|Trang chủ  | Prayers online | Vietcạtholic News | Giáo lư phổ thông | Giới trẻ |

  Con t́m bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không t́m người bạn không bao giờ phản bộ con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào. (ĐHV.130)   

 
Tiểu sử các Thánh

Têrêxa Avila

 

 

 

Người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh mà c̣n nhờ những lương thực thiêng liêng - Mt 4,4

 

Giới Thiệu Tác Phẩm

 

Têrêxa Avila

VỊ THÁNH HAY XUẤT THẦN

With Saint Theresa, there appears in the circle of saints a woman whose sainthood was imposed upon her by God. Her experience of God came to her in a state of ecstatic rapture and overwhelmed her with elemental force.

Với thánh Têrêxa, trong hàng ngũ các thánh đă xuất hiện một phụ nữ thánh thiện đặc biệt, một sự thánh thiện như do Thiên Chúa áp đặt. Kinh nghiệm về Thiên Chúa đă đến với chị trong t́nh trạng xuất thần ngây ngất, và áp đảo chị một cách mănh liệt và khủng khiếp.

In the extraordinary life of this saint natural events crossed over into supernatural spheres, worldly and heavenly orders met, visions emerged from perception, the sound of human voices was taken up by heavenly calls and the fragile human frame served in ecstatic moments as the vessel of God’s abundance.

Trong cuộc đời phi thường của vị thánh này, những biến cố tự nhiên đan chéo nhau thành những lănh vực siêu nhiên, trật tự hạ giới và thượng giới gặp nhau, những thị kiến nảy sinh từ tri giác, tiếng nói của con người bị tiếng gọi của trời cao hút lấy, và cái thân xác nhân loại yếu ớt được dùng làm bể chứa sự giàu có của Thiên Chúa trong những cơn xuất thần.

In Theresa we are confronted with a resident of two realms, at home in heaven and on earth, and constantly moving to and from the spatial confines of a little Spanish town and the infinite space of eternity. The clock of the convent struck the hours; but for Theresa it would suddenly grow silent; time would cease; timelessness would surround her. And often it was but a flash that separated her daily routine from motionless rest in God.

The contrast between the natural and the supernatural which is so strikingly manifest in Theresa’s dual existence was further intensified by the time in which she was born. It was a time of progressive secularization.

2

Nơi Têrêxa chúng ta giáp mặt với cư dân của hai vương quốc cùng một lúc, chị thoải mái khi ở dưới đất cũng như khi ở trên trời, thường xuyên đi đi về về giữa không gian hạn hẹp của một tỉnh lẻ ở Tây Ban Nha và không gian vô cùng của thế giới vĩnh cửu. Đồng hồ tu viện điểm giờ, nhưng đối với Têrêxa tiếng chuông đồng hồ ấy thường bỗng dưng im lặng, thời gian thường ngừng lại, sự vĩnh cửu thường vây quanh chị. Luôn luôn, công việc hằng ngày của chị và sự yên nghỉ bất động trong Chúa chỉ phân cách nhau trong tích tắc, bằng một tia chớp.

Sự tương phản giữa thế giới tự nhiên và siêu nhiên hiển hiện rất rơ nơi cuộc sống hai mặt của Têrêxa, và sự tương phản ấy càng nổi rơ hơn, do hoàn cảnh lịch sử lúc chị sinh ra. Lúc ấy là lúc thế giới đang ngày càng bị tục hoá.

2

The castles, cathedrals, convents and monasteries, the fortified cities and towns, which had protected the introspective quiet of medieval life against the onslaught of worldly interference, were still standing with their ramparts, their turrets and cloisters, but they seemed now to have survived merely as memorials of what they had actually been in the past.

Theresa’s century was no longer part of the era of transition from the Middle Ages to modern times; it was in every respect the new beginning itself. Within a few decades - and these were precisely the decades of Theresa’s life - the expansive energies of modern activism increased the size of the earth by continents. North America had just been discovered. Cortes had conquered Mexico and crossed the Isthmus of Panama. Magellan sailed around the southern tip of the new world and discovered the Philippines. The earth began to assume the shape of a globe, and the treasures which the conquistadors brought home from overseas increased the wealth of the old world.

Các lâu đài, thánh đường, tu viện và đan viện, các thành thị được xây dựng kiên cố, những cái đă từng bảo vệ cuộc sống êm đềm và hướng nội của thời Trung Cổ chống lại cuộc tấn công dữ dội của những can thiệp thế tục, nay vẫn c̣n đứng vững với thành lũy, với tháp canh và cung nội, nhưng giờ đây dường như chúng chỉ đứng đó như những đài tưởng niệm nhắc nhở về một quá khứ oanh liệt của chúng.

Thế kỷ của Têrêxa không c̣n là thời kỳ chuyển tiếp giữa Trung Cổ và Hiện đại, nhưng đó đă là giai đoạn đầu của thời hiện đại xét về mọi phương diện. Chỉ trong vài thập niên thôi - và Têrêxa sống trong chính những thập niên này - mà sức mạnh bành trướng của chủ nghĩa hành động thực tiễn hiện đại đă làm tăng khuôn khổ của trái đất bằng những lục địa mới. Miền Bắc châu Mỹ vừa được khám phá. Cortes vừa chinh phục Mêhicô và đă đi xuyên qua eo biển Panama. Magellan đă đi thuyền ṿng quanh cực nam của tân thế giới và đă khám phá ra Phi luật tân. Thế giới bắt đầu trở nên tṛn như một quả cầu, và những kho báu do các nhà mạo hiểm mang về từ hải ngoại đă làm cho thế giới cũ thêm giàu có.

Power was the ideal of conquering worldliness. It was the time in which the idea of world dominion, of modern imperialism, was born.

This trend of secularization cast its spell also over man’s spiritual pursuits. No longer did he look within himself. He looked around himself, and what he saw there, absorbed his attention and spurred his mind to inquire and examine. The earth, the here and the now, had displaced the heavens beyond.

Undreamed - of continents of human knowledge were discovered. Treasures of learning were brought together for the use of future times.

Quyền lực là lư tưởng của những ai có tinh thần thế tục thích chinh phục. Đó là thời đại phát sinh những tư tưởng thống trị thế giới, tư tưởng đế quốc kiểu mới.

Xu hướng tục hoá này cũng ảnh hưởng trên những nỗ lực sống tu đức lúc đó. Người ta không c̣n nh́n vào ḿnh nữa, nhưng nh́n ra chung quanh, và những điều họ thấy nơi đây đă thu hút hết mọi chú ư của họ cũng như đă thôi thúc họ truy tầm và khảo sát. Trái đất, và những ǵ của hiện tại, đă chiếm chỗ của trời cao.

Những chân trời kiến thức mà chưa ai dám hoài mong đă được khám phá. Những kho tàng hiểu biết đă được gom lại cho tương lai.

The sixteenth century saw the world as the tangible reality of conquered domains, continents discovered, oceans traversed and treasures won for carefree enjoyment, but also as a world of science, as the opening up of the truth about things.

Thế kỷ 16 đă nh́n thế giới như một nơi cụ thể của những lănh vực và địa hạt bị chinh phục; các lục địa được khám phá, đại dương bị vượt qua và những kho báu được chiếm đoạt để tha hồ hưởng, nhưng cũng như một thế giới của khoa học, sự thật của vạn vật đang được khai mở.

And this time, when the outer world achieved such glorious triumphs in all its spheres, was precisely the time when no less glorious triumphs were achieved through Theresa of vila by the world that lies within: a world without space and yet more spacious; without gold and dominions and none the less richer; without conquests but yet in possession of greater safety; a world without time but of more lasting permanence; without tangible form but not therefore less real than the newly conquered terrestrial globe.

Và lúc này, khi thế giới bên ngoài đă giành được những chiến thắng vẻ vang như thế trên mọi lănh vực, chính là lúc mà qua Têrêxa thế giới nội tâm đạt được những chiến thắng không kém vẻ vang: thế giới ấy không có vị trí nhưng lại rộng răi hơn vô cùng, không vàng bạc và đất đai nhưng giàu có hơn, không chinh phạt nhưng an toàn vô kể, một thế giới không thời gian nhưng bền vững hơn; không h́nh thù cụ thể nhưng lại có thật hơn cả địa cầu mà loài người vừa mới chinh phục.

Magellan’s Vittoria, the first ship to sail around the earth, had just returned, after an absence of several years, to its home port in Spain, when a nun, returning from a trip around the world of the soul, emerged in her cell from the timelessness of ecstatic rapture to join her companions in the parlor of her convent at vila.

Khi con tàu Vittoria của Magellan, chiếc tàu đầu tiên đi ṿng quanh thế giới, trở về tới hải cảng Tây Ban Nha sau vài năm vắng bóng, th́ cũng là lúc một nữ tu bước ra khỏi cơi vô tận của cơn xuất thần ngây ngất trong căn pḥng của ḿnh, trở về từ một chuyến điều hành ṿng quanh thế giới của linh hồn, để ḥa nhập cùng các chị em đang ở trong pḥng khách tu viện của chị tại Avila.

The conquistadors had seen America, India, Java, Panama; she had seen infinity. Ships laden with gold returned from conquered new worlds to the golden gate at the mouth of the Guadalquivir; she returned to earth from visions of the kingdom of heaven, laden with bliss which the hull of no ship could carry.

Các nhà mạo hiểm đă thấy nào là Mỹ Châu, Ấn độ, Java và Panama, c̣n chị đă thấy cơi vô biên. Những chuyến tàu chở đầy vàng bạc từ những thế giới mới chinh phục trở về cửa biển Guadalquivir, c̣n chị trở về trái đất từ những thị kiến về nước trời, chất đầy hoan lạc mà không có khoang tàu nào có thể chở nổi.

To a world ruled by power she opposed her inner world, conquered in powerless rapture and ruled by self-deposition. Complete self-deposition was the foundation of her true kingdom of God.

Trước một thế giới được cai trị do quyền lực, chị đối kháng lại bằng thế giới nội tâm của chị, được chinh phục nhờ những cơn xuất thần không do quyền lực, và được cai trị bằng cách tự hạ bệ ḿnh. Hoàn toàn hạ bệ ḿnh là nền móng xây dựng vương quốc Thiên Chúa đích thực nơi chị.

To a world that indulged in distraction and chatter she brought news from a world in which utter concentration, unspoken, spiritual prayer imparted the highest bliss.

Trước một thế giới buông thả trong tiêu khiển và nói cười thỏa thích, chị cho mọi người biết về một thế giới nơi đó sự chăm chú hoàn toàn, lời cầu nguyện thầm lặng, linh thiêng đă mang lại nỗi hân hoan cao đẹp nhất.

Her truth was an antithesis to the new truth of science. Sense perception was the scientist’s road to truth; measuring reason served as his check; experiments offered proof. Vision outside the sphere of the senses was Theresa’s road to certainty; immeasurable feeling was her check; mystic experience contributed proof.

Chân lư của chị là một điều nghịch lại chân lư mới của khoa học. Tri thức của giác quan là con đường dẫn tới chân lư; lư trí hay đo lường được dùng để kiểm tra; con các thí nghiệm cung cấp bằng chứng. Những thị kiến bên ngoài lănh vực giác quan là con đường đưa Têrêxa đến với sự thật; cảm giác không đo lường được là phương tiện để chị kiểm chứng, c̣n kinh nghiệm thần hiệp cho chị những chứng minh.

A world of data and a world of vision confronted each other as rivals. Copernicus had explored the universe by means of his astronomical calculations. he had come to the conclusion that the sun is the center of our world. The earth had been demoted. It was a mere satellite and no longer the center of creation. Man was no longer the lord of creation but merely the ruler of the earth.

Thế giới của những dữ kiện và thế giới của những thị kiến đối chọi với nhau như hai địch thủ. Copernicus đă thăm ḍ vũ trụ bằng những tính toán thiên văn của ḿnh. Ông đă đi tới kết luận rằng mặt trời là trung tâm thế giới, trái đất đă bị giáng cấp, nó chỉ là một vệ tinh, không c̣n là trung tâm vạn vật nữa. Con người cũng không c̣n là chúa tể của vũ trụ, mà chỉ là kẻ trông coi trái đất.

Saint Theresa had explored the universe of the soul by means of her ecstatic visions, and she had come to the conclusion that the ultimate center around which the suns and the earth revolve, lies in the depths of the human soul. In rivalry with the Copernican discovery of the suns as the center of creation, Theresa discovered the astronomy of the soul and found God, the creator and sun of sun, in the soul of man. Man was the A and O of all that exists.

Theresa’s contemporary Kepler discovered the laws of gravity for material bodies; she discovered them for the soul.

Têrêxa thăm ḍ vũ trụ của linh hồn bằng những thị kiến xuất thần và đi tới kết luận rằng trung tâm sâu xa nhất, mà cả mặt trời lẫn trái đất đang xoay quanh, nằm sâu trong linh hồn con người. Nếu Copernicus khám phá ra mặt trời là trung tâm của vũ trụ, th́ Têrêxa khám phá ra một khoa thiên văn của linh hồn, và t́m thấy Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và là mặt trời của mọi mặt trời, đang hiện diện trong linh hồn con người. Con người là đầu hết và là cuối hết của mọi sự.

Kepler, một người đồng thời với Têrêxa, đă t́m ra định luật hấp dẫn vật thể. C̣n Têrêxa t́m ra định luật hấp dẫn linh hồn.

Vesalius, the young anatomist at Basle, opened a human corpse and studied the organs within. Theresa, the nun of vila , laid bare the one imperishable thing in man: his soul. Servet discovered the lesser circulation of the blood which nourishes the body. Theresa discovered the greater circulation of divine enlightenment which nourishes the soul.

Vesalius, nhà giải phẫu học trẻ tuổi ở Basle, đă mổ một thi thể con người và nghiên cứu các bộ phận trong đó. C̣n Têrêxa, một nữ tu ở Avila, đă phơi trần một thứ duy nhất bất tử nơi con người: linh hồn. Servet đă t́m ra sự lưu thông hạn hẹp của máu để nuôi dưỡng có thể. C̣n Têrêxa t́m ra sự lưu thông rộng lớn hơn của ánh sáng thần linh để nuôi dưỡng linh hồn.

The first precision clock had just been constructed. The course of time began to be measured in minutes, and for the first time church bells rang out each quarter of the hour. But Theresa experienced the indivisibility of time which can not pass because its measure is eternity.

Chiếc đồng hồ chính xác đầu tiên mới được chế tạo. Ḍng thời gian bắt đầu được đo từng phút, và lần đầu tiên các chuông nhà thờ được vang lên cứ 15 phút một lần. Thế nhưng Têrêxa vẫn kinh nghiệm thấy thời gian không thể phân chia được, thời gian không thể qua đi v́ thước đo của thời gian là vĩnh cửu.

The century, entranced in a delirium of cold reason, was challenged by a Spanish nun who rose to superhuman greatness in the enchantment of timeless visions.

Một thế kỷ say mê lư trí lạnh lùng như thế, đang bị thách thức bởi một nữ tu sĩ Tây Ban Nha đă vươn tới mức cao cả siêu phàm trong sự mê đắm của những thị kiến vượt thời gian.

The universal power of the church had been severely shaken. In the year of Theresa’s birth Luther proclaimed his schism. Calvin made of Geneva a second Rome. Henry VIII had founded his own church, and Mary Queen of Scots submitted humbly to the dictates of the heretic John Knox.

The old forms of dogmatic piety had lost much of their rigor under the onslaught of science and other forces of secularization. In defense of Catholicism kings took up arms and popular preachers tried to fortify the faith by threats of punishment and hellish torture in the realm beyond the grave. At the Council of Trent cardinals, bishops and theologians convened in order to settle the question of a new codification of the Catholic dogma. An organized army of trained soldiers of God was led by Ignatius of Loyola into the great decisive battle against the forces of the Reformation. The doctors of the church cited their sacred authorities or tried, by the more timely means of rational proofs of God, to strengthen the old faith.

Đang khi đó quyền lực rộng khắp của Hội Thánh đă bị lung lay mănh liệt. Năm Têrêxa chào đời là năm Luther tuyên bố ly khai với Hội Thánh, Calvin biến Genève thành một Roma thứ hai, vua Henri VIII đă thành lập Hội Thánh riêng, và nữ hoàng Mary của xứ Xcốt-len đă khiêm tốn thần phục những mệnh lệnh của nhà lạc giáo John Knox.

Những h́nh thức đạo đức cổ truyền đă mất đi nhiều sức mạnh do sự công kích dữ dội của khoa học và những thế lực tục hoá khác. Để bảo vệ đạo công giáo, các vua đă cầm khí giới và các nhà giảng thuyết nổi tiếng đă ra sức củng cố đức tin bằng cách đưa ra những lời đe dọa về những h́nh phạt nặng nề ở bên kia thế giới. Các hồng y, giám mục và các nhà thần học đă tập trung tại công đồng Trentô để giải quyết công việc biên soạn một bộ tín lư mới của công giáo. Một đội quân có tổ chức gồm những tinh binh của Thiên Chúa đă được Inhaxiô Lôiôla kéo vào trận chiến quyết định để chống lại các lực lượng của phe Cải cách. Các vị tiến sĩ của Hội Thánh đă trưng dẫn hàng loạt các tác giả có thế giá hoặc dùng một phương tiện hợp thời hơn là lấy lư trí chứng minh Thiên Chúa để củng cố đức tin cổ truyền của Hội Thánh.

St. Theresa wrote down what she had learned in the quiet solitude of her cell, beyond the confusion of time and space, beyond dogma and rational demonstration, beyond her own comprehension and the perception of her senses. She wrote of the visits of her invisible Lord and of His will which He communicated to her in inaudible words.

The declining church derived from it new energies, a new vitality that emanated from the deepest depths of the experience of faith, from the true source of all piety, from direct contact with God.

For the church of this time Christ had come to be merely an allegorical label, an object of the creed and a topic of theological disputes. Through Theresa the church learned once again about Christ as a living reality, about the Christ whom the disciples saw on the road to Emmaus, whom Saul of Tarsus had met on his way to Damascus, the Christ in whom the faith of the church had begun, in whose spirit it had been renewed by St. Francis of Assisi.

2

Thánh Têrêxa đă ghi lại những ǵ chị tiếp thu được trong căn pḥng tĩnh mịch của ḿnh, những điều vượt lên trên những xáo trộn của thời gian và không gian lúc ấy, vượt lên trên tín điều và luận chứng duy lư, vượt lên trên những hiểu biết và tri giác của ḿnh. Chị viết về những cuộc viếng thăm của Thiên Chúa vô h́nh, và về ư định mà Người truyền đạt cho chị bằng những lời vô thanh.

Hội Thánh đang suy đồi đó rút tỉa từ đây những sức lực mới, một sức sống mới xuất phát từ miền sâu xa nhất của kinh nghiệm đức tin, từ nguồn mạch chân thật nhất của kinh nghiệm đạo đức, từ sự tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa.

Đối với Hội Thánh lúc ấy, Đức Kitô chỉ c̣n là một danh hiệu tượng trưng, một đối tượng của tín ngưỡng, và một đề tài của những cuộc tranh luận thần học. Thế nhưng nhờ Têrêxa, Hội Thánh một lần nữa biết về Đức Kitô như một thực tại sống động, đó là Đức Kitô mà các môn đệ đă gặp trên đường về Emmau, mà Saulô thành Tácsê đă thấy trên đường đi Đamát, là Đức Kitô đă khai sinh ra đức tin của Hội Thánh và là nguồn cho thánh Phanxicô Assisi làm mới lại đức tin.

2

vila, where St. Theresa was born in March, 1515, was a little town of old Castile, one of those monuments of stone which had survived into modern times as a reminder of the past.

It lay in the hills of the Sierra de Guadarrama on the banks of the Adaja, and with its heavy walls it had been, through out the Middle Ages, a mighty bulwark of Spanish Christendom against the threatening onslaught of the Moors. Its streets were narrow and winding. Its houses, built of dark stones, had been the homes of knights who slept with their swords at their sides, for they had to be ready, when the tocsin tolled, to ward off the raiding infidels. And in all parts of the town there were churches, monasteries and sacred monuments. There was scarcely a stone which had not been sanctified by martyrdom or miracle. vila was a town of stones and saints. vila cantos y santos, as the saying went.

Avila, nơi thánh Têrêxa chào đời tháng 3 năm 1515, là một thị trấn nhỏ của thành cổ Castilla, một trong những công tŕnh kiến trúc bằng đá c̣n như một chứng tích nhắc nhở lại quá khứ.

Thành này nằm ở vùng đồi núi xứ Sierra de Guadarrama trên bờ sông Adajar. Với những bức tường to lớn, trong suốt thời Trung Cổ, nó từng là thành lũy kiên cố của thế giới Kitô giáo Tây Ban Nha chống lại những cuộc tấn công kinh khủng của người Moor. Đường phố trong thành đều chật hẹp và ngoằn ngoèo. Nhà cửa xây bằng đá đen, ngày trước vốn là dinh cơ của các hiệp sĩ hay ngủ với thanh gươm bên ḿnh, v́ họ phải sẵn sàng đẩy lui những người vô tín ngưỡng đột kích vào thành, mỗi khi có chuông báo động. Chỗ nào trong thị trấn cũng có nhà thờ, tu viện và những đền đài thánh. Hiếm có viên đá nào chưa được thánh hoá bởi máu các vị tử đạo, hay một phép lạ. Avila là một thị trấn của đá và của các thánh. “vila cantos y santos”, như người ta thường nói.

For a hunred years now the tocsin in the spire had not been sounded. Modern warfare with standing armies and mechanized gunfire tactics had rendered knighthood superfluous. The armor of the knights had come to be a fancy dress for tournaments, and the swords at their sides were part of their gentlemen’s attire.

Yet among those who lived behind the heavy walls of the fortressed homes of vila , there were many whose hearts had remained bastions of the past. Theresa’s father, the Castilian nobleman Don Alonso Sanchez de Cepeda, was one of them. In men like him the knightly fervor of faith, founded in a tradition of centuries, had preserved its ancient fighting spirit and assumed a hostile attitude toward those modern trends in which it recognized a new enemy, arising from within the ranks of Christianity itself.

Don Alonso was a man who lived as his forebears had lived, who clung tenaciously to their devout conception of honor, and ruled his house and brought up his children in accordance with the example which their austerity had set. He thought and judged and acted as his forebears had done, and he cherished the books, by which they too had been edified, the books of the saints and the chronicles of medieval heroes.

Một trăm năm nay tiếng chuông trong tháp canh chưa vang lên. Chiến tranh hiện đại với những đội quân thường trực và những chiến thuật dùng súng máy đă làm vai tṛ hiệp sĩ sẽ thành dư thừa. Áo giáp của các hiệp sĩ chỉ c̣n là y phục hóa trang cho những cuộc đấu thương trên ngựa, c̣n gươm đeo bên hông là một phần trong lễ phục nam giới của họ.

Tuy nhiên, giữa đám người sống sau những bức tường kiên cố của thành Avila vẫn có nhiều tâm hồn hoài cổ. Thân phụ Têrêxa, nhà quí tộc gốc Castila Don Alonso Sanchez de Cepeda là một trong số những người đó. Nơi những người như ông, ḷng nhiệt thành trong đức tin của một nhà hiệp sĩ - một đức tin đă được vun đắp trong một truyền thống lâu đời, khiến ông vẫn c̣n giữ được tinh thần chiến đấu ngày xưa và tỏ ra thù ghét những xu hướng mới trong xă hội, coi đó như một kẻ thù mới, xuất phát từ ngay trong hàng ngũ Kitô giáo.

Don Alonso là một người đă sống như các vị tiền bối của ḿnh, khư khư bám chặt cái quan niệm thành kính về danh dự, cai quản nhà cửa và giáo dục con cái một cách nghiêm khắc như tổ tiên đă làm. Ông suy nghĩ, phê phán và hành động y như tổ tiên của ḿnh, đồng thời yêu quí sách vở, sách hạnh các thánh và các sách tiểu sử của các bậc anh hùng thời Trung Cổ, những cuốn đă đào tạo nên các bậc tổ tiên của ông.

Theresa’s mother, Dona Beatriz de Ahumeda, Don Alonso’s young wife in second marriage, was of a different type. The routine of her life, her outward bearing, differed but little from that of her female forebears who, for centuries, had fulfilled the duties of mothers and wives in the fortress homes of vila. But in her waking dreams this beautiful and lively woman left secretly the buttressed town and, freed of all domestic burden, traveled the seven seas, saw distant isles and lands, and lived through all sorts of wordly adventure. Her route through unknown realms was charted for her by those fashionable novels which the printing presses newly set up in Seville, turned out in profusion. Her guide was the “darkly beautiful” knight Amadis of Gaul, whom Cervantes was to dispose of a century later with the deadly weapon of his irony, but who at the time was guiding and misguiding many an adventurous soul. The compiler of the Amadis novels, the Spanish alderman García Ordónez de Montalvo, mastered the art of endlessly spinning out the adventures of his hero. Dona Beatriz, always ailing and more and more frequently confined to her bed, devoured the installments, as they appeared, with avid impatience.

Mẹ của Têrêxa, bà Beatriz de Ahumeda, vợ kế của Don Alonso, lại là mẫu người khác hẳn. Nhịp sống và thái độ bên ngoài của bà không khác lắm với các phụ nữ tiền bối, chỉ biết làm mẹ và làm vợ trong những căn nhà kín cổng như pháo đài ở Avila. Thế nhưng trong những lúc mơ màng, người phụ nữ trẻ đẹp, tràn trề sức sống ấy thường kín đáo bước ra khỏi cái thành tŕ kiên cố này, và thoát mọi gánh nặng gia đ́nh, đi đến năm châu bốn biển, thấy những ḥn đảo xa xăm, và lao vào đủ mọi cuộc phiêu lưu trần thế. Hành tŕnh qua những thế giới xa lạ đó đă được vẽ ra cho bà nhờ những cuốn tiểu thuyết thời thượng mà các nhà in mới thiết lập ở Sevilla tung ra vô số. Người hướng dẫn bà là chàng hiệp sĩ “đẹp một cách bí ẩn” tên là Amadis, người Gaulois, mà một thế kỷ sau văn hào Cervantès đă xử lư bằng cái khí giới châm biếm chết người của ông; thế nhưng vào thời ấy chàng ta lại đang hướng dẫn và hướng dẫn sai đường cho rất nhiều linh hồn thích phiêu lưu. Nhà sưu tập những tiểu thuyết về chàng Amadis, kiêm ủy viên một hội đồng tỉnh, tên là Garcia Ordonez de Montalvo đă khéo léo thêu dệt không biết bao nhiêu cuộc mạo hiểm cho nhân vật của ông. Bà Beatriz hay đau ốm và phải nghỉ trên giường ngày càng thường xuyên hơn, đă ngấu nghiến một cách nóng vội thèm khát những câu chuyện khi chúng xuất hiện từng kỳ trên báo.

Don Alonso, in his library, read himself up into heaven. Dona Beatriz, on her sickbed, read herself out into the world. In space the worlds of their dreams were as different as heaven and earth, but the time in which their souls felt at home was the same: the Middle Ages. Absorbeb in the Flos Sanctorum devout Don Alonso looked up to the heaven of medieval sainthood, and the world through which Beatriz traveled, in pursuit of the adventures of Amadis, was by no means the world of the dawning century, which will of conquest and thirst of knonwledge had begun to explore; it was a world filled with frightening and alluring adventures, dangers of travel, monsters of the sea, conflicts of love, exactly as it had been built up in the imagination of medieval minds.

Don Alonso observed the custom of his fathers when he read every night, for the edification of his family, from his stories of the saints. Dona Beatriz indulged merely her inclination when she told her children, in the absence of their father, about the newest feats of her admired hero.

The edifying stories of the father and the entertaining stories of the mother formed Theresa’s awakening imagination to the same extent and marked her character with a certain ambivalence in which heavenly aspirations were combined with the interests of the world.

