|
Một bài thơ hay ngoài nội dung và các thủ pháp sử dụng từ cũng như kết hợp từ, thì cái hợp vần, đúng luật và tính nhạc điệu cũng là những yếu tố quan trọng giúp người đọc dễ cảm nhận và thuộc bài thơ. Đó cũng là điều thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã đạt được để Sứ Điệp Tình Thường có thể thấm nhuần vào trong tâm hồn mỗi người Công giáo như một cuốn Tin Mừng sống động, hoặc như một thú chơi văn hoá mang tính giáo dục mà người đọc phải thuộc lòng để có thể sử dụng nó trong cuộc sống như một dạng lảy Kiều, mà tôi tạm gọi là lảy Lời Chúa. 1- Nhạc điệu trong câu đối thoại:Ví dụ 1: Quan nghe thêm mối bận lòng Trở vào hỏi Chúa lòng vòng mấy câu: “Ông là ai? Đến từ đâu? Lời quan như gió thổi đầu ngọn cây. (8521 – 8524) Nội dung câu thơ và cách ngắt câu ở chữ thứ 3 câu 6 tạo âm hưởng gay gắt trong câu hỏi, nhưng lại có vần điệu rất thích hợp. Ví dụ 2: Quan rằng: “Sao lại đóng đinh Vua mình bị chính tay mình giết sao? Phần ta cũng chẳng thích nào Giết vua đâu phải chuyện hào hứng chi. ” Dân rằng: “Cứ giết nó đi Đóng đinh thập giá có gì sợ đâu!” (8555 – 8560) Nội dung câu thơ và cách ngắt câu ở chữ thứ 2 câu 6 tạo âm hưởng hỏi đáp giữa các đối tượng, có vần điệu rất tự nhiên. Ví dụ 3: Đóng xong tất cả chân tay Đóng thêm bản án khắc đầy công phu Đề: “Na- da- rét Giê- su! Vua dân Do Thái”, nét chu đậm đà. Thân hào tư tế nhận ra Đến xin quan trấn sửa là: “Tự xưng”. Giọng quan đáp lại thẳng thừng: “Bút sa gà chết thôi đừng nại thêm”. (8801 – 8808) Nội dung câu thơ và cách ngắt câu ở chữ thứ 1 trong câu 6 và chữ thứ 6 trong câu 8 tạo âm hưởng dứt khoát trong cách đáp trả, có vần điệu rất mạnh mẽ, thích hợp với uy quyền và lệnh của một vị quan tổng trấn. Ví dụ 4: “Si- mong con bác Gioan ơi! Mến Thầy, con mến hơn người ta chăng?” Phê- rô khúm núm thưa rằng: “Lạy Thầy con biết nói năng thế nào? Mến Thầy con mến xiết bao”. (9625 – 9629) Ví dụ 5: “Si- mong con bác Gioan hiền Thật tình con có ưu tiên mến Thầy?” Phê- rô quỳ gối chắp tay: “Lạy Thầy thông suốt đất dày trời cao Mến Thầy con mến xiết bao Con còn phải nói thế nào nữa đây?” (9635 – 9640) Trong ví dụ 4 và 5, tác giả không ngắt câu để tạo nên âm hưởng của một lời nói dịu dàng và đầy thông cảm và tha thứ của Chúa Giêsu đối với thánh Phê- rô, cũng như sự đáp trả của Thánh Phê- rô không còn mạnh bạo và hung hăng như khi tuyên bố mặc ai bỏ thầy chứ con thì không, mà đã trở nên khiêm tốn vì biết sự yếu hèn và bất toàn của mình. 2- Nhạc điệu trong câu tán thán:Ví dụ 1: Nhà mình đầm ấm vui tươi Nụ hôn của má, tiếng cười của ba Ôi trời! ôi mẹ! ôi cha! Đứa con bất hiếu nay đà biết thân. (4733 – 4736) Tiếng ta thán và cách ngắt câu mỗi hai từ ở câu 6 khiến cho câu thơ có vần điệu rất hay nhưng không kém phần thống thiết. Ví dụ 2: Một hôm trông thấy từ xa Bóng con thất thểu thất tha trên đường Lòng cha dào dạt tình thương Sôi lên như sóng trùng dương kêu: “Trời! Sao ra nông nỗi con ơi Đời sao nỡ hại con tôi dường này? (4769 – 4774) Tiếng ta thán và cách ngắt đột ngột ở từ cuối câu 8 làm thay đổi vần điệu bình thường của câu thơ, nhưng lại diễn đạt được sự kiện bất ngờ. Ví dụ 3: Thương Thầy đức độ dịu dàng Đời sao dạ sói lòng lang lắm người Gan sầu, ruột héo: Thầy ơi! Can chi vùi dập nửa đời ngày xanh. (8713 – 8716) Âm điệu theo cách ngắt mỗi hai từ và nội dung của từ ta thán ở cuối câu 6 nghe thật thương cảm. Ví dụ 4: Tô- ma sụp lạy cất lời: “Ôi! Con lạy Chúa! Chúa Trời của con” (9531 – 9532) Ngắt câu ở chữ thứ nhất, rồi chữ thứ 4 và kết bằng 4 từ còn lại của câu 8 đã tạo nên điệu nhạc lạ tai nhưng không kém phần xác tín theo nội dung của lời thơ. Ví dụ 5: “Si- mong hiếu tử nhà Gioan Lòng con có dám cam đoan mến Thầy?” Phê- rô đau khổ đắng cay Muốn đem gan ruột phơi bày: “Thầy ôi! Lòng con Thầy đã biết rồi Con đâu dám nói một lời đảo điên. ” (9643 – 9648) Tình cảm chân thành của thánh Phê- rô đã bị Chúa Giêsu hỏi đến lần thứ ba khiến cho vị thánh không thể không nghĩ Thầy mình đã nhắc khéo cái tội chối thầy ba lần. Cho nên thánh Phê- rô chỉ còn biết than lên “Thầy ôi” để mong thầy tha thứ và hiểu cho lòng dạ trung kiên nhưng yếu đuối của mình, chứ không còn dám huênh hoang: Mặc ai phím lỏng tơ chùng Phần con nguyện sẽ thuỷ chung với Thầy. (7471 – 7472) 3- Nhạc điệu trong câu diễn tả:Ví dụ 1: Máu theo nước mắt tuôn tràn Nhìn Con tức tưởi muôn vàn thương Con Chân cùm, tay xích, lưng đòn Thân ngà, vóc ngọc thôi còn gì đâu. (8621 – 8624) Cách ngắt câu mỗi hai từ liên tục từ câu 6 qua câu 8 khiến cho câu thơ có tính dồn dập và âm điệu càng hay. Ví dụ 2: Lý hình bận rộn liền tay Đứa đào lỗ, đứa cột dây kéo chằng Dựng cây khổ giá thẳng băng Gốc chôn lòng đất, cánh giăng lưng trời. (8815 – 8818) Một cách ngắt câu ở chữ thứ 3 câu 8 nhưng vẫn tạo được sự liên tục của ý thơ và điệu nhạc. Ví dụ 3: Áo ngoài dù đã nhạt màu Chúng chia làm bốn trước sau đồng phần Áo trong một tấm nguyên thân Không đường khâu, chẳng biết phân thế nào? (8833 – 8836) Chính cách ngắt câu ở chữ thứ ba 3 trong câu 8 tạo nên sự lưỡng lự phù hợp với lời thơ “chẳng biết phân thế nào?” Ví dụ 4: Kỳ hào, đầu mục các người Lắm câu nhục mạ, đủ lời cuồng ngông Cứu người, nam, bắc, tây, đông Hết bùa, hết phép, hết mong cứu mình Bùa mà mất phép, mất linh Thì tên ăn trộm cũng khinh thầy bùa Thầy bùa mà muốn làm vua Ông trời cũng kéo cho rùa leo cây. (8849 – 8856) Cách ngắt câu từng từ một “nam, bắc, tây, đông”, đan xen với cách sử dụng điệp từ “hết”, “mất” và điệp ngữ “thầy bùa” cùng với lối nói khoa trương “cho rùa leo cây”, khiến cho đoạn thơ trên đầy ắp tính nhạc điệu nghe thật sinh động và vui tai. Ví dụ 5: Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần Chúng con tha tội, tội nhân ắt lành Chúng con cầm, buộc, giữ, dành Tội nhân ắt bị tội danh buộc ràng. ” (9495 – 9498) Cách ngắt câu từng từ một “cầm, buộc, giữ, dành”, đan xen với cách sử dụng điệp từ “tội”, được nhắc lại bằng điệp ngữ “tội nhân” khiến cho quyền hạn của các tồng đồ được xác quyết một cách mạnh mẽ nhưng không làm cho câu thơ cứng nhắc mà vẫn có tính nhạc điệu. Ví dụ 6: Trời cao thăm thẳm chín tầng Nghe chăng hai tiếng: “Xin vâng” não nùng? “Xin vâng” đến phút cuối cùng “Xin vâng” cho Mẹ chịu chung khổ hình. (8915 – 8918) Cách ngắt câu ở chữ thứ 6 của câu 8 trong độc thoại kết hợp sử dụng điệp ngữ “Xin vâng” tạo cho ta một cảm giác bình an và vui nhận