|
So với tất cả các phong cách chức năng, ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật có tính sinh động và biểu cảm cao nhất. Chính đặc tính này đã tạo ra một con đường riêng làm thành bản chất của chức năng tác động ở phong cách nghệ thuật: tác động bằng tình cảm. Đây là mặt vừa ưu việt lại vừa là mặt hạn chế của phong cách nghệ thuật. Ưu việt ở chỗ, đây là phong cách dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu. Nhưng sự hạn chế cũng bộc lộ ở tính trừu tượng, thiếu độ chính xác do kết quả của các thao tác tư duy trực tiếp và cảm tính đưa lại. Sự không rạch ròi giữa nghĩa lôgich và nghĩa cảm xúc, sự khó phân định giữa nghĩa mệnh đề và nghĩa hình thái của câu bao giờ cũng là những điểm nút của các cuộc tranh luận. Tuy nhiên ai cũng phải thừa nhận, thiếu đi tính sinh động và biểu cảm, nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa. I- ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH SINH ĐỘNG VÀ BIỂU CẢM: Có thể nói, tính sinh động và biểu cảm của ngôn ngữ là một trong các thành tố quan trọng làm nên chất trữ tình trong văn bản nghệ thuật. Thơ ca mà ít tính biểu cảm sẽ rơi vào triết lý khô khan, khó giao hoà với người đọc. Khai thác được đặc điểm về tính biểu cảm của ngôn ngữ nghệ thuật chính là đã tạo được một cầu nối với người đọc, để tìm sự chia sẻ, tri âm. Chính vì thế, khi sáng tạo ra những kiểu kết hợp từ, các kiểu kết cấu cú pháp mới lạ, Nguyễn Xuân Văn vẫn không đi chệch khỏi chuẩn mực và sử dụng đúng chỗ và hợp lý những từ tình thái. Ví dụ 1: Hờn duyên tủi phận với người Chịu câu khinh bạc nhịn lời mỉa mai. (41 – 42) Trong bối cảnh xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, một phụ nữ mà không sinh con là một điều sỉ nhục và hổ thẹn, chẳng thua gì quan điểm “thất xuất” đối với người phụ nữ Đông phương, đó là không có con nối dõi tông đường. Để diễn tả tâm trạng của một phụ nữ già nua mà chưa có con thừa tự, thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã nói lên cái mặc cảm “hờn duyên tủi phận”, cái đau khổ “chịu câu khinh bạc”, cái nén lòng “nhịn lời mỉa mai”. Ví dụ 2: Người đi lưu luyến núi rừng Cỏ sầu hoa ủ không ngừng nhớ thương. (669 – 670) Tác giả đã khéo tách từ “cỏ hoa” và “ủ sầu” và kết hợp các từ đó lại để diễn tả tình cảm thân thiết với nơi mình đã ở bằng các cụm từ “lưu luyến núi rừng”, “cỏ sầu hoa ủ”, “không ngừng nhớ thương” thì quả thật câu thơ tạo nên sự sinh động và biểu cảm cao cái giây phút chia tay với thiên nhiên không khác chi với con người. Ví dụ 3: Non sông chung gánh chung chèo Thôi mây ngũ sắc, thôi bèo phồn hoa. (1337 – 1338) Cải biên từ thành ngữ “Chung lưng đấu cật” để tạo nên một thành ngữ mới “chung gánh chung chèo” cũng diễn tả sự hợp sức lại, đoàn kết với nhau để thực hiện một mục đích chung. Và để diễn tả quyết tâm theo Chúa của thánh Matthêô bằng việc từ bỏ sự nghiệp, từ bỏ danh lợi giàu sang, tác giả đã sử dụng các cụm từ có sức biểu cảm cao và không kém phần sinh động: cái mau tan biến của danh vọng “thôi mây ngũ sắc”, cái mau hư mất của giàu sang “thôi bèo phồn hoa”. Ví dụ 4: Ngày lo đêm sợ bồi hồi Đem theo sợ mất, cất ngồi không yên. (1671 – 1672) Bằng cách tách từ “ngày đêm”, “lo sợ” và kết hợp các từ này lại với nhau, tách giả đã diễn tả tâm trạng “ngày lo đêm sợ” của kẻ chỉ biết cất giữ loại của cải “đem theo sợ mất” vì coi nó như là cùng đích của đời mình “cất ngồi không yên”. Ví dụ 5: Trổ tài nhảy múa hát ca Lẳng lơ đưa đẩy, thu ba gợi tình. (1991 – 1992) Nếu không mang tính sinh động “lẳng lơ đưa đẩy” và biểu cảm “thu ba gợi tình” thì làm sao chúng ta tưởng tưởng được hình ảnh của một cô gái ăn mặc hở hang với những điệu nhảy kích dục đã khiến cho gã “Râu dê” hài lòng đến mức nửa nước cũng hứa cho. Ví dụ 6: Lau sao cho tóc rối bời Hôn sao cho dại đôi môi héo buồn Càng lau lệ thảm càng tuôn Tóc mây vấn vít, nụ hôn nồng nàn. (2081 – 2084) Cái sinh động của câu thơ là ở chỗ “Lau sao cho tóc rối bời” và biểu cảm ở câu “Hôn sao cho dại đôi môi héo buồn”. Cái sinh động và biểu cảm đó còn được nâng cao hơn khi tác giả kết ở câu “Tóc mây vấn vít, nụ hôn nồng nàn”. Chỉ cần qua bốn câu thơ mà tác giả đã lột trọn vẹn tấm lòng hối lỗi chân thành của người phụ nữ, thì dù ai có lòng dạ sắt đá thế nào đi nữa cũng phải tha thứ mà thôi. Ví dụ 7: Áo quần tơi tả xác xơ Đêm canh heo ngủ, ngày chờ heo ăn Nằm trần không chiếu không chăn Sáng xơi canh mặn, tối nhằn cơm thiu Xưa sao hoa bướm dập dìu Giờ sao đói rách đìu hiu một mình Lắm phen ăn đói ngủ trần Dành rơm thú vật, bớt phần cám heo. (4715 – 4726) Tình cảnh đói khổ của đứa con hoang đàng được tác giả miêu tả thật sống động bởi cách tạo hình tượng thật sâu sắc về cái túng cùng “Áo quần tơi tả xác xơ”, với cái đói “Sáng xơi canh mặn, tối nhằn cơm thiu”, kết thành cái sỉ nhục “Dành rơm thú vật, bớt phần cám heo”. Ví dụ 8: Bầu trời tím ngắt một màu Vầng trăng lơ lửng trên đầu mét meo Cỏ cây ủ rũ buồn teo Người sầu cảnh cũng sầu theo với người. (7605 – 7608) Tính sinh động của câu “Cỏ cây ủ rũ buồn teo” làm biểu cảm rõ hơn tâm trạng của nhân vật “Người sầu cảnh cũng sầu theo với người” tương tự như câu thơ trong truyện Kiều “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ví dụ 9: Mặc ai phím lỏng tơ chùng Phần con nguyện sẽ thuỷ chung với Thầy. (7471 – 7472) Tác giả dùng từ “phím lỏng tơ chùng” để làm hình ảnh so sánh nhằm diễn tả lòng chung thuỷ của Thánh Phê- rô đối với Chúa Giêsu thì quả là gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Sự “thuỷ chung với Thầy” chỉ có thể là “đứt dây” chứ không thể “lỏng chùng”. Điều đó đã được chứng minh bằng cái chết treo ngược của Thánh Phê- rô sau này. Ví dụ 10: Giọng ngài xa vắng mơ hồ Trầm buồn như tự dưới mồ đưa lên Nghe sao chan chứa ưu phiền Buồn sao day dứt liên miên là buồn. Cô đơn xâu xé tâm hồn Chúa quay lại chỗ ba môn đệ ngồi. (7553 – 7558) Cái giọng “Trầm buồn như tự dưới mồ đưa lên” tạo một hình ảnh sinh động để diễn tả cái tâm trạng “Buồn sao day dứt liên miên là buồn” của “Cô đơn xâu xé tâm hồn” gần như tuyệt vọng của Chúa Giêsu trước khi chịu khổ nạn thật không gì biểu cảm cho bằng. 1- Về nghệ thuật tả người:- Nguyễn Du tả Thuý Vân qua các câu thơ: Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. (19 – 22) Với “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” tác giả miêu tả cô gái có khuôn mặt tròn trịa, với đôi lông mày to dài thì có lẽ chỉ là tướng của một cô gái phúc hậu nhờ cách “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”, với cái đẹp chỉ thuần thuý bên ngoài “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”. Cái đẹp của Thuý Vân đơn thuần chỉ là cái đẹp ngoại hình mà thôi. - Nguyễn Xuân Văn tả Đức Maria qua lời thơ: Trăng tròn mười sáu xuân xanh Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông Dung nhan rực rỡ vừng hồng Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương Vườn xuân khoá kín thiên hương Cõi trần không chút vấn vương bụi trần. (101 – 107) Với “Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông” tác giả miêu tả