Như thế trong thư pḥng, Don Alonso đọc để bay lên chín từng trời; c̣n trên giường bệnh bà Beatriz đọc để ra khỏi nhà và đi vào thế giới bên ngoài. Xét về không gian th́ thế giới những giấc mơ của hai người khác nhau một trời một vực, nhưng xét về thời gian họ cảm thấy dễ chịu th́ đều là thời Trung Cổ. Miệt mài đọc “Hạnh các thánh”, Alonso ngưỡng mộ thiên đàng nhiệt thành thánh thiện của thời trung cổ. C̣n thế giới mà bà Beatriz đang ngao điều, khi đuổi theo những cuộc phiêu lưu của Amandis, chắc chắn không phải là thế giới của thế kỷ mới, nơi ư chí chinh phục và sự khao khát kiến thức đă bắt đầu thăm ḍ khảo sát. Đó là một thế giới đầy dẫy những cuộc mạo hiểm mê ly rùng rợn, với những nguy hiểm trên đường, những quái vật dưới biển, những cuộc tranh chấp v́ yêu đương, đúng hệt như những người thời Trung Cổ đă vẽ vời tưởng tượng.

Alonso giữ tập tục của cha ông ḿnh là mỗi tối đọc hạnh các thánh cho gia đ́nh để giáo hoá gia đ́nh. C̣n bà Beatriz th́ thích thú khi kể cho con cái những kỳ tích mới nhất của anh hùng Amadis, mỗi khi chồng bà đi vắng.

Những câu chuyện giáo hoá của cha và những chuyện giải trí của mẹ đă cùng tạo nên trí tưởng tượng linh hoạt cho Têrêxa, và đă làm nên cá tính khá mâu thuẫn của chị: những khát vọng thiên đàng kết hợp với những quan tâm thế gian.

Theresa was a child of unusually strong imagination. She could transform her entire environment in accordance with her own world of fancy. The colonnaded patio, which was by tradition the center of all the activities of a Spanish household, had to comply with the quickly changing whims of the seven years old girl, and became, in constant shifts of scenery, now the surging sea or distant land of fancy of Amadis of Gaul and now the field of battle, where pious knights fought valiantly against the infidels, or the hermitage and places of sacrifice of holy martyrs. And her playmates were crews or rulers or fighters for the faith, sea monsters, heathen barbarians or benevolent fairies.

Theresa’s inexhaustible skill in inventing new games, her vivacity and boyish boldness, made her the natural leader of her numerous brothers and cousins. She was always the “darkly beautiful” knight, the victorious hero of the faith, the good fairy, or the saint who died a martyr’s death, tied to a column in the court.

Têrêxa là một đứa trẻ có óc tưởng tượng mạnh kỳ lạ. Cô có thể biến cảnh vật xung quanh cho phù hợp với thế giới tưởng tượng của cô. Sân trong dinh thự, với nhiều hàng cột vốn là nơi tập trung các sinh hoạt các gia đ́nh Tây Ban Nha; nay đến lượt sân ấy phải tuân theo những sở thích hay thay đổi của cô gái 7 tuổi này: khi là biển dậy sóng hay dải đất xa xăm mà hiệp sĩ Amadis đă phiêu lưu, khi là băi chiến trường nơi đó các hiệp sĩ đạo đức đang chiến đấu với những người vô tín ngưỡng, hay là nơi hiu quạnh, nơi đổ máu của các thánh tử đạo. Các bạn chơi của cô khi th́ đóng vai đoàn thủ thủy, các quan quyền, những chiến sĩ bảo vệ đức tin, khi th́ làm thủy quái, làm quân mọi rợ vô đạo hay những vị tiên cứu nhân độ thế.

Nhờ có tài bịa ra những tṛ chơi mới nhiều vô kể, nhờ sự hoạt bát và táo bạo đầy nam tính, cô đă trở thành người lănh đạo đương nhiên của đám anh em ruột thịt và bà con đông đảo. Cô luôn luôn là “nhà hiệp sĩ đẹp một cách bí ẩn”, là vị anh hùng chiến thắng lẫy lừng của đức tin, là bà tiên tốt lành, là vị thánh tử đạo bị trói ở chân cột trong sân triều đ́nh.

Until one day Theresa’s childish fancy removed the last remaining barrier between reality and play... Then she dicided to leave home secretly, together with her favorite brother Rodrigo, who was her elder by a few years, and to go to the land of the Moors - which, she was sure, lay some where outside the city gates of vila - to suffer at the hands of the ruler of the infidels the death of a martyr.

The two runaways succeeded in leaving the house unnoticed. They got outside the city walls and took the road to Salamanca. Dusk was falling, and the little feet were painfully dragging along. Theresa would not give up. In her imagination there was no distance that could not be covered. Just in back of the next bush, the white castle of the prince of the Moors would loom into view. But instead of the castle of her imagination the next bush brought the children surprisingly face to face with reality which came riding along on horseback in the guise of a cousin of their father’s. He was on his way home from his fields which lay outside the city limits, and when he heard of the adventurous plan of the children, he reproved them severely and took them safely back to their worried parents.

Rồi tới một ngày nọ, óc tưởng tượng c̣n trẻ con của Têrêxa đă dẹp bỏ rào cản cuối cùng giữa thực tế và tṛ chơi... Cô quyết định bỏ nhà cách kín đáo, cùng với người anh mà cô thích nhất là Rodriguez, hơn cô vài tuổi, để đi đến nơi lănh thổ của người Moor – mà cô tin chắc rằng nó nằm ở một chỗ nào đó ngoài cổng thành Avila – để chịu tử đạo do tay tên thủ lănh bọn người vô đạo đó.

Cả hai đă trốn được khỏi nhà, không bị ai phát giác. Hai em ra khỏi thành và lên đường tới Salamanca. Màn đêm đang buông xuống, và những bàn chân nhỏ bắt đầu kéo lê đau đớn. Thế nhưng Têrêxa sẽ không bỏ cuộc. Trong trí tưởng tượng của cô, không có khoảng cách nào mà không thể vượt qua. Ngay phía sau bụi cây kế tiếp toà lâu đài trắng của ông hoàng dân Moor sẽ ló dạng. Nhưng thay v́ ṭa lâu đài của trí tưởng tượng, bụi cây kế tiếp lại mang các em đến ngay trước mặt thực tế. Thực tế ấy đang cỡi ngựa tiến tới và có bề ngoài của một người anh em bà con của cha. Ông đang trên đường từ đồng ở ngoại thành về nhà, và khi nghe kế hoạch phiêu lưu của hai em, ông đă la mắng thậm tệ và mang các em về an toàn cho cha mẹ đang bồn chồn lo lắng.

After this unsuccessful venture Theresa invented a new game about nuns and monks as a substitute for “Spaniards and Moors”, which had so far been her favorite game. The colonnade of the patio was the cloister. There was a chapel in the center of the court. On both sides were the cells in which the playmates were sitting, the nuns to the right, the monks to the left. They rejected all nourishment and prayed and were silent.

At the age of ten Theresa was a slender, somewhat awkward looking girl. with deep black eyes and a serious expression which offset the friendly smile of her dimples in cheeks and chin. She had made a vow that she would actually become the nun whom she now pretended to be in her games, and that she would induce her brothers and cousins by her example to embrace likewise a spiritual life of world abnegation.

Sau chuyến mạo hiểm thất bại đó, Têrêxa nghĩ ra một tṛ chơi mới liên quan đến các tu sĩ, như để thay cho tṛ chơi “người Tây Ban Nha và người Moor” mà lâu nay cô vẫn ưu thích. Hàng cột ở sân nhà cô sẽ là khu nội cấm. Có một nhà nguyện ở chính giữa sân. Hai bên sân sẽ là những căn pḥng nhỏ cho các bạn cô ngồi, đám con gái làm nữ tu ngồi bên phải, đám con trai làm nam tu ngồi bên trái. Chúng không chịu ăn uống ǵ hết mà chỉ cầu nguyện và im lặng.

Khi lên 10 tuổi, Têrêxa là một cô bé cao gầy, có vẻ vụng về lúng túng, đôi mắt đen nhánh, vẻ mặt nghiêm trang, ngược lại với nụ cười thân thiện với những lúm đồng tiền. Cô đă thề rằng sẽ đi tu như cô thường đóng vai nhà tu trong các tṛ chơi, cô sẽ làm gương để lôi kéo anh chị em từ bỏ thế gian.

At the age of fourteen, however, she was a precocious young lady and smiled condescendingly at the pious little thing she had been. Her boyish slender body had lost its angular awkwardness and had developed the soft roundness of feminine forms. Her curly dark hair, her straight and almost reddish brows and her large pitch-black eyes, the seriousness of which seemed now hardly able to withstand the roguish mockery of her dimples, imparted to her youthful face a peculiar charm which it was hard to resist. her inborn boldness had lost its boyishness and had developed into the quick and ready vivacity of a young girl whose beauty captivated everybody she met. When she laughed, and she liked to laugh and laughed often, her cheerfulness was of such springlike purity, that even the most sullen could not help chiming in.

At the age of seven Theresa had longed for a martyr’s death, but at the age of fourteen she could not get too much of life, which meant to her to be courted and admired. At the age of ten she had chosen the nun’s garb as an attire for the rest of her life, for she wanted to please God. Now she had no thought but to increase her beauty by finery and frills, for she wanted to please the world. She had a liking for orange and wore it whenever she could; for oranges had just been introduced in Europe and were still regarded as a luxury reserved for the fastidious taste of the few.

Tuy nhiên khi được 14 tuổi, cô trở thành một thiếu nữ phát triển sớm và cô cười khỉnh vào cái con bé đạo đức là chính cô trước kia. Dáng cao gầy như con trai của cô đă mất đi vẻ lóng ngóng cứng ngắc, để phát triển thành những đường cong mềm mại của con gái. Mái tóc quăn đen tuyền, đôi lông mày thẳng màu hung, đôi mắt to hạt huyền, trang nghiêm. Đôi mắt ấy giờ đây như không chịu đựng nổi sự chế giễu tinh quái của mấy lúm đồng tiền, khiến cho khuôn mặt trẻ trung của cô có một vẻ duyên dáng độc đáo khó cưỡng lại được. Tính táo bạo bẩm sinh của cô nay không c̣n nét con trai nữa, nhưng đă trở thành sự hoạt bát nhanh nhẹn của một thiếu nữ có sắc đẹp thu hút hết mọi người. Khi cô cười, mà cô thích cười và hay cười lắm, vẻ tươi vui hồn nhiên của cô trong như suối, đến độ cả những ai rầu rĩ nhất cũng không thể không cười theo.

Lúc 7 tuổi, Têrêxa đă mong được tử đạo, nhưng khi lên 14 cô cho là chưa được hưởng đời bao nhiêu, nghĩa là cần phải được tán tỉnh và ngưỡng mộ. Lúc 10 tuổi cô đă chọn quần áo của nữ tu để tô điểm quăng đời c̣n lại cho vui ḷng Chúa. Thế nhưng nay th́ cô không nghĩ ǵ khác ngoài việc làm sao cho ḿnh thêm đẹp với mấy đồ trang sức và điệu bộ ẻo lả, cô muốn chiều theo ư thế gian, cô rất thích màu cam, và khi nào được cô đều mặc áo màu ấy. Bởi v́ lúc đó cam mới nhập vào châu Âu, và được coi là món ăn xa xỉ chỉ dành cho thiểu số kén ăn.

Her vivid imagination was applied now to the invention of ever new pranks and distractions. The patio was no longer a battleground for fighters of the faith; it had become the playground of handsome caballeros, true and real and not just the product of Theresa’s wishful fancy. She had matured into womanhood and for a while her life pursued a normal course.

The strict Spanish etiquette, which tolerated no contact between young people of different sex unless they were relatives, was still in force at this time. But it had come to play more and more the role of a funny old chaperone whom the young in her charge managed to fool at every turn. All the handsome bachelor caballeros of vila discovered suddenly that they were somehow related to Theresa and vied with each other for the first dance with their beautiful “cousin”, for a smile from her or for an encouraging glance.

Bây giờ óc tưởng tượng mạnh mẽ của cô dồn vào việc nghĩ ra những tṛ cợt nhả và tiêu khiển kỳ lạ chưa từng có. Sân nhà cô không c̣n là băi chiến trường của các hiệp sĩ bảo vệ đức tin, nhưng là sân chơi của các chàng caballeros (quư tộc) đẹp trai, những caballeros thật sự chứ không chỉ là sản phẩm tưởng tượng của Têrêxa. Cô đă trở thành phụ nữ, và có một thời gian cuộc đời cô đă đi theo một diễn tiến b́nh thường như bao phụ nữ khác.

Phép xă giao nghiêm nhặt của Tây Ban Nha hồi đó không cho phép thanh niên khác giới gặp nhau, trừ khi họ có họ hàng với nhau. Tập tục đó vẫn c̣n hiệu lực trong thời đại của Têrêxa. Thế nhưng lúc đó tập tục này đă trở thành “một bà già kỳ cục chuyên đi kèm các thiếu nữ nhưng lúc nào cũng bị các cô ấy đánh lừa”. Tất cả các caballeros độc thân và đẹp trai ở Tây Ban Nha bỗng khám ra ḿnh có bà con với Têrêxa và v́ thế giành nhau để nhảy với “cô em họ” xinh xắn ấy bản nhạc đầu tiên, giành nhau để được cô mỉm cười hay liếc mắt đưa t́nh.

The pious little girl had attained perfect mastery in the art of distributing promising looks to each and every contestant, until one day she met the “cousin” who was hence-forth to have an exclusive claim to all her looks and all her smiles. This was the beginning of the first love of the much courted young beauty, and it was quite in accord with the model of the times.

In the sixteenth century love had ceased to be merely a romantic dream of bliss. It had come to be an extremely real affair. The guardian angel of Theresa’s first love was not a benevolent fairy but just an older cousin of a less well-to-do collateral line of the Cepeda family. This cousin knew more about life than Theresa and was well-versed in the business of love. Now she took charge of smuggling the first love letters of Theresa’s admirer past Don Alonso’s vigilance into his fortressed home. She delivered Theresa’s replies and made arrangements for a sercret rendezvous.

Cô bé đạo đức ngày nào nay đă thành thạo trong việc ban phát những cái nh́n đầy hứa hẹn cho mỗi chàng công tử. Rồi cuối cùng cô đă gặp được “người bà con” ưng ư, một người từ nay độc quyền trên cái nh́n và nụ cười của cô. Đây là khởi sự của mối t́nh đầu đối với cô gái được nhiều người săn đuổi, và đó cũng là chuyện b́nh thường trong thời ấy.