đau khổ nhưng không kém phần thống thiết nhờ kết hợp với lời thơ. Ví dụ 7: Thấy Gioan ủ rũ đứng bên Trao Gioan cho Mẹ là yên lòng rồi Chúa liền bày tỏ khúc nôi: “Nầy Gioan con Mẹ, Mẹ ôi thương tình!” Nhìn người môn đệ trung thành Chúa rằng: “Gioan hỡi, Mẹ lành con đây”. (8933 – 8938) Cách ngắt câu ở chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong câu 8 là một cách ngắt câu rất thông thường nhưng lồng với lời thơ lại có vần điệu của âm nhạc. Ví dụ 8: Hôn bao nhiêu dấu máu tuôn Nụ hôn Mẹ kết bằng muôn tơ lòng Hôn thương tích, cạnh nương long Hôn đầu tóc rối, mấy vòng gai đan. (9225 – 9228) Cách ngắt câu ở chữ thứ 3 trong câu 6 và chữ thứ 4 trong câu 8 là rất bình thường, nhưng lồng trong nội dung của hai câu thơ trên thì tính nhạc điệu của nó càng làm nổi bật tình cảm của đối tượng hơn nhiều. Ví dụ 9: Kéo dài kiếp sống đoạn trường Để than, để khóc, để thương nhớ ngày Ngày Con chết đắng, chết cay Chết đau, chết nhục, chết thay cho đời. (9139 – 9142) Tác giả đã khéo sử dụng điệp từ “để” và “chết” kết hợp với cách ngắt câu từng hai từ một khiến cho người đọc cảm thấy mình có phần nào trách nhiệm trong cái chết oan ức của Chúa Giêsu. Ví dụ 10: Hãy đi rao giảng Tin Lành Hãy đi rửa tội nhân Danh một lần “Thánh Phụ, Thánh Tử, Thánh Thần” Cho người thiên hạ mọi dân mọi miền. (9553 – 9556) Cách ngắt câu từng hai từ một trong câu sáu đã nhấn mạnh hơn mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi một cách rõ ràng và dứt khoát. 4- Nhạc điệu trong câu gọi nhau:Ví dụ 1: Thấy nàng ngơ ngẩn mơ buồn Chúa vờ thăm hỏi ngọn nguồn: “Bà kia! “Khóc ai nước mắt đầm đìa, “Tìm ai quanh quẩn mộ bia không rời?” (9285 – 9288) Cách ngắt câu ở chữ thứ 6 trong câu 8 với nội dung tổng quát “Bà kia” đã không làm cho câu thơ mang tính đột ngột mặc dầu nó có âm thanh mạnh mẽ. Ví dụ 2: Chúa thương khẽ gọi: ‘Mai Liên” Thiết tha như tiếng cha hiền gọi con. Mai- liên đôi mắt mở tròn Sững sờ như bị một đòn rát da. (9295 – 9298) Nhưng cách ngắt câu ở chữ thứ 4 trong câu 6 với nội dung cụ thể “Mai Liên” đã lại làm cho câu thơ mang tính đột ngột mặc dầu âm thanh của nó chỉ là tiếng gọi khẽ. Ví dụ 3: Mọi người nheo mắt đăm chiêu Môn đồ được Chúa thương yêu cất lời: “Chính Thầy đó! các bạn ơi!” Phê- rô chợt tỉnh như người chiêm bao. (9593 – 9596) Cũng cách ngắt câu ở chữ thứ 3 trong câu 6 rất bình thường, nhưng nó lại tạo nên một tâm trạng đầy mừng rỡ khi nhận ra Thầy đã sống lại. Tuỳ theo nội dung câu thơ mà người làm thơ có thể ngắt câu tuỳ ý nhưng không được tối nghĩa và phải có tính nhạc điệu. Có một số đoạn thơ, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn thường ngắt câu ở chữ thứ ba làm cho câu thơ hơi khó đọc và có lúc không rõ nghĩa. Vì thế, tôi mạn phép xin góp ý như sau: Ví dụ 1: Chúa rằng: “Con nghĩ thế nào? Vua quan đánh thuế đánh vào đầu dân Hay vào con cái người thân? Phê- rô đáp: “Thuế là phần dân lo. ” (3441 – 3444) Tác giả ngắt câu 8 ở chữ thứ 3 làm cho câu thơ trở nên khó đọc. Để cho câu thơ có nhạc điệu, chúng ta nên ngắt câu ở vị trí thứ 4 như sau: Chúa rằng: “Con nghĩ thế nào? Vua quan đánh thuế đánh vào đầu dân Hay vào con cái người thân? Phê- rô liền đáp: “Thuế