnh cụ thể và trừu tượng:

dụ 1:

Đời sao cơ cực điêu linh

Thân sao dơ dáng  dại hình  bấy thân!

Đói lòng buộc phải dời chân,

Về miền thôn dã tảo tần kiếm ăn. (4711 – 4714)

Kết hợp diễn tả tâm trạng chán nản “cơ cực điêu linh” và thân thể tiều tuỵ “thân sao dơ dáng” của đứa con hoang đàng sau khi tiêu hết tiền bạc lại gặp nạn đói trong vùng phải lang thang đi kiếm ăn, tác giả đã tạo nên hình tượng đứa con thật thảm hại.

dụ 2:

Bể sâu rừng rậm núi cao

Giờ đây còn biết tìm vào nơi đâu?

Nhẹ lưng nhẹ túi mặc dầu

Lòng không nhẹ được mối sầu vạn cân. (8101 – 8104)

Mặc dầu đã quăng lại những đồng bạc tham lam nhưng nỗi đau khổ vẫn đeo đuổi theo kẻ bán Chúa “Lòng không nhẹ được mối sầu vạn cân”, và mặc dầu “Nhẹ lưng nhẹ túi”  nhưng nỗi tủi hổ đã làm cho Giu- đa không tìm thấy nơi nào cho mình dung thân trong cõi trời cao đất rộng.            

dụ 3:

Bỏ thôi ý định bôn đào

Vất thôi những tiếng thét gào sau lưng

Lấy gân tiến bước vào rừng

Lấy can đảm cột dây thừng lên cây

Một cây lá rậm cành dày

Vừa che tội ác vừa thay mộ phần. (8129 – 8134)

Giu- đa, dù là một kẻ phản Thầy bán Chúa, đã quyết tâm tự vẫn, nhưng cái tâm lý cuối cùng của người chết vẫn là muốn che dấu cái xấu của mình và mong được mồ yên mả đẹp mặc dù vẫn biết mình là bất xứng. Thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã không quên tình tiết quan trọng này và đã kết hợp thật hài hoà cái tâm lý đó trong câu thơ “Một cây lá rậm cành dày” để tạo hình tượng “Vừa che tội ác, vừa thay mộ phần” một cách thật thâm ý.

II- ĐẶC ĐIỂM VỀ ÂM THANH:

Không như trong nghệ thuật điêu khắc và hội hoạ, thi ca tạo nên những âm thanh không chỉ riêng nhờ hình tượng mà còn ngay bản thân của từ sử dụng, nhất là từ láy. Nhà thơ Nguyễn Xuân Văn đã khai thác triệt để lợi điểm này để diễn đạt tâm trạng đối tượng bằng sự  liên tưởng để tạo nên những âm thanh tương ứng.

1- Âm thanh diễn tả sự kiện:

dụ 1:

Lòng dân sôi sục lên ngay

Đồng thanh hò hét như bầy quỉ ma:

Ba- ra- ba! Ba- ra- ba!

Xin quan phóng thích xin tha khỏi tù. ” (8365 – 8368)

Tác giả dùng từ “sôi sục”, “hò hét” và cách ngắt câu ở vị trí 3 / 6 đã tạo cho câu thơ không những có vần điệu, có âm thanh mà còn diễn tả được quang cảnh hỗn tạp của một vụ biểu tình hơn là một buổi nghị án.

dụ 2:

Tiếng dân dữ tợn hét la

Kinh thiên động địa vang xa bốn bề

Nghe sao rờn rợn gớm ghê

Nghe nhưng nhức óc, nghe tê buốt người. (8381 – 8384)

Khi sự ác đã dâng lên tột điểm thì âm thanh càng trở nên “Nghe sao rờn rợn gớm ghê” đến nỗi nó làm cho một con người bình thường không chịu đựng được vì “Nghe nhưng nhức óc, nghe tê buốt người”.

2- Âm thanh diễn tả tâm trạng:

dụ 1:

Hắn xoay ý định bất ngờ

Chân liền gấp bước tay rờ hầu bao

Phóng qua mấy bậc cấp cao

Móc từng đồng bạc ném vào thánh cung

Bậm môi nhăn mặt lạnh lùng

Lúc khoan lúc nhặt tay vung đều đều

Dội lên những tiếng rõ kêu

Như gây thất vọng như khêu hận sầu

Bạc chạm nền đá hoa màu

Nghe như vỡ ngọc tan châu đầy nhà

Bạc rơi vào lọ cắm hoa

Kêu như não bạt phèng la rộn ràng

đồng chạm trụ đèn vàng

Tiếng kim khí dội nghe càng thê lương

Đồng nhằm vách đá hoa cương

Nghe như đao kiếm một trường chiến chinh

Đồng rơi nhằm bục giảng kinh

Kêu như tiếng búa gõ đinh quan tài. (8079 – 8096)