Vào thế kỷ 16 t́nh yêu không c̣n là giấc mơ hạnh phúc lăng mạn nữa, nhưng đă trở thành một vấn đề hết sức thực tế. Thiên thần bảo vệ mối t́nh đầu của Têrêxa không phải là một vị tiên từ tâm rộng lượng, mà là một người bà con lớn tuổi hơn cô, thuộc về một nhà ít giàu có hơn trong gia tộc Cepeda. Người chị bà con này biết đời nhiều hơn Têrêxa và rất sành chuyện yêu đương. Cô ấy chịu trách nhiệm chuyển những lá thư t́nh của người yêu Têrêxa vào nhà ông Alonso, không để lọt mắt ông, và trao cho phía ấy những thư hồi âm của Têrêxa, đồng thời dàn xếp cho hai bên bí mật gặp nhau.

Strong walls and Don Alonso’s old-time strictness guarded the Cepeda home against the aberrations of the coming age. And now the alien force of modern times made ready to sow its seed right in the soil of the Cepeda patio. Don Alonso’s daughter was affected by the new spirit and in carefree exuberance and joy of life surrounded herself with a group of young people whom the splendors of worldliness held under their spell.

In the patio of the Cepedas the new century danced the lavolta, that same dance which the youth of Seville, drunk with life, danced at the golden gate. In Don Alonso’s home the new era frolicked and trifled, for it was tired of the solemnity of the past. A new generation flirted and dallied and was not worried by threats of hellfire and retribution. The faces of all these young beauties of vila glowed in the same unnatural crimson which the women of Seville applied to their cheeks when they went to the Golden Gate to welcome the ships returning with men and gold.

Nhờ tường lũy kiên cố và sự nghiêm nhặt cổ xưa của Don Alonso mà gia tộc Cepeda đă tránh được những thói suy đồi của thời đại. Thế nhưng nay sức mạnh ngoại lai của thời đại đang chực gieo mầm vào ngay trong sân nhà Cepeda ấy. Cô con gái của Don Alonso đă nhiễm tinh thần mới: trong sự cởi mở tự do và thích thú, lúc nào quanh cô cũng có đám thanh niên thiếu nữ đă bị những kẻ yêu chuộng thế gian đầu độc.

Trong sân nhà Cepeda, thế hệ trẻ đang nhảy khúc lavolta, vũ khúc mà thanh niên ở Sevilla say sưa với cuộc sống đă nhảy ở cổng thành. Ở nhà Don Alonso thế hệ mới đang vui đùa cợt nhả v́ đă chán ngán vẻ trang trọng của quá khứ. Một thế hệ mới đang tán tỉnh và ve văn, không sợ chi những lời đe dọa về hỏa ngục và những h́nh phạt. Khuôn mặt của các thiếu nữ ở Avila đỏ bừng lên một cách không tự nhiên, đó chỉ là chút phấn đỏ mà các phụ nữ ở Sevilla thường thoa lên má mỗi khi tới Cổng Vàng để đón các đoàn tàu trở về mang theo đàn ông và vàng bạc.

Teresa de Cepeda, the daughter of Don Alonso, was about to sell her virtue to the licentious new age, which had penetrated the inner court of the Cepeda stronghold in the guise of a relative and guest. But before the time arrived which the cousin had set for the first clandestine meeting, Theresa’s strict training won the upper hand, and frightened by her own recklessness, she confessed everything to her father.

At this time Theresa’s ailing mother was no longer alive. Don Alonso’s eldest daughter Maria, who might have guided her young sister with motherly advice, was about to be married and had her own problems. There was no mature woman in the fortress home of the Cepades, who could have helped a young girl to avoid all the danger and pitfalls of the difficult years of adolescence. Don Alonso decided therefore to entrust the care of his daughter to the Augustinian nuns in vila. Their convent school was one of the few remaining institutions in which medieval discipline and rigor continued to prevail. Forty nuns were vigilantly guarding the well-being and virtue of the pupils attending their shool.

Têrêxa Cepeda, con gái của Alonso, sắp sửa bán đức hạnh cho thế hệ phóng túng mới chào đời ở đây, thế hệ đó đă len lỏi vào được sân trong của pháo đài nhà Cepeda, núp dưới danh nghĩa là anh em bà con, là khách mời. Thế nhưng trước khi người chị họ dàn xếp cho hai bên lén lút gặp nhau lần đầu, th́ sự huấn luyện nghiêm nhặt mà Têrêxa đă lănh nhận trước đây bỗng chỗi dậy: hoảng sợ trước sự liều lĩnh của ḿnh, cô đă thú nhận tất cả với cha.

Lúc này, người mẹ hay đau ốm của cô không c̣n sống nữa. Cô con gái lớn của Alonso là Maria, người có thể hướng dẫn em gái ḿnh bằng những lời khuyên của một người mẹ, lại sắp sửa lập gia đ́nh và đă có những vấn đề riêng của ḿnh. Không c̣n phụ nữ trưởng thành nào trong nhà Cepeda có thể giúp cô thiếu nữ kia tránh những nguy hiểm và cạm bẫy của tuổi mới lớn. V́ thế Alonso quyết định trao con gái ḿnh cho các nữ tu ḍng thánh Âu Tinh ở Avila chăm sóc. Trường ḍng này là một trong ít cơ sở c̣n duy tŕ được kỷ luật và sự nghiêm nhặt của thời Trung Cổ. Bốn mươi nữ tu luôn canh chừng sự ấm no hạnh phúc của các học sinh trong trường.

The artificial crimson red was wiped from Theresa’s face. Her orange-colored dresses were replaced by the plainest convent garb. The dance-trained grace of her gait had to be harnessed to the solemn measure of processions around the cloister. Instead of playful flirtations, there was to be prayer and devotion, and the edifying stories of the lady superior were the only substitute for the delightful little notes from the cousin and the gossipy stories of her friends. At first Theresa felt deeply unhappy in her pious prison.

Chút phấn hồng giả tạo trên mặt Têrêxa đă được chùi đi. Thay vào những áo đầm màu cam, bây giờ cô mặc y phục giản dị nhất của tu viện. Dáng đi yểu điệu rất đẹp để khiêu vũ nay phải sửa lại cho trang nghiêm để nhịp nhàng bước trong đoàn kiệu chung quanh nhà. Thay vào những giờ tán tỉnh ve văn, là cầu nguyện, đọc kinh. Thay vào những lá thư tuy ngắn nhưng đem lại sảng khoái do người chị họ chuyển cho, và những chuyện ngồi lê đôi máchcủa bạn bè, là những câu chuyện giáo hóa của bà bề trên. Thoạt đầu Têrêxa cảm thấy hết sức khốn khó trong “nhà tù đạo đức” đó.

Her lively and spirited nature, however, could not go on for ever in this mood of downhearted dejection, and before long she managed to make the best of what could not be changed. She learned to wear her plain convent garb with good grace. She no longer resented the solemn processions. She prayed as she was told to do. And she listened patiently to the edifying stories of the superior. The charm of her cheerful nature had not deserted her. It disarmed everyone around her and drew from the sternest face, from the most tightly closed lips, a friendly word or an encouraging smile.

After a few weeks Theresa was the favorite of the Augustinian nuns, she was a ray of light in the somber halls of the convent. And after the first year was over, as the days and weeks of the second year went by, when the end of her term in the convent approached and she was soon to return to the world, the good nuns made use of every kind of pious stratagem to induce Theresa to take the veil and stay with them.

Tuy nhiên, vốn tính linh hoạt và hiếu động cô không thể sống trong t́nh trạng chán ngán thất vọng ấy măi. Không bao lâu cô đă tận dụng được những ǵ không thể thay đổi được trong hoàn cảnh của ḿnh. Cô đă biết mặc y phục của nhà tu một cách duyên dáng dễ coi. Cô không c̣n khó chịu với những cuộc rước kiệu long trọng quanh tu viện nữa. Cô đă cầu nguyện được như người ta dạy và đă biết kiên nhẫn ngồi nghe bà bề trên đọc những câu truyện giáo dục. Vẻ duyên dáng tự nhiên không biến mất nơi cô, nhưng nó tiếp tục làm cho mọi người chung quanh phải hiền hoà, ngay cả những bộ mặt nghiêm nghị nhất, những đôi môi mím chặt nhất cũng phải nở nụ cười khích lệ và thốt lên lời thân ái khi tiếp xúc với cô.

Sau ít tuần lễ Têrêxa đă trở thành học tṛ cưng của các nữ tu ḍng Âu Tinh. Cô là một tia sáng loé lên trong hành lang tăm tối của tu viện. Năm thứ nhất kết thúc và những ngày tháng của năm thứ hai trôi qua, khi cô sắp măn hạn học tập ở tu viện và chuẩn bị vào đời, th́ các nữ tu đă dùng mọi mưu mẹo đạo đức để lôi kéo cô xin đội lúp và ở lại với họ.

But Theresa planned nothing of the sort. In all her docility she was only waiting for the moment when she might throw off the oppressive convent garb and slip back into a worldly dress and a wordly life. She longed and prayed for the day when the constant prayers would be over and she could take up again her uniterrupted life of an admired beauty with dance and flirtation.

“I was most averse to becoming a nun”, she confessed at a later time and added that the mere thought of it had filled her with disgust. It was true, she had grown fond of the convent, but only as one may grow fond of a traveler’s rest along one’s road. Her home was out in the world and all she intended to do right now was to be patient and wait until her apprenticeship was over and she could return to her life among people.

Thế nhưng Têrêxa không hề có ư định đó. Cô ngoan ngoăn học hành là để chờ ngày có thể cởi bỏ lớp áo ḍng khắc khổ này và mặc lại những y phục trần thế, trở về với cuộc sống bên ngoài. Cô hằng khao khát và cầu mong cho sớm tới ngày cô không c̣n phải đọc kinh liên tục nữa, có thể trở lại với địa vị của một giai nhân cả ngày chỉ biết khiêu vũ và tán tỉnh.

“Lúc đó tôi rất ghét làm nữ tu”, sau này cô đă thú nhận như thế và c̣n thêm rằng chỉ nghĩ tới chuyện đó thôi cô đă thấy chán ngán lắm rồi. Thật vậy, nếu có thích tu viện th́ bất quá đó cũng chỉ như một lữ khách vui thích với một chỗ dừng chân bên đường. Nhà của cô ở bên ngoài kia, giữa thế gian, và tất cả những ǵ cô cố gắng làm bây giờ chẳng qua chỉ là kiên nhẫn chờ đợi cho qua thời gian tập sự và trở về với cuộc sống, với biết bao người khác.

Then suddenly this life, which was about to become that of an average Spanish dona, was cut short, and the life of a saint continued in its stead. It did not begin in a flood of supernatural light, nor in heavenly elation, nor in joyous exuberance; it began in a tremendum, in “something to be trembled at”; it began in the darkness of night, in deadly weakness, in helpless moaning and unbearable pain.

Theresa had just completed her seventeenth year. Until then she had always been a healthy girl of even disposition. She was full of plans for a happy future, and since her days at the convent school were about to be over, she attended to her duties with redoubled zeal.

Thế nhưng chính khi cô chuẩn bị bước vào cuộc sống của một phu nhân Tây Ban Nha trung lưu, th́ bỗng nhiên cuộc sống ấy như bị cắt đứt để tiếp tục bằng cuộc sống của một thánh nhân. Cuộc sống thánh nhân ấy không ùa đến trong một luồng ánh sáng siêu nhiên hay trong một phút hoan hỉ cực lạc của thiên đàng mà lại bắt đầu trong nỗi sợ sệt kinh hoàng, trong run rẩy, tối tăm, yếu đuối, rên rỉ và đau khổ cực độ.

Lúc ấy Têrêxa vừa tṛn 17 tuổi. Cho tới giờ cô vẫn là một thiếu nữ khoẻ mạnh, tính khí b́nh thản. Cô xây đủ kế hoạch cho một tương lai hạnh phúc, và v́ sắp măn hạn sống ở tu viện, cô đă chuyên chăm làm các bổn phận một cách hăng hái gấp đôi.

One day, in the midst of her usual routine, she was suddenly overwhelmed by illness. It began in a fit of unspeakable weakness; she could hardly keep on her feet. Then a piercing pain cut through her chest, spreading swiftly to the pit of her stomach, the neck and limbs, and finally through her entire body. She thought she must die then and there. Một ngày kia, đang khi làm các việc thường nhật, th́nh ĺnh cô ngă bệnh nặng. Nó bắt đầu bằng một cơn suy nhược tồi tệ làm cô không đứng lên được. Rồi một cơn đau nhói cắt qua ngực, lan nhanh tới đáy bao tử, cổ, tứ chi, và cuối cùng đến toàn thân. Cô nghĩ ḿnh chắc chết ngay lúc ấy.
 

There she lay, a wretched creature, shaking with pain and trying desperately to escape its cruel clutches. Her face was flaming red; her breath came short and panting. The life in her body seemed to be ready to throw evereything into a desperate final stand. Mumbled words, not articulated under conscious control, came from her mouth; then nothing but painful groans. The nuns were certain that the end had come.

Cô nằm đó, một sinh vật thảm hại, đang rung lên trong cơn đau và cố gắng một cách tuyệt vọng để thoát khỏi nanh vuốt dă man của cơn đau. Mặt cô đỏ rực lên, hơi thở dồn dập và ngắn lại. Sức sống trong thân thể cô như sẵn sàng ném tất cả mọi thứ vào chỗ yên nghỉ cuối cùng và tuyệt vọng. Những lời nói lắp bắp, không rơ ràng phát ra từ miệng cô dù cô vẫn tỉnh táo. Sau cùng người ta chẳng nghe thấy ǵ nữa ngoài những tiếng rên rỉ đau đớn. Các nữ tu trong nhà tin chắc rằng giờ chết của cô đă tới.
But it was only a first attack. A few minutes later the pains subsided as suddenly and unexpectedly as they had come.

The tenseness of her face was relaxed. Her eyes shone brightly. Her breath was quiet as before. Her cheeks had again their normal color. Theresa got up. She spoke as usual. She could take up again her daily routine, which the sudden seizure had interrupted.