phần dân lo. ” Ví dụ 2: Hạ thần sợ biết bao nhiêu Sợ ngài có tính kiết keo quen rồi Cái không gởi, bắt thu hồi, Nơi không gieo, cũng buộc người gặt cho. (5563 – 5566) Tác giả ngắt câu 8 ở chữ thứ 3 làm cho câu thơ trở nên khó đọc. Để cho câu thơ có nhạc điệu, chúng ta có thể ngắt câu ở vị trí thứ 4 và đổi như sau: Hạ thần sợ biết bao nhiêu Sợ ngài có tính kiết keo quen rồi Cái không gởi, bắt thu hồi, Nơi không gieo cấy, buộc người gặt cho. Ví dụ 3: Đã ngu chẳng lẽ ngu hoài Một lần dại, học thêm vài lần khôn. (6521 – 6522) Tác giả ngắt câu 8 ở chữ thứ 3 khiến cho câu thơ khó đọc. Để cho câu thơ có nhạc điệu chúng ta nên ngắt câu ở vị trí thứ 4 và đổi như sau mà vẫn không làm thay đổi nội dung câu thơ: Đã ngu chẳng lẽ ngu hoài Một lần lỡ dại, học vài lần khôn. Ví dụ 4: Hội đồng tinh mắt thính tai Thấy người lạ, khép vòng đai hỏi dồn. (6621 – 6622) Tác giả ngắt câu 8 ở chữ thứ 3 khiến cho câu thơ khó đọc. Để cho câu thơ có nhạc điệu chúng ta nên ngắt câu ở vị trí thứ 4 và đổi như sau mà vẫn không làm thay đổi nội dung câu thơ: Hội đồng tinh mắt thính tai Thấy người lạ đến, ép khai hỏi dồn. Ví dụ 5: Để Con ban phúc trường sinh Để gây cho họ niềm tin vững bền Tin Cha vô đối vô biên Chúa chân thật, Chúa dựng nên muôn loài Tin Con Thiên Chúa đầu thai Giêsu Cứu Thế khâm sai Thiên đình. (7345 – 7350) Tác giả ngắt câu 8 ở chữ thứ 3 khiến cho câu thơ khó đọc, đồng thời cũng không nhấn mạnh được một đức tin duy nhất từ Chúa Cha qua Chúa Con, vả lại từ “Chúa” trong câu thơ này không xác định rõ đó là “Ngôi vị” nào. Cho nên để xác định rõ đức tin đối với mỗi Ngôi vị và để cho câu thơ có nhạc điệu chúng ta nên ngắt câu ở vị trí thứ 4 và đổi như sau để xác định ý nghĩa câu thơ: Để Con ban phúc trường sinh Để gây cho họ niềm tin vững bền Tin Cha vô đối vô biên Tin Cha chân thật, dựng nên muôn loài Tin Con Thiên Chúa đầu thai Giêsu Cứu Thế khâm sai Thiên đình. (7345 – 7350) III- CÓ CHỖ CHƯA ĐÚNG LUẬT BẰNG TRẮC? Một bài thơ không đúng luật bằng trắc sẽ làm mất đi tính nhạc điệu của bài thơ đó. Trong ấn bản Sứ Điệp Tình Thường, tôi có tìm thấy một thiếu sót (và là duy nhất) về lỗi luật bằng trắc. Đó là từ “bồ câu” trong câu: Thánh Thần Thiên Chúa hiện ra Lấy hình bồ câu đáp qua trên đầu. (631 – 632) Tôi lấy làm lạ, không lẽ gì tác giả không tìm được cách nào khác? Tôi trao đổi với nhà thơ Trăng Thập Tự, người có may mắn được thưởng thức Sứ Điệp Tình Thương ngay từ ngày tác giả viết những dòng đầu tiên, thì được biết ấy chỉ là lỗi đánh máy. Câu trong nguyên bản của tác giả là “lấy hình câu trắng đáp qua trên đầu”. Thật sự không một tác phẩm thi ca nào là hoàn chỉnh mọi bề, với những chỗ thiếu hợp vần, không đúng luật hoặc chưa có tính nhạc điệu là không đáng kể so với một số lượng gần mười ngàn câu thơ. Tôi thiết nghĩ, những cái sơ sót ấy không phải tác giả không biết và không sửa được, nhưng có lẽ vì một lý do nào đó mà nhà thơ không kịp bổ sung mà thôi. Có thể nói rằng Sứ Điệp Tình Thường của Linh Mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn là một chuẩn mực thơ lục bát cho những ai muốn học làm thơ. |
|
Đoàn Xuân Dũng |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|