Tác giả đã khéo léo vận dụng sự va chạm đơn điệu của các đồng bạc để tạo nên những âm thanh phức tạp xâu xé trong tâm hồn của Giu- đa, kẻ phản Thầy bán Chúa với những cụm từ diễn tả sự thất vọng “Nghe như vỡ ngọc tan châu”, não nùng “Kêu như não bạt phèng la”, than khóc “tiếng kim khí dội nghe càng thê lương”, xâu xé  “Nghe như đao kiếm một trường chiến chinh”, huỷ hoại “Kêu như tiếng búa gõ đinh quan tài”.

dụ 2:

Giu- đa tuyệt vọng vô hồi

Miệng cười hăng hắc chân dời đòn kê

Tiếng cười lạc giọng lê thê

Kêu lên ằng ặc nghe ghê rợn người

Một bầy ó quạ đánh hơi

Xác treo sổ ruột nằm phơi lầy nhầy. (8145 – 8150)

Mô tả sự tự vẫn của Giu- đa bằng cách thắt cổ với tiếng cười “hăng hắc” của một kẻ tự mãn nhưng “lê thê” đầy tuyệt vọng, tác giả không dùng từ chết mà vẫn tái hiện cho ta một cách rõ ràng cảnh Giu- da đang dãy dụa “ằng ặc” vì ngạt thở thật rùng rợn.

III- ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP ÂM THANH VÀ HÌNH TƯỢNG:

Kết hợp âm thanh để tạo nên một hình tượng sinh động là một nghệ thuật rất được Nguyễn Xuân Văn sử dụng để làm nổi bật lên tình tiết và làm rõ nội dung muốn ám chỉ hơn.

dụ 1:

Phướn tang cờ rũ đen trời

Sáo ngân điệu thảm kèn khơi mạch sầu

Người đi vào cõi thiên thâu

Kẻ đưa tư lự cúi đầu trang nghiêm. (1851 – 1854)

Không cần phải mô tả dài dòng, chỉ qua 4 câu thơ mà tác giả đã tạo được một hình ảnh của một đám tang với đầy đủ nghi thức “cờ rũ” và “Sáo ngân điệu thảm, kèn khơi mạch sầu” và làm cho những người đưa tang cũng phải suy nghĩ về ngày ra đi của mình phải “tư lự cúi đầu trang nghiêm”.        

dụ 2:

Đám tang buồn thảm dở chừng

Biến thành đám hội như rừng nở hoa

Hồng ân Thiên Chúa ngợi ca

Đàn reo dậy đất, kèn loa vang trời

Tiên Tri Cả đã ra đời

Xuân tan băng giá, thu khơi mưa rào. (1873 – 1878)

Cũng đám tang đó, khi người con trai của bà goá đã được Chúa Giêsu cho sống lại         thì trở thành “đám hội như rừng nở hoa” với những tiếng “Đàn reo dậy đất, kèn loa vang trời”, và quan trọng hơn cả là họ tin có một Đấng Cứu tinh đang cứu họ thoát khỏi những bế tắc của cuộc sống “Xuân tan băng giá, thu khơi mưa rào”.

dụ 3:

Vườn Dầu vắng ngắt vắng teo

Mơ màng với mảnh trăng treo đầu cành

Côn trùng rỉ rả liên thanh

Nghe như ma quỷ vờn quanh chuyện trò

Bóng cây hốc đá đen mò

Trông như thú dữ đang bò dưới trăng

Khí đêm bốc lạnh như băng

sầu đưa giọng nghe văng vẳng sầu. (7499 – 7506)

Hằng ngày Chúa Giêsu và các môn đệ vẫn thường vào vườn cây Dầu, một nơi yên tĩnh với “mảnh trăng treo” thích hợp cho việc cầu nguyện. Nhưng hôm nay, trước cuộc khổ nạn, vườn cây Dầu không còn thân thuộc nữa mà trở nên “vắng ngắt vắng teo”, đệm tiếng “Côn trùng rỉ rả liên thanh”, tạo nên cảnh “Nghe như ma quỷ vờn quanh chuyện trò”, hình ảnh ghê sợ đến nỗi “Trông như thú dữ dang bò dưới trăng”, với những âm thanh xui xẻo đầy chết chóc của “Cú sầu đưa giọng nghe văng vẳng sầu”. Tất cả những hình tượng và âm thanh đó đều nhằm diễn tả tâm trạng cô đơn và sợ hãi của Chúa Giêsu trước cuộc khổ nạn trong thân phận con người.

 

Đoàn Xuân Dũng

     Giáo Hạt Phú Yên