Nhưng đó mới chỉ là cơn đầu tiên. Ít phút sau những cơn đau giảm xuống cũng đột ngột như khi khởi phát vậy.

Sự căng thẳng trên nét mặt cô dịu xuống. Mắt cô sáng rực. Hơi thở trở nên nhẹ nhàng như trước. Đôi má đỏ hồng trở lại. Têrêxa chỗi dậy, nói năng như trước. Cô đă có thể bắt đầu lại công việc hằng ngày đă bị gián đoạn do cơn đau đột ngột kia.

On the surface evereything followed again its normal course. But in her heart Theresa could find no rest. The memory of the awful experience haunted her. She was frightened by the mere thought that at any time and anywhere her forces might leave her again, that her body might again be turned into a bundle of pain, and that the world around her might again be severed from her senses. The light of day was no longer what it had been. It carried a lining of darkness. And over all her plans for future happiness and joy, there hovered the constant danger of a renewed attack. Bề ngoài mọi sự như đă trở lại b́nh thường. Tuy nhiên tâm hồn cô không chút nào yên. Kư ức về kinh nghiệm kinh khủng ấy ám ảnh cô. Cô rùng ḿnh khi nghĩ rằng bất cứ lúc nào và ở đâu cô cũng có thể bị lấy hết sức lực, thân thể cô có thể rơi vào t́nh trạng đau đớn trước đây, giác quan của cô có thể bị cắt dứt với thế giới chung quanh. Ánh sáng ban ngày bây giờ không giống như trước nữa. Nó ẩn chứa bóng tối. Tất cả những dự tính của cô về một tương lai hạnh phúc lúc nào cũng bị đe dọa bởi một nguy cơ là cơn đau có thể trở lại.
Her fears were justified. After a while the attack did come again. And again and again. And every time it overwhelmed her with the same suddennes. Then Theresa knew that she had fallen victim to a malicious disease.

But precisely this dreadful illness was to be the first phase of her holiness. Her torment was the herald of undreamed-of bliss. Theresa had to suffer with the sick and the ailing before she could be one of God’s elect.

Điều cô lo sợ là đúng. V́ sau một thời gian, cơn đau đă tái phát. Rồi trở đi trở lại nhiều lần, lần nào cũng đột ngột áp đảo cô. Khi ấy Têrêxa biết ḿnh đă trở thành nạn nhân của một chứng bệnh quái ác.

Thế nhưng chính chứng bệnh kinh khủng ấy đă khởi đầu cho cuộc đời thánh thiện của cô. Những đau đớn tiên báo một hạnh phúc không thể ngờ tới sau này. Têrêxa phải đau khổ với người đau ốm bệnh tật trước khi trở thành một người ưu tuyển của Thiên Chúa.

Just as in the lower processes of nature violent tremors run through the earth to announce the beginning of volcanic up heavals; as the tide goes out before it comes in; as labors precede birth; so, in accordance with the same mysterious law, physical convulsions are often the beginning of spiritual upheavals that mark the start of a higher form of existence; so is weakness the receding tide in the lives of men and announces the coming of the high tide of God; and so, in saintly and secular lives, sainthood and greatness are often born through the labors of pain and disease. The great poet Novalis asked: “Is not illness often the beginning of the best in men?” Y như trong, quá tŕnh ở cấp thấp hơn của tự nhiên, những chuyển động dữ dội dưới đất là điềm báo núi lửa sắp phun; như nước thủy triều trào ra trước khi thu về; như người mẹ đau đớn trước khi sinh con. Cũng thế, theo đúng định luật huyền bí đó, những cơn co giật của cơ thể thường là khởi đầu cho những thay đổi đột ngột về mặt tâm linh, đánh dấu một h́nh thái mới của cuộc sống bắt đầu. Sự yếu kém về thể lực tựa như thủy triều của sự sống con người đang rút đi để thủy triều của Thiên Chúa đổ tới. Trong cuộc đời thánh thiện và phàm tục, sự thánh thiện và vĩ đại của con người thường đến sau những cơn đau và vất vả của người trong cuộc. Thi hào Novalis đă từng nói: “bệnh tật không phải là khởi đầu của tinh hoa con người sao?”.
Like Theresa, the carefree and cheerful merchant’s son Giovanni Bernardone was torn by illness from his worldly entanglements and led on his way to become il Poverello, St. Francis of Assisi. The knight Inigo de Onez, whose life had been dedicated to the vanities of the world, recognized, in the course of his painful reconvalescence, that worldly ambitions are worthless and exchanged his secular aims for the heavenly aims of his new life through which he became St. Ignatius of Loyola.

Like Theresa, many a saint prepared himself in the utter darkness of a night of illness and pain for his journey along the shining road to heavenly glories. The Apostle Paul, who saw the Lord in a vision, bore his infirmities as a "thorn in the flesh". A sudden attack of illness had felled the persecutor of the Christians, Saul, on his way to Damascus. Then the Lord had appeared before him. Stricken with blindness he lay in his room in an inn by the roadside. And suddenly the light shone forth from within him, and the blind Saul became a seeing Paul.

Cũng như Têrêxa, cậu con trai phóng túng và ăn chơi của thương gia Giovani Bernadone đă nhờ bệnh tật mà thoát khỏi những vướng mắc trần tục và trở thành “người nghèo của Thiên Chúa”, thành thánh Phanxicô Assisi. Hiệp sĩ Inigo Onez, vốn là người đă dâng cả đời cho ṿng danh lợi trần gian, khi nằm trên giường dưỡng bệnh đă nhận ra những tham vọng trần gian thật vô nghĩa và đă đổi những mục tiêu trần tục của ḿnh để lấy những mục tiêu cao cả cho đời ḿnh, nhờ đó trở thành thánh Inhaxiô Lôiôla.

Cũng như Têrêxa, nhiều vị thánh đă chuẩn bị hành trang ngay trong đêm tối khôn ḍ của bệnh tật và đau khổ, t́m ra con đường sáng để đi tới vinh quang thượng giới. Tông đồ Phaolô người đă từng thấy Chúa trong một thị kiến, cũng bị bệnh tật hành hạ như một “mũi gai đâm vào da thịt”. Một cơn bệnh đột ngột đă quật ngă Saulô; kẻ bách hại các Kitô hữu trên đường đi Đamát. Chúa đă hiện ra trước mặt ông. Mắt mù hẳn đi, ông phải nằm lại ở một quán trọ bên đường. Rồi ánh sáng như vọt ra từ trong con người ông, và Saulô mù ḷa đă trở thành một Phaolô sáng suốt.

St. Hildegard of Bingen, Theresa's great spiritual ancestor in the twelfth century, wrote once: "For almost a lifetime I struggled against the visions the Lord sent me, until finally the divine scourge forced me down on my sickbed. Then, urged by much suffering, I began to write, and as I proclaimed my vision, I regained my strength and arose from my bed."

For many a great prophet, reformer and founder of a new faith pain and suffering were a great gift of divine grace. Mohammed, the prophet who conquered heaven for the infidels, suffered like Theresa throughout his entire life with the scourge of epileptic seizures. But what had begun as unbearable torture, was at last transformed into a blessing, and henceforth every new attack bestowed upon him new revelations and a new grace. A very similar story might be told about Cromwell, Luther, and many others.

Thánh Hildegard ở Bringen, vị tiền bối của Têrêxa về mặt tâm linh sống vào thế kỷ 12, đă có lần viết: “Hầu như suốt đời, tôi đă chiến đấu chống lại những thị kiến của Chúa gởi đến cho tôi, măi đến khi Thiên Chúa trừng phạt bằng cách quật ngă tôi xuống giường, lúc đó, v́ đau đớn quá, tôi bắt đầu viết, và khi công bố thị kiến ấy cho người khác, tôi đă lấy lại sức lực và chỗi dậy được khỏi giường bệnh”.

Đối với nhiều ngôn sứ lớn, nhiều nhà cải cách và sáng lập tôn giáo, đau khổ và vất vả là một món quà lớn Thiên Chúa ban cho họ. Như Môhamét, vị ngôn sứ đă chinh phục trời cao cho đám người vô tín ngưỡng, đă chịu đau khổ như Têrêxa suốt cả đời với chứng bệnh động kinh. Thế nhưng những ǵ bắt đầu như một tai họa không thể chịu nỗi, th́ cuối cùng lại biến thành nguồn phúc, và từ đó cứ mỗi dần lên cơn động kinh ông lại thấy như được cho thêm những mặc khải mới và ân sủng mới. Trường hợp của Cromwell, Luther và nhiều vị khác nữa cũng tương tự như vậy.

In times, which conceived of greatness as greatness in faith, illness produced saints and prophets and founders of new faiths; but in times, in which greatness manifested itself in artistic or scientific achievements, the product of illness was equally often a man of genius in art or science. Pain became a tension which could be released in creative work, and the foreign matter of disease acted as a painful stimulant, not unlike the grain of sand which is introduced into the oyster and becomes the cause and center of a pearl. Trong những thời đại quan niệm chỉ có một sự vĩ đại là vĩ đại trong đức tin th́ bệnh tật sinh ra những vị thánh, những vị ngôn sứ và sáng lập tôn giáo. C̣n trong những thời đại cho rằng sự vĩ đại nhất là vĩ đại trong những thành tựu nghệ thuật và khoa học th́ kết quả của bệnh tật thường là những thiên tài về nghệ thuật và khoa học. Đau khổ gây ra căng thẳng cực độ, và sự căng thẳng ấy có thể được giải tỏa qua những tác phẩm sáng tạo: bệnh tật hoạt động như một kích thích tố gây đau đớn, chẳng khác nào hạt cát được đưa vào bụng ṣ để tạo ra chung quanh nó một viên ngọc trai.
For the poet Alfred de Musset illness meant inspiration, and Heine, who spent many years of his creative period as a living corpse in his "mattress-grave," praised it as the prime mover of all creation. The productive power of pain is manifest in the lives of a great number of creative men, and the biography of almost every genius is a treatise on the connection between suffering and achievement.

Pascal's immortal Pensées stand out against a dark background of never-ending ills. Behind the bars of his cell, between the most dreadful attacks and long lapses of deepest lethargy, Auguste Comte built up the marvelous structure of thought of his Positive Philosophy.

Vincent van Gogh wrote in a letter to his brother: "The more I fall to pieces, grow sicker and frailer, the more I become an artist; for through illness I get ideas for work in abundance." And indeed, in van Gogh's case illness was the irritant which made of the formally gifted copyist of Millet the greatest genius of modern painting.

Theo thi sĩ Alfred de Musset bệnh tật là nguồn cảm hứng, Heine, một người đă sống nhiều năm trong thời kỳ sáng tác không khác ǵ một thi hài c̣n sống trong “ngôi mộ chăn nệm” của ḿnh, cũng coi bệnh tật là động lực chủ yếu của mọi công tŕnh sáng tạo. Sức mạnh sáng tạo của đau khổ được thấy rơ trong cuộc đời của rất nhiều nhà sáng tác, và tập tiểu sử của vĩ nhân nào hầu như cũng luận bàn đến mối quan hệ giữa đau khổ và thành tích đạt được.

Tập “Pensées” của Pascal là kết quả của một thời kỳ đen tối bị bệnh tật hành hạ không ngừng. Phía sau những song cửa sổ, giữa những cơn hành hạ quái ác của bệnh tật và những giấc hôn mê dài, Auguste Comte đă ngồi thảo ra bố cục tư tưởng tuyệt vời của ḿnh trong tập “Positive Philosophy”

Trong một lá thư gửi anh ḿnh, họa sĩ Vincent Van Gogh viết: “Càng suy sụp, càng bệnh và yếu đi, tôi càng trở thành một họa sĩ, v́ qua những cơn bệnh đó tôi mới thu lượm được ư tưởng cho vô số tác phẩm của ḿnh”. Mà quả thật, trong trường hợp của Van Gogh, bệnh tật đúng là kích thích tố biến ông từ một nhà chuyên sao chép tranh Millet trở thành thiên tài của hội họa hiện đại.

An illness, quite similar to that in which Theresa's sainthood was rooted, gave Dostoevski the blessed power to produce his greatest works. In perusing the history of Dostoevski's illness and production, one might well mistake it for a story of Theresa's suffering and sainthood.

"A strange and unbearable illness has always tortured me", writes Dostoevski. "I often felt that I must instantly die, and then something followed that was similar to real death: an attack which usually ended in a state of lethargy."

Although Dostoevski suffered greatly with these attacks throughout his entire life, he knew about the creative force that was inherent in them and referred to them as his "sacred illness". "In such moments", he wrote, "I feel as though heaven had come down to earth to devour me. You men of good health, you cannot sense what feeling of bliss such illness can impart. For all the joys of life I would not give up the bliss of one such second."

Cũng nhờ một chứng bệnh tương tự như Têrêxa, Dostoevski đă có được được sức mạnh để sáng tác ra những tác phẩm vĩ đại. Nếu đọc kỹ tiểu sử bệnh t́nh và sáng tác của ông, người ta có thể lầm tưởng đó là tiểu sử bệnh t́nh và sự thánh thiện của Têrêxa.

Dostoevski viết: “Một chứng bệnh lạ kỳ không thể chịu nổi luôn luôn hành hạ tôi. Tôi thường cảm thấy ḿnh sắp chết thật: một cơn đau bao giờ cũng kết thúc bằng t́nh trạng hôn mê”.

Dù Dostoevski đă bị những cơn đau này hành hạ suốt đời, ông vẫn tin rằng có một sức mạnh sáng tạo tiềm tàng trong những cơn bệnh đó, có thể gọi là “chứng bệnh linh thiêng”. “Những lúc đó tôi cảm thấy như trời cao đổ xuống đất để nhai nuốt tôi. Quí vị là những người khoẻ mạnh, quí vị không thể nào hiểu được cảm giác hoan lạc do chứng bệnh ấy mang lại. Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả những thú vui trên đời để đổi lấy sự hoan lạc ấy, dù chỉ trong giây phút”.

When Theresa's condition failed to improve at school, Don Alonso took her home, for he hoped that, away from the discipline of the convent, she would recuperate more quickly. The result he expected did not come about.