nét đẹp của Maria dịu dàng lành thánh nhưng không kém phần sống động “Rực rỡ vừng hồng” của cái hào quang lành thánh chứ không phải cái chim sa cá lặn. Bởi vì cái đẹp tĩnh lặng của “Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương” được giữ gìn “Vườn xuân khoá kín thiên hương” để dâng trọn cho Thiên Chúa “Cõi trần không chút vấn vương bụi trần”. Cái đẹp của Đức Maria là cái đẹp của toàn bộ thân xác và tâm hồn. 2- Về nghệ thuật tả cảnh:- Nguyễn Du tả cảnh mộ Đạm Tiên: Sè sè nấm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh (57 – 58) Từ “sè sè” tạo nên “nấm đất bên đường” cô quạnh không người chăm sóc, chỉ có “ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” thay nhang khói thắp cho mộ Đạm Tiên, chứng tỏ sức diễn tả và biểu cảm của hai câu trên rất hay và đủ để tạo nên một hình tượng sâu sắc. - Nguyễn Xuân Văn tả cảnh đêm đông Chúa Giêsu sinh ra: Đêm về tuyết phủ đầy trời Tuyết gieo ướt át, tuyết rơi lạnh lùng Một màu trắng đục mông lung Bao trùm như nấm mồ chung muôn loài. (325 – 328) Cái hình tượng cô quạnh và đơn chiếc trong đêm đông được Nguyễn Xuân Văn diễn đạt bằng các cụm từ “Tuyết gieo ướt át, tuyết rơi lạnh lùng”. Tại sao không là trắng toát, trắng mịn, trắng sạch … mà là “trắng đục”. Cái trắng đục là cái trắng vô tình, cái trắng thiếu tương trợ nhau lúc khó khăn, cái trắng vô tình đầy ác ý. Tại sao không là núi đồi, gò nỗng…. mà là “nấm mồ”, bởi vì sự nghèo khổ bên ngoài của ông Giuse đã khiến người ta không nhìn thấy sự giàu có mà Đức Maria mang bên trong, cho nên họ đã không tiếp nhận vị Cứu Chúa của họ. Tác giả đã dùng từ “nấm mồ” cũng để xác định và đồng thời tiên báo đó là cách tiếp đón Vị Cứu Tinh từ lúc sinh ra cho đến khi tử nạn. 3- Về nghệ thuật diễn tả tâm trạng:- Nguyễn Du tả tâm trạng của Thuý Kiều trước khi tự vẫn: Rằng: “Từ công hậu đãi ta “Chút vì việc nước mà ra phụ lòng, “Giết chồng mà lại lấy chồng, “Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời? “Thôi thì một thác cho rồi, “Tấm lòng phó thác trên trời dưới sông. ” Trông vời con nước mênh mông, Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang. (2629 – 2636) Thuý Kiều vì đã nghe lời dụ dỗ của Hồ Tôn Hiến mà bán đứng chồng mình là Từ Hải. Nguyễn Du đã lột tả được tâm trạng hối hận “Giết chồng mà lại lấy chồng” thì “Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời” của Thuý Kiều thật sâu sắc. Cái tội không thể bù đắp được nên nàng tìm con đường giải thoát bằng cách trầm mình tự vẫn. - Nguyễn Xuân Văn tả tâm trạng của Giu- đa trước khi tự vẫn: Hắn rung rung túi bạc đồng, Tiếng kêu rổn rảng như chuông tử thần: “Tôi dù là kẻ vong ân, Ông là tên bợm sát nhân lộng hành. Tôi đem bán máu người lành, Tội tôi quá nặng không đành cam tâm”. (8061 – 8066) … Bể sâu rừng rậm núi cao Giờ đây còn biết tìm vào nơi đâu? Nhẹ lưng nhẹ túi mặc dầu Lòng không nhẹ được mối sầu vạn cân. (8101 – 8104) … Lấy gân tiến bước vào rừng Lấy can đảm cột dây thừng lên cây Một cây lá rậm cành dày Vừa che tội ác vừa thay mộ phần. (8131 – 8134) Giu- đa hối hận bởi tính tham tiền của mình vì “Tôi đem bán máu người lành”, cho dù đã quăng trả lại tiền “Nhẹ lưng nhẹ túi mặc dầu”, nhưng tâm trạng của hắn vẫn là “Lòng không nhẹ được mối sầu vạn cân”. Nguyễn Xuân Văn đã diễn đạt cái tội không thể tha thứ được nên hắn phải tìm con đường giải thoát bằng cách thắt cổ tự vẫn một cách thật sinh động “Lấy gân tiến bước vào rừng” và biểu cảm cao “Lấy can đảm cột dây thừng lên cây”. |
|
Đoàn Xuân Dũng |
|
Giáo Hạt Phú Yên |
|