The fortress home to which the patient returned, was no longer the same. Somber quiet weighed heavily on it. The spirited circle that had surrounded her in former years was no longer there. Most of her cousins, heeding the call of the times, had left Avila. They worked for commercial houses in Seville or traveled in the wake of the conquistadors in distant lands. Of her brothers only the youngest two, Lorenzo and Antonio, had stayed at home. Most of her girl friends were married and had followed their husbands to the big cities. Juana, her favorite, had stayed in Avila, but, disillusioned with life, she had taken the veil.

Thấy ở trường t́nh trạng sức khoẻ của Têrêxa không khá hơn, Don Alonso mang cô về nhà, hy vọng rằng một khi tránh được thứ kỷ luật khắt khe của nhà ḍng, cô sẽ hồi phục nhanh hơn, Thế nhưng điều ông hy vọng ấy đă không xảy ra.

Ngôi nhà pháo đài của ông bây giờ không c̣n như xưa nữa đối với cô. Một sự cô tịch u ám đang đè nặng trên ngôi nhà đó. Đám bạn bè sinh động đă vây quanh cô những năm trước đây, bây giờ không c̣n lui tới nữa. Phần đông anh chị em bà con của cô đă nghe tiếng gọi của thời đại và rời bỏ Avila. Bây giờ họ làm việc cho những nhà buôn ở Sevilla hay theo gót các nhà mạo hiểm đến các miền xa xăm. Trong số anh em trai của cô chỉ c̣n hai người em nhỏ nhất là Lorenzo và Antonio. Đa số bạn gái của cô đă kết hôn và đă theo chồng lên các thành phố lớn. Juana, cô bạn thân của cô, tuy vẫn c̣n ở lại Avila, nhưng đă chán đời và đi tu.

At this time Theresa was just about sixteen years old. The looking glass would have shown her the same fascinating face as of old. With some powder and rouge and a smile she could have filled the patio in no time with a new set of courting caballeros and admiring friends. The interrupted frolic of her girlhood might have continued. But her happy look, her carefree smile had been chased away by her illness. There she stood, suffering and despondent, gazing vacantly into the court, which appeared to her as a dark and narrow prison yard. For the court continued to be what Theresa's imagination made of it.

At times she remembered the light and easy conversations of years gone by and saw herself again as the much-courted and spirited beauty. But a moment later her mind would dwell again on her present condition, and a wretched young girl, shaken by illness, was pacing fornlornly up and down the prison yard.

Bấy giờ Têrêxa vừa được 16 tuổi. Đáng lẽ nh́n vào gương cô vẫn thấy mặt ḿnh hấp dẫn như ngày nào. Thêm chút phấn son và nở một nụ cười là đủ làm cho sân nhà lập tức đầy những chàng trai caballeros (quí tộc) theo tán tỉnh và bạn bè ngưỡng mộ. Cuộc vui đùa của cô hồi bé có lẽ đă tiếp tục được. Thế nhưng nay bệnh tật đă cướp đi khỏi cô cái nh́n vui tươi, nụ cười hồn nhiên. Cô đứng đó đau khổ và thất vọng, nh́n mông lung vào cái sân, bây giờ đối với cô đó chỉ là sân nhà tù tối tăm, chật hẹp. Cô vẫn nghĩ về một cái sân của ngày xưa.

Thỉnh thoảng cô nhớ tới những cuộc tṛ chuyện thanh thoát dễ dàng của những năm trước và lại thấy ḿnh như một giai nhân đang được nhiều người săn đuổi. Thế nhưng ngay sau đó cô trở về với t́nh trạng hiện tại của ḿnh: một thiếu nữ tàn tạ bởi bệnh tật đang một ḿnh bước lui bước tới trong sân “nhà tù”.

The contrast between past and present made her the more painfully aware of her pitiful state. The silence in the fortress house kept reminding her of how cruelly illness had deceived her in all her girlhood dreams and hopes. In her depressed moods, the sick girl fell the more readily victim to the attacks, which recurred now with ever increasing frequency.

Don Alonso was Theresa's only contact and not exactly the most suitable one. The secluded life which he led in his quiet and deserted house, had emphasized his introspective leanings. He spent his days almost completely in his library and devoted himself exclusively to his devotional books. Although he idolized his daughter, he could not, enthralled by stories of heroes and saints, find the way to the heart of a young girl, whose problem was simply that her life was shattered. The edification which he derived from his pious authors could not have been of help to his melancholy daughter. And when the attacks came, he faced them in helpless bewilderment.

Sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại càng làm cô thêm tủi thân. Bầu khí im lặng trong ngôi nhà kiên cố này càng làm cô nhớ tới cơn bệnh tai ác đă phá tan mọi giấc mơ và hy vọng của thời thiếu nữ. Trong t́nh trạng chán chường đó, cô càng trở thành mồi ngon cho những cơn bệnh tái phát không ngừng.

Don Alonso là người duy nhất Têrêxa tiếp xúc và chắc chắn không phải là người thích hợp nhất cho cô. Cuộc sống tách biệt của ông trong ngôi nhà yên lặng và vắng vẻ này đă làm ông thêm hướng nội. Cả ngày ông vùi đầu vào sách vở trong thư pḥng, nhai ngấu nghiến mấy cuốn sách đức tin. Mặc dù cưng con và say mê chuyện các anh hùng, các thánh, nhưng ông không thể thông cảm được tâm hồn của một thiếu nữ lúc nào cũng mang tâm trạng thất vọng trước cuộc đời tan vỡ của ḿnh. Những bài học ông rút ra được từ các sách đạo đức không giúp ích ǵ cho cô gái phiền muộn đó. Rồi khi cơn bệnh đến, ông chỉ bối rối đứng nh́n một cách bất lực thôi.

He decided to entrust the girl to the care of his eldest daughter Maria, who lived on a little country estate in Castellanos. He hoped that the rural environment, together with Maria's loving care, might improve Theresa's state of health.

As soon as her condition permitted, Don Alonso put Theresa on a mule and started on the two-day trip. On the way they stopped in Hortigosa where Pedro de Cepeda, Don Alonso's elder brother, was living.

There, in one of the smallest rooms of his magnificent mansion, Theresa's uncle had lived for years the severely ascetic life of a man of God. Don Pedro was entirely concerned with life beyond the grave, his interest in the life here below had vanished completely, and when he spoke at all of the things of this world, he did so only insofar as they might serve him in his preparation for the great journey to God. His conversation with the unexpected guests was solely concerned with sacred things.

Cuối cùng ông quyết định trao con cho cô gái lớn là Maria chăm sóc. Cô này lúc đó đang sống ở một trang trại nhỏ miền Castellanos. Ông hy vọng rằng khung cảnh thôn quê và sự săn sóc chu đáo của Maria sẽ giúp Têrêxa b́nh phục.

Ngay khi t́nh trạng của Têrêxa cho phép, Don Alonso vội thắng lừa, cho cô đi chơi trong hai ngày. Trên đường hai cha con dừng lại ở Hortigosa, nơi ông Phêrô Cepeda, anh của Don Alonso đang sống.

Tại đây, trong một căn pḥng rất nhỏ của toà nhà rộng lớn, ông Phêrô từ nhiều năm qua đă sống một cuộc sống khổ hạnh của một người thuộc về Chúa. Ông hoàn toàn thao thức về cuộc sống ở thế giới bên kia, không thiết tha chi cuộc sống trần gian này nữa. Mỗi khi phải nói về chuyện đời, ông chỉ nói những ǵ có thể giúp ông chuẩn bị cuộc hành tŕnh về với Chúa. Cuộc tṛ chuyện của ông với những người ghé thăm chỉ xoay quanh những điều linh thiêng thánh thiện.

St. Jerome, the learned hermit of the fourth century, was Don Pedro's chosen model. From St. Jerome's admonitory writings he took the standard for all his acts. One of those heavy tomes he handed to his niece and asked her, for the edification of them all, to read a few passages which he had marked.

Theresa felt a certain resentment against these texts, which reminded her of her childhood, and it was at first out of sheer courtesy that she complied with her uncle's request. But while she was reading, her interest was aroused, and before long she listened to her own voice with the same devout attention as her audience. Now the voice which read St. Jerome's words was no longer the voice of monotonous boredom which it had been; it was a voice of pious concentration. A frightened and suffering young girl was reading the message of the kingdom of heaven as a message of solace for the sick and ailing. And when they left the following day, Theresa requested from her uncle a volume of Jerome's writings, which she wished to take with her on her trip to the country.

Ông Phêrô chọn thánh Giêrôm - vị ẩn tu uyên bác của thế kỷ IV - làm khuôn mẫu. Ông rút ra từ các tác phẩm huấn dụ của thánh nhân một tiêu chuẩn cho mọi hành vi và cuộc sống của ḿnh. Ông đă trao cho cô cháu gái một trong những chương sách dày cộm của thánh Giêrôm và bảo cô đọc những đoạn mà ông đă đánh dấu., để cả hai người cùng được hưởng nhờ sự giáo hóa tốt lành của nó.

Têrêxa cảm thấy hơi bực ḿnh với những bản văn này v́ chúng nhắc cô nhớ tới thời thơ ấu. Chỉ v́ phép xă giao lịch sự cô mới làm theo lời yêu cầu của bác ḿnh. Thế nhưng trong khi đọc cho bác nghe, cô bỗng chú ư nhiều hơn, và chẳng mấy chốc cô lắng nghe tiếng nói của ḿnh một cách say sưa chăm chú chẳng khác chi vị thính giả kia. Bây giờ giọng cô không c̣n có vẻ buồn tẻ đều đều nữa, mà là một giọng chăm chú tôn kính. Một thiếu nữ sợ sệt và bệnh hoạn đang đọc sứ điệp Nước Trời, không khác nào một sứ điệp đem an ủi tới cho người bệnh. Rồi ngày hôm sau, khi hai cha con lên đường, Têrêxa xin phép bác ḿnh mượn một cuốn của thánh Giêrôm, cô muốn mang theo nó trên đường về quê.

At first the rural environment did not seem to bring about the hoped-for recovery. Neither the tender care of her half sister nor the distractions of country life could restore her cheerful disposition. The comforting words of her relatives tormented her, and she was happy only when she was left alone in her room, absorbed in her volume of St. Jerome. His words of promise about the kingdom of heaven, addressed to all those who strove here below to lead a life pleasing to God, revived in her the old dream of becoming a nun. Her former love of life and worldliness, however, was not altogether dead; it was only ailing; and as soon as there was the faintest hope for recovery, it put in its claims against the intimidated patient who was ready to seek refuge in a convent. Ban đầu khung cảnh thôn dă dường như chẳng thể đem lại sự b́nh phục mong đợi. Sự săn sóc dịu dàng của người chị cùng cha khác mẹ lẫn những thú vui của cuộc sống miền quê đều không làm cô khuây khoả. Những lời an ủi của người thân càng dày ṿ cô, và cô chỉ cảm thấy sung sướng khi được ở một ḿnh trong pḥng, vùi đầu vào cuốn sách của thánh Giêrôm. Những lời hứa của ngài về Nước Trời, nói với tất cả những ai đang cố gắng sống một cuộc đời đẹp ư Chúa, đă làm sống dậy nơi cô giấc mơ ngày xưa là được trở thành nữ tu. Tuy nhiên, t́nh yêu ngày xưa dành cho cuộc sống và thế tục vẫn chưa chết hẳn nơi cô, nó chỉ èo uột thôi. V́ thế, nếu có chút hy vọng được hồi phục sức khoẻ là tính ấy lập tức lên tiếng đ̣i được thỏa măn, ngay chính lúc cô sẵn sàng đi t́m nương tựa nơi một tu viện.
Then one day Theresa came in her readings across St. Jerome's threats of hellfire and punishment. All the things which her frustrated hunger for life had been craving - the desire to be admired, flirtations, secret love affairs, even the most harmless excesses in dress and make-up, all these things were enumerated there and condemned only by one as infallible guides to hell. And if St. Jerome's rhetoric had been impressive when he described with mellow tenderness what joys the heavens could promise to those who turned their backs on the world, it was even more so, when he began with scolding fury to describe the hellish torment awaiting those, who had devoted their lives to the concerns of the world. Theresa was frightened to the quick. Một ngày kia, Têrêxa t́nh cờ đọc những lời cảnh cáo của thánh Giêrôm về hỏa ngục và sự trừng phạt. Tất cả mọi thứ mà trong lúc thèm khát sự sống cô hằng mơ ước - được ngưỡng mộ, tán tỉnh, những cuộc t́nh thầm kín, những kiểu ăn mặc và trang điểm cầu kỳ nhưng vô hại - tất cả những thứ đó được thánh nhân nêu ra và kết án là đường dẫn xuống hoả ngục. Thánh Giêrôm đă hùng hồn mô tả sự dịu ngọt của những hoan lạc trên trời dành cho những ai quay lưng với thế gian, ngài cũng hùng hồn không kém khi giận dữ mô tả h́nh phạt hoả ngục đang chờ những ai hiến dâng cả đời cho những toan tính trần gian. Lập tức Têrêxa hốt hoảng.
A short time later she suffered another severe attack. Maria spent the night by her bedside. She lay there in a coma, and her sister was ready to despair.

The following morning Theresa left her room and to every body's surprise was a changed person. As though her illness had vanished without a trace she made again the impression of a carefree young girl. Nobody understood the reason for this sudden transformation. Theresa herself explained at a much later time that St. Jerome's threats of retribution in hell had done for her what his promises of heavenly joy had not been able to do. Fear of hell induced the wavering girl to choose between heavenly and worldly joys. She chose to turn her back on the world and start on her road to heaven. Once she had resolved to become a nun, her pain and her suffering left her. It was as though the "little deaths" of her illness had only been meant to serve as a poignant reminder of the imminence of the dangers of hell. Her melancholy which had cast a shadow on her soul had disappeared too. The heavenly light, toward which she was now moving, knew of no shadows. And pain and illness, life and death, everything was transfigured in its radiance. Once before Theresa had been planning to become a nun, but afterwards, when she had grown conscious of her beauty and charm, she had rejected the idea as childish and ridiculous. Now, however, when illness had taught her about the transitoriness of the glories of the world, when the threats of hell had filled her soul with unspeakable horror, nothing could make her desist from her vow.

 

For fear that her plan might again be thwarted, she kept it a strict secret. After her return to Avila she took only her intimate friend Juana into her confidence, for Juana was a nun herself and would be able to help her attain her end.

Ít lâu sau, cô lại bị một cơn đau quái ác hành hạ. Maria thức suốt đêm bên giường em. Têrêxa nằm hôn mê, c̣n Maria hầu như tuyệt vọng.

Sáng hôm sau, Têrêxa rời khỏi pḥng và, trước sự ngạc nhiên của mọi người, cô trở thành một người khác. Như thể cơn bệnh đă tan biến không để lại dấu vết ǵ cô làm, mọi người lại có cảm tưởng rằng cô là một thiếu nữ vô tư thảnh thơi. Chẳng ai hiểu được lư do của sự thay đổi đột ngột ấy. Măi sau này, Têrêxa mới giải thích: những lời cảnh cáo của thánh Giêrôm về sự trừng phạt ở hoả ngục đă làm được nơi cô, một điều mà những hứa hẹn của ngài về niềm vui thiên đàng không làm được. Sự khiếp sợ hỏa ngục đă đẩy người con gái do dự ấy đến chỗ chọn lựa dứt khoát giữa niềm vui thượng giới và thú vui hạ giới. Cô đă quyết định quay lưng với thế gian, và lên đường đi về thiên quốc. Một khi đă quyết định trở thành nữ tu rồi th́ bệnh tật và đau khổ cũng rời cô. Dường như những “cái chết vắn vỏi” trước đây do bệnh tật gây ra chỉ là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về những nguy cơ hoả ngục đang ŕnh rập cô. Vẻ u buồn từng ám ảnh tâm hồn cô nay cũng biến mất. Ánh sáng của thiên quốc mà cô đang đi tới, không thể sống chung với bóng tối. Đau khổ, bệnh tật, sống, chết, mọi sự đă thay đổi h́nh dạng khi nh́n trong ánh sáng của thiên quốc. Trước kia đă có lần cô dự định trở thành nữ tu, nhưng sau đó khi ư thức về sắc đẹp và sự duyên dáng của ḿnh, cô đă coi đó là một ư tưởng trẻ con ngô nghê. Thế nhưng bây giờ khi đă được bệnh tật dạy cho biết sự phù du của vinh quang trần gian, khi những mối đe dọa của hỏa ngục đă lấp đầy hồn cô một nỗi kinh hoàng khủng khiếp, th́ không ǵ có thể làm cô bỏ lời thề đó nữa.

V́ sợ rằng dự định ấy lại bị cản trở lần nữa, cô đă giữ hết sức bí mật. Sau khi trở về Avila cô chỉ tâm sự với cô bạn thân là Juana lúc này cũng đă là nữ tu, có thể giúp cô đạt được mục tiêu.

Not to attract the attention of the devil, who is lurking everywhere in the world, who is lurking in the advice of friends as well as in the doubting minds of well-meaning relatives, Theresa employed a pious stratagem. That nobody might suspect her intentions, she participated in social activities and talked and smiled and flirted as in the olden days. But she was firmly resolved to bid the world farewell. Once a caballero expressed in no uncertain terms his admiration for her shapely legs, and she retorted in a quick comeback: "Look well, it may be your last chance!" Everyone laughed and assumed that she thought of marriage, and that her remark was an allusion to the imminence of her union with another wooer. At that time, however, she had already completed her preparations for donning the modest garb of the brides of Christ. Không muốn thu hút sự chú ư của ma quỉ, luôn ŕnh rập khắp nơi trên thế gian, có thể nấp cả trong lời khuyên của bạn bè, cũng như trong đầu óc đa nghi của người thân có thiện chí, Têrêxa đă phải dùng một chiến thuật. Để không ai có thể hồ nghi ǵ về ư định của ḿnh, cô đă tham gia vào các sinh hoạt xă hội, nói cười, tán tỉnh, ve văn như ngày xưa. Thế nhưng bên trong cô đă quyết tâm từ bỏ thế gian. Có lần một chàng caballero nọ thẳng thắn nói lên ḷng ái mộ của ḿnh trước cặp gị xinh đẹp của cô, cô đă mau lẹ phản đối: “Coi chừng nhé: có thể đây là cơ hội cuối cùng cho anh đấy”. Mọi người phá ra cười và nghĩ rằng chắc cô sắp lấy chồng, lời trách cứ vừa rồi của cô là một cách ám chỉ cô sắp sửa kết hôn với một anh chàng nào đó. Thế nhưng cô đă chuẩn bị xong xuôi để khoác vào ḿnh chiếc áo thô sơ của các hiền thê Chúa Kitô.
As soon as Juana had finished the necessary arrangements, so that Theresa would merely have to appear at the Carmelite convent of the Incarnation to be received there as a novice, she decided to inform her father of what she intended to do.

Don Alonso was thunderstruck. To be sure, he was a good Christian. He admired the saints and martyrs, and their lives of sacrifice inspired and edified him. But then he was also a father, who was attached to his child in earthly love. The Christian and the father came into conflict, and the father won and protested vehemently against Theresa's plan. Don Alonso was on good terms with his God. He gave Him everything he owed Him and more, but it was not possible that the Lord should demand the sacrifice of his daughter.

Ngay sau khi Juana dàn xếp xong mọi thứ cần thiết, và Têrêxa chỉ c̣n việc tŕnh diện tại một ḍng kín mang tên Tu viện Nhập Thể để được nhận làm tập sinh, cô mới thông báo cho cha biết ư định của ḿnh.

Don Alonso sững sờ. Chắc chắn ông là một Kitô hữu tốt. Ông ngưỡng mộ các thánh và các vị tử đạo; đời sống hy sinh của các ngài đă làm ông phấn khởi và dạy cho ông rất nhiều điều. Tuy nhiên ông cũng là một người cha, thương con bằng một thứ t́nh yêu thế gian. Nơi ông lúc đó diễn ra cuộc xung đột giữa vai tṛ một Kitô hữu và vai tṛ người cha. Cuối cùng người cha đă thắng. Ông kịch liệt phản đối dự tính của Têrêxa. Don Alonso đă sống hoà thuận với Chúa. Ông hiến dâng cho Ngài tất cả mọi thứ và c̣n hơn thế nữa, nhưng Chúa không thể đ̣i hỏi ông phải hy sinh cô con gái.

Theresa had always been an obedient daughter, but hell was a serious matter, and Don Alonso's strictest orders could not induce her to abandon her plan. To escape her father's vigilance she did now, at the age of seventeen, what she had done once before when she was seven. She ran away. Then she had persuaded her brother Rodrigo to flee with her to the land of the Moors, and now she took her youngest brother Antonio with her on her flight from the world.

Early one morning Antonio and Theresa left the fortress house. They separated at the gate of the monastery of St. Thomas where the Grand Inquisitor Torquemada lies buried. Antonio entered and asked the Dominican friars to admit him as a novice. Theresa went on to the Carmelite convent of the Incarnation, a few miles away from the town, where her friend Juana was expecting her.

Antonio's plan failed as soon as he had crossed the threshold of the monastery. It was at St. Thomas that Don Alonso went to confession, and the Dominicans were cautious enough to send word to him to inquire whether Antonio's decision met with his approval. A short while later Don Alonso appeared at the monastery and took his runaway son back to his home.

Thanks to Juana's forethought and skill, Theresa's plan was much better prepared. Don Alonso was notified of his daughter's move too, but he arrived at the convent only in time to see how Theresa's beautiful curls were cut off and how she exchanged her worldly dress of orange color for the white veil of the Carmelite novice. He was faced with an accomplished fact, and all he could do was to give his belated blessing.

2

Têrêxa xưa nay vẫn là đứa con ngoan ngoăn, nhưng hoả ngục là một vấn đề nghiêm trọng; mệnh lệnh khắt khe của Don Alonso không thể bắt cô rời bỏ ư định ấy. Cô đành phải trốn nhà, một việc mà mười năm trước cô đă từng làm. Trước đây cô đă rủ anh trai cô là Rodriguez trốn tới xứ của người Moor, c̣n nay cô mang cậu em út Antoniô theo trong cuộc chạy trốn thế gian.

Sáng sớm hôm ấy Têrêxa và Antoniô ra khỏi ngôi nhà kiên cố của ḿnh. Họ chia tay nhau ở cổng tu viện thánh Tôma, nơi vị đại pháp quan của toà án tôn giáo lúc đó là Torquemada được chôn cất. Antoniô bước vào xin các tu sĩ Đaminh nhận anh làm tập sinh. C̣n Têrêxa đi tới tu viện Cát Minh Nhập Thể, cách thị trấn Avila vài dặm, nơi đó Juana đang chờ cô.

Kế hoạch của Antonio bị phá hỏng ngay khi anh bước qua ngưỡng cửa của tu viện. V́ Don Alonso đă từng tới đó xưng tội và các cha Đaminh đă khéo léo nhắn hỏi ông có đồng ư với quyết định của Antonio không. Ít lâu sau Don Alonso tới tu viện và mang cậu con trai thoát ly về nhà.

Nhờ sự lo xa và khéo léo của Juana, kế hoạch của Têrêxa được chuẩn bị chu đáo hơn. Don Alonso cũng được thông báo về việc đi tu của Têrêxa, nhưng khi tới tu viện ông chỉ kịp nh́n những lọn tóc đẹp của Têrêxa bị cắt đi và chiếc áo màu cam đẹp đẽ của cô được thay bằng tấm voan trắng của người tập sinh ḍng Cát Minh. Ông đứng trước một việc đă rồi, và chỉ c̣n cách là chúc lành cho cô thôi.

2

At the Carmelite convent of the Incarnation, isolated from the world by heavy walls, Theresa believed herself safe from all temptations. "I was filled with the greatest of joys," she wrote at a later time about her entrance into the convent, "and God converted the acidity of my embittered soul into the greatest tenderness." She was zealous and cheerful in the fulfillment of her duties as a novice. Obedience to her meant liberation; her cell was a real home; and renunciation filled her with consummate joy.

The initial happiness of her novitiate, however, did not last. The fear of hell which had driven her to take the veil, and the zeal with which she pursued her road to heaven sharpened her eyes for what was going on around her. To her great dismay she found that the place to which she had fled lay still in the world from which she had meant to escape.

The chief enemy was the changed spirit of the times. To be sure, the walls of the Incarnation were thick and high, but they separated the convent from the world outside only in space, not in time. And then as now, time meant change; it meant change of things and of thoughts; it was an allpervading, all-embracing power. Within and without the Incarnation, time had changed from the Middle Ages to Modern Times. No wall and no rampart could shut out time. There was no place beyond its reach. Nobody could escape it. The busy life of the world and the Iife of contemplation in the convent, distraction and renunciation occurred in the same century, were keyed to the same tenor of life.

Tại tu viện Nhập Thể, cách biệt với thế giới bên ngoài bằng những bức tường dày, Têrêxa nghĩ rằng ḿnh đă tránh được hết mọi cám dỗ. Sau này cô viết về lần bước chân vào tu viện đó như sau: “Tôi sung sướng vô cùng. Thiên Chúa đă biến tâm hồn cay đắng của tôi thành ngọt ngào”. Cô hăng hái và vui tươi hoàn thành các bổn phận của một tập sinh. Đối với cô lúc này vâng phục là tự do, tu pḥng nhỏ hẹp này là ngôi nhà thân yêu, hy sinh đem lại cho cô niềm vui trọn vẹn.

Tuy nhiên, niềm hạnh phúc của thời tập sinh ấy không kéo dài bao lâu. Chính nỗi sợ hoả ngục, đă từng đẩy cô tới chỗ khoác áo nhà tu, và chính sự nhiệt thành đă xô cô chạy theo con đường về trời, nay lại làm cho mắt cô thêm sắc sảo để nh́n mọi sự chung quanh. Cô thất vọng khi khám phá rằng nơi cô đă tới trú ẩn vẫn c̣n nằm trong ṿng thế gian mà cô muốn trốn khỏi.

Địch thù chính là tinh thần thời đại lúc ấy. Để cho chắc, tu viện Nhập Thể đă cho xây những bức tường thật dày và thật cao, nhưng chúng chỉ ngăn cách tu viện với thế giới bên ngoài về không gian, chứ hai bên vẫn gần gũi nhau về thời gian. Hồi ấy cũng như ngày nay, nói tới thời gian là nói tới thay đổi, thay đổi sự vật và thay đổi tư tưởng. Thời gian là một quyền lực ăn vào khắp nơi, bao biện khắp chỗ. Ngay trong tu viện Nhập Thể và bên ngoài tu viện ấy, thời gian đă đổi từ thời Trung Cổ sang Hiện Đại. Không có tường lũy nào có thể ngăn chặn thời gian được. Không có chỗ nào nằm ngoài ảnh hưởng của thời gian. Không ai có thể chạy trốn nó. Cuộc sống xô bồ của thế giới và cuộc sống trầm mặc của tu viện, sự ăn chơi vui đùa và sự hy sinh đang diễn ra trong cùng một thế kỷ đang rung lên cùng một âm điệu trong cuộc sống.

The walls of the Incarnation were medieval, but those who lived behind them were children of modern times. The veil belonged to the Middle Ages, but the women who wore it were of the sixteenth century. The prayers, masses, devotions, observances, all the elements of the routine regulating the daily life of the Carmelites, came out of medieval times; but the life thus regulated was the life of nuns in the year 1536. The spirit of the Middle Ages had dictated the forms of prayer, medieval music had composed the hymns of the choir. But those who prayed the prayers and sang the songs were nuns of a modern era. Những tường thành của tu viện Nhập Thể là của thời Trung Cổ nhưng những con người sống đằng sau đó là con đẻ của thời Hiện đại. Voan áo là của thời Trung Cổ, nhưng những phụ nữ ăn vận chúng là của thế kỷ 16. Kinh nguyện, thánh lễ, các việc đạo đức, tôn sùng, tất cả những yếu tố chi phối cuộc sống hằng ngày của các nữ tu Cát Minh ấy là của thời Trung Cổ; nhưng cuộc sống của họ là của năm 1536. Tinh thần Trung Cổ chi phối h́nh thức cầu nguyện, nền âm nhạc Trung Cổ đă sáng tác ra những bản thánh ca. Thế nhưng những người đọc các kinh đó, hát những bài hát đó lại là những nữ tu của thời đại mới.

The little chapel with its leaking roof, through which the rain could drip down on the heads and shoulders of the praying nuns, kept faith with the old vow of poverty and abnegation. But in the cells of the Incarnation, which were really little two-room apartments, the sisters knew how to live a life of renunciation with ease and in comfort. They owned nothing, but they accepted little favors. Their robes were mended, but they wore necklaces, bracelets and rings. Before God they were all equal as brides of Christ, but those of noble birth retained the title of "Dona." The meals were made to conform with all the prescribed fasts, but they were appetizing and ample, and in between the nuns had all sorts of titbits and dainties. The pious sisters served the Lord in chastity and obedience, but from time to time they had their day out or even a long vacation which they could spend as they pleased with relatives or friends out in the world.

And just as the inmates of the convent could go to see the world, so the world could come to visit the convent. Seclusion from the world was no longer a genuine withdrawal from the world but rather a game of hide and seek. The home of the silent Carmelites had opened its doors to the modern cult of talk and conversation. One of the rooms of the Incarnation had been sublet to the world. Upstairs were the cells, and just a few steps let down to the parlor below where the nuns could receive guests of both sexes.

Ngôi nhà nguyện bé nhỏ với mái dột, đến nỗi mưa có thể rơi xuống trên đầu, trên vai các nữ tu, vẫn c̣n đầy trung thành với truyền thống nghèo khó và từ bỏ. Thế nhưng trong các căn buồng của tu viện vốn là những căn hộ nhỏ hai pḥng, các nữ tu đă biết cách sống đời hy sinh ấy với những thoải mái và tiện nghi. Họ không có ǵ hết, nhưng sẵn sàng nhận những sự chiếu cố nho nhỏ. Áo họ khâu vá chằng chịt, nhưng họ đeo ṿng kiềng, ṿng tay và nhẫn. Trước mặt Chúa, tất cả họ đều là hiền thê của Đức Kitô như nhau, nhưng những người có gốc gác quí tộc vẫn giữ tước “tiểu thư” hay “phu nhân” (“dona”). Các bữa ăn được nấu nướng đúng như các bữa chay tịnh mà luật dạy, nhưng lại dồi dào và ngon miệng; và giữa các bữa ăn họ vẫn có đủ thứ mỹ vị thơm tho khác. Các nữ tu đạo đức ấy vẫn thờ phượng Chúa trong sự khiết tịnh và vâng phục, nhưng thỉnh thoảng họ lại được ra ngoài một ngày hay lâu hơn, chơi vui thỏa thích với bà con hay bạn bè.

Mà nếu các nữ tu trong tu viện đă được đi xem thế gian th́ ngược lại thế gian cũng được bước vào xem tu viện. Việc xa cách thế gian không c̣n là sự rút lui đích thực nhưng chỉ là một tṛ chơi trốn-t́m. Nhà của các nữ tu Cát Minh ít nói đă mở cửa cho sự sùng bái chuyện tṛ đàm thoài tân thời. Người ta đă nhường một pḥng của tu viện cho thế gian. Trên lầu là những tu pḥng nhỏ của các nữ tu, nhưng dưới đó vài bước là pḥng khách, nơi các nữ tu tiếp khách, nữ lẫn nam.

To be sure, there was in the locatorio a metal grate which separated the nuns from their worldly callers, but it was a partition which separated only the bodies in space and could be crossed by sight and hearing. Through it the silence of the convent and busy worldlines, renunciation and greed could engage in amicable conversation. And in the restless mirror of gossip the world was reflected with all its vanities and temptations.

In her quiet cell Theresa conversed with God and felt secure. But whenever she had to appear in the parlor, she found herself confronted with the world she had meant to flee. Soon she came to recognize that her heart too was such a convent with cells and devotion upstairs and a parlor one flight below. Her peace of mind was gone. She saw that she was still within the range of the powers of hell.

Để cho chắc, trong pḥng khách đó có một cửa lưới ngăn cách các nữ tu với khách, nhưng chỉ có phần dưới là che khuất, c̣n hai bên vẫn có thể nh́n thấy và nghe nhau được. Qua tấm lưới đó, cái im lặng của tu viện và cái ồn ào của thế gian, tinh thần hy sinh của tu viện và thói tham lam của thế gian đang tṛ chuyện thân mật với nhau. Và những câu chuyện tầm phào như một tấm gương dao động đă phản chiếu thế gian với tất cả những phù phiếm và cám dỗ của nó.

Đang khi đó, trong căn buồng vắng lặng Têrêxa vẫn tṛ chuyện với Chúa và cảm thấy an toàn. Tuy nhiên hễ khi nào bước xuống pḥng khách chị đều thấy ḿnh đang đương đầu với một thế giới mà chị đă dốc tâm trốn tránh. Phút chốc chị nhận ra rằng tâm hồn chị cũng là một tu viện với những tu pḥng nhỏ và kinh nguyện ở tầng trên c̣n ngay dưới là pḥng khách. Chị không cảm thấy b́nh an nữa. Chị thấy ḿnh vẫn nằm trong tầm kiểm soát của hoả ngục.

In such moments she began to doubt the wisdom of her selection of the Carmelite Incarnation as a homestead for her religious life. And these doubts in her mind were the first indication that the great reformer of the order of the Carmelites that Theresa was destined to become at a later time was beginning to stir in her. For the moment, however, she was only a little novice whose duty it was to be humble and to obey. The concessions which the Carmelite order made to the ways of the world had been sanctioned by the Pope in the so-called mitigated rule, and a little novice could not be more papal than the Pope. What happened in the Incarnation, was the consecrated custom of the times, and all the sisters, from the prioress down, paid homage to it. The force of convention smothered Theresa's doubts, and it is probable that she would have submitted to the established routine, that her life would have become that of the average Spanish nun of her day, if illness had not intervened for the second time and had pulled her out of the rut of the accepted system.

Những lúc đó chị bắt đầu hồ nghi không biết ḿnh có khôn ngoan hay không khi chọn tu viện Nhập Thể làm ngôi nhà cho cuộc sống tu tŕ của ḿnh. Những mối hoài nghi này là chỉ dẫn đầu tiên cho thấy nhà cải tổ vĩ đại của ḍng Cát Minh, mà Têrêxa được tiền định sẽ trở nên sau này, đă bắt đầu sống dậy nơi chị. Tuy nhiên, tạm thời, chị vẫn là một tập sinh nhỏ, có bổn phận sống khiêm tốn và phục tùng. Những nhượng bộ mà ḍng Cát Minh dành cho thế gian đă được Đức Giáo Hoàng phê chuẩn trong một bộ luật quen gọi là bộ luật nhân nhượng; một tập sinh trẻ không thể khôn ngoan hơn Đức Giáo Hoàng. Những ǵ xảy ra trong tu viện Nhập Thể đều là những tập tục của thời đại, và mọi chị em trong nhà, từ tu viện trưởng trở xuống, đều kính cẩn tôn trọng những lề thói ấy. Sức mạnh của qui ước đă dập tắt mọi hoài nghi của Têrêxa. Mà rất có thể chị đă chấp nhận lề thói qui định ấy, cuộc đời chị có thể chỉ là cuộc đời của một nữ tu Tây Ban Nha trung b́nh, nếu bệnh tật đă không can thiệp vào đời chị lần thứ hai, kéo chị ra khỏi vết lún của cái hệ thống đă được chấp nhận ấy.

After she had taken her vows as a nun, her former attacks came back with increased violence. They overcame her with the relentless fury of elemental events. No part of her body remained unaffected; no function stayed immune; no limb, no muscle, no nerve was safe from the blazing pain. And the agony of her "little deaths" resembled ever more the real agony of the great death.

The frightened nuns called her by her name. She remained motionless. They shook her, rubbed her, lifted her up. All their efforts were in vain. Her body remained cold and rigid as though she had died.

Sau khi khấn, những cơn bệnh ngày xưa bỗng trở lại tấn công chị dữ dội. Chúng dồn dập đổ xuống chị như những thiên tai giận dữ hoành hành không biết mệt. Không chỗ nào trong thân thể chị là không bị ảnh hưởng, không có bộ phận nào trong người chị là được miễn trừ; không có chân tay, bắp thịt hay thần kinh nào là không bị những cơn đau như thiêu như đốt hành hạ. Cơn hấp hối của những “cái chết ngắn, nhỏ” chưa bao giờ giống với cơn hấp hối thật sự của người sắp chết như lần này.

Các nữ tu hoảng sợ gọi tên riêng của Têrêxa liên tục, nhưng chị vẫn bất động. Họ lay chuyển, chà xát và nâng chị dậy. Mọi nỗ lực của họ đều vô ích. Cơ thể chị vẫn lạnh buốt, cứng ngắc như đă chết.

As the attacks recurred, the illness extended its hold over Theresa's entire life. Some of her organs were never entirely free from pain. And from one attack to the next the respite granted her grew shorter and shorter. At first it was a matter of weeks but finally only of days. Những cơn đau càng tới nhiều, chứng bệnh càng ảnh hưởng sâu tới toàn bộ cuộc sống của Têrêxa. Một vài bộ phận trong người chị không bao giờ hết đau hẳn. Thời gian yên ổn giữa hai lần lên cơn càng ngày càng ngắn lại. Ban đầu là vài tuần, nhưng sau chỉ c̣n độ vài ngày.
Theresa faced these visitations in helpless despair. Once she had heeded the exhortation which her illness seemed to convey. She had left the world and had gone into the convent; but for a second time, and with increased brutality, it barred her way, thwarted her plans, and threw her out of the quiet ease of convent routine.

Theresa was destined to achieve greater things. She was to become the saint of ecstasy, and her illness was a contributing factor in the development of her sainthood. But as yet this sainthood, maturing under the veil of pain, was invisible to profane eyes.

2

Têrêxa đương đầu với những cơn ấy m3;ổ mọi dự phóng của chị, ném chị ra khỏi sự thư thả yên tĩnh của đời sống tu viện.

Têrêxa đă được tiền định để làm những chuyện vĩ đại hơn. Chột cách vô vọng. Chị đă một lần chú ư đến lời khuyên do cơn bệnh ấy truyền cho: là từ bỏ thế gian vào sống ở tu viện. Thế nhưng đây là lần thứ hai, mạnh mẽ hơn nhiều, chứng bệnh ấy đang cản lối chị, đánh đổ mọi dự phóng của chị, ném chị ra khỏi sự thư thả yên tĩnh của đời sống tu viện.

Têrêxa đă được tiền định để làm những chuyện vĩ đại hơn. Chị phải trở thành vị thánh của những cơn xuất thần. Bệnh t́nh của chị sẽ góp phần quan trọng vào quá tŕnh nên thánh của chị. Tuy nhiên sự thánh thiện đang chín dần dưới những cơn đau ấy, mắt trần không thấy được.

2

Don Alonso took his daughter out of the convent and called the best Castilian physicians to her bedside. They came, solemnly dressed in their gowns and caps, Galen's writings in one hand and the indispensable urinal in the other. In keeping with the prevailing methods of diagnosis, they felt the pulse and examined the urine with learned pedantry. Then they proceeded to consult their authority Galen and vied with each other in theoretical discussions about the cause of the patient's condition. But with aIl their protracted talk they could find no organic defect, and their theoretical conclusions and deductions failed to explain the fainting spells, the twitching of muscles, the convulsions and the tonic rigidity which characterized Theresa's case. It was clearly a case not provided for in the handbooks of medicine, and the prescriptions, which the doctors' syllogistic rationale seemed to call, remained ineffective.

Don Alonso đem con gái ḿnh ra khỏi tu viện và mời các bác sĩ giỏi nhất ở Castilla chữa chạy. Hết bác sĩ này rồi bác sĩ khác đến, áo măo chỉnh tề, tay ôm sách y khoa của Galen, tay mang lọ nước tiểu để xét nghiệm. Theo những phương pháp chẩn bệnh thực hành lúc ấy, họ bắt mạch và xét nghiệm nước tiểu cẩn thận. Rồi sau đó họ mới tra cứu tác phẩm y học của bậc thầy Galen và tranh nhau thảo luận về nguyên nhân của bệnh t́nh. Thế nhưng sau bao cuộc bàn căi dai dẳng họ vẫn không t́m ra một khiếm khuyết nào nơi các bộ phận cơ thể: những kết luận và suy luận lư thuyết của họ không thể giải thích được những cơn bất tỉnh, những bắp thịt vặn vẹo, những trạng thái co rút và sự rắn chắc mạnh khoẻ đặc biệt của Têrêxa. Rơ ràng đây là một trường hợp không được chỉ dẫn trong các sổ tay y học, và v́ thế những toa thuốc dựa vào sự phân tích theo kiểu tam đoạn luận của các bác sĩ đă hoàn toàn vô hiệu.

Since science had failed so pitifully, Don Alonso decided to entrust the treatment of his daughter to a lay healer, a so-called curandera. The one in Becedas whom he consulted enjoyed the reputation of having cured innumerable hope less cases. She was a sort of naturopath and practiced only in spring when the herbs began to sprout. It was now the beginning of winter, and so it was decided that Theresa should spend the intervening months with her sister Maria in the country. The trip was again interrupted in Hortigosa, and again the short stay at Don Pedro's brought about a decisive turn in Theresa's development.

V́ khoa học bó tay thất bại cách thảm hại, Don Alonso mới quyết định giao con gái ḿnh cho một bà thầy lang, quen gọi là “curandera” (gần như “thầy pháp” của ta vậy). Bà này, ở vùng Becedas, có tiếng là đă chữa được nhiều trường hợp tuyệt vọng. Bà chỉ chữa trị dựa vào thiên nhiên, chỉ hành nghề vào mùa xuân khi cỏ cây bắt đầu mọc. Bây giờ lại mới chỉ đầu mùa đông cho nên Têrêxa phải sống tạm vài tháng với chị Maria ở nhà quê. Trên đường về, cô cũng đừng chân tại Hortigosa, và một lần nữa cuộc ghé thăm ngắn ngủi ở nhà bác Phêrô đă đánh dấu một khúc quanh quyết định trong đời Têrêxa.

 

Về đầu trang  | Trở lại

Copyright © 2004 Giáo Hạt Phú Yên. All Rights Reserved.