|Trang chủ  | Prayers online | Vietcạtholic News | Giáo lư phổ thông | Giới trẻ |

  Con t́m bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không t́m người bạn không bao giờ phản bộ con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào. (ĐHV.130)   

 
Tiểu sử các Thánh

Têrêxa Avila

 

 

 

Người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh mà c̣n nhờ những lương thực thiêng liêng - Mt 4,4

 

Giới Thiệu Tác Phẩm

 

Têrêxa Avila

VỊ THÁNH HAY XUẤT THẦN

If the trip to Burgos had not killed her, she felt certain she could also survive the trip to Alba de Tormes. But in Alba a hemorrhage of the lungs forced her down, and this time for­ever. The first week she adhered strictly, in spite of her illness, to the convent rules she herself had laid down. She observed the hours of prayer and the fast, she performed all her domes­tic duties, but finally she recognized that her task now was not to master life but to triumph over death. And more cheerfully, more courageously, more determinedly than she had fulfilled the tasks of her life, she now accepted the task of dying. She was not inexperienced in the art of dying, and death itself, the goal of this last journey, had always been familiar to her. In her mystic experience of death, in her ecstatic poems of death, she had often anticipated its coming. For her, whose life here below had been lived simultaneously in this world and the next, death had no sting. For her, death was but the threshold which she crossed to live henceforth and forever in the realm of Life Eternal.

Nếu chuyến đi tới Burgos đă không giết chết mẹ th́ mẹ cũng cảm thấy chắc chắn sẽ sống sót đến Alba de Tormes. Tuy nhiên khi tới Alba mẹ bị xuất huyết ở phổi và phải nằm. Lần này là nằm vĩnh viễn. Những tuần đầu, dù yếu ớt nhưng mẹ vẫn cố giữ các luật của nhà ḍng do chính mẹ đặt ra. Mẹ giữ các giờ cầu nguyện và chay tịnh, làm tất cả các bổn phận trong nhà, nhưng cuối cùng mẹ nhận ra rằng bổn phận của mẹ lúc này không phải là làm chủ sự sống mà là chiến thắng cái chết một cách vui vẻ, can đảm, cương quyết c̣n hơn cả khi chu toàn các bổn phận sống. Mẹ đă có kinh nghiệm về nghệ thuật chết, và cái chết - mục tiêu của cuộc hành tŕnh cuối cùng này - xưa nay vẫn là điều quen thuộc với mẹ. Mẹ thường sống cái chết trước, mỗi khi có kinh nghiệm thần bí về cái chết, mỗi khi viết những bài thơ về sự chết. Đối với một người sống vừa ở thế giới này vừa ở thế giới sau cùng một lúc, th́ cái chết chẳng gây nhức nhối ǵ. Cái chết chẳng qua là ngưỡng cửa phải bước qua để từ đây vĩnh viễn sống trong vương quốc bất tử.

"Oh death, oh death," she had exclaimed a long time ago. "I know not who should be afraid of you since you are filled with life itself. What happiness to think that we are not going to a strange country but to our own." And in one of her most beautiful poems, "The Yearning of the Soul for a Reunion with God" she wrote:

All my life reposes here

In the certitude of death,

For this trust holds promises
To rejoin us life's own sphere;
Death, you source of life - appear,
All my hopes in you imply,
I'll die because I do not die.

Ngày xưa Têrêxa đă từng nói: “Ôi tử thần, tôi biết không có ai sẽ sợ ngươi nữa khi chính người đă chứa đầy sự sống. Thật là hạnh phúc khi biết rằng chúng ta sắp bước sang quê hương của ḿnh chứ không phải một nơi xa lạ ǵ.” Rồi trong một bài thơ tuyệt đẹp: “Nỗi khao khát của linh hồn muốn tới kết hợp với Thiên Chúa”, mẹ viết:

Cả đời tôi xin nằm lại đây

Trong cái chết chắc chắn này

V́ trông cậy chứa đầy hứa hẹn

Gặp lại nhau trong sự sống

Tử thần hỡi, ngươi là nguồn sống

Là nguồn hy vọng của ta ơi

Ta sẽ chết chỉ v́ ta không chết.

Franciscan was the cheerfulness of her acceptance of life, but Franciscan was also the seriousness of her acceptance of death. To the last it remained her great endeavor to do justice to her mission in the world, and when her nuns were as­sembled around her deathbed, she turned to them and said: "For the love of God I beg that you will take great care with the keeping of the Rule and Constitutions, and pay no attention to the bad example that this wicked nun has given you, and pardon me for it." Then she turned to the other side and said to her Master: "Oh my Lord, the longed-for hour has come at last, and my soul rejoices in abiding with you forever."

Mẹ vui tươi chấp nhận cuộc sống, nhưng nghiêm chỉnh chấp nhận cái chết, cả hai thái độ đều mang nét Phanxicô. Cho đến phút cuối cùng, mẹ Têrêxa nỗ lực để chu toàn sứ mạng trong thế giới này. Khi các nữ tu đă quây quần quanh giường bệnh, mẹ quay mặt lại, nh́n họ: “V́ t́nh yêu Chúa, tôi xin chị em hăy hết sức cẩn trọng tuân giữ Nội qui và Hiến pháp, đừng để ư đến những gương xấu mà người nữ tu xấu xa này gây ra, xin mọi người hăy tha thứ cho tôi”. Quay mặt vào tường ngài thưa với Chúa: “Lạy Chúa, giờ con trông mong đă tới, linh hồn con vui sướng v́ sắp được ở với Chúa măi măi”.

The last nine hours of her life on earth she spent in a coma. Between nine and ten o'clock at night she died on the fourth of October, 1582. According to the calendar of the saints it was the day of St. Francis of Assisi. For the world it was the eve of the inauguration of the Gregorian calendar.

Trong suốt chín giờ cuối cùng, Têrêxa hoàn toàn không biết ǵ. Đêm hôm đó, khoảng 9 tới 10 giờ mẹ qua đời, nhằm ngày 4.10.1582. Theo lịch kính các thánh đó cũng là ngày kính thánh Phanxicô Assisi. C̣n đối với thế giới đó là tối hôm trước ngày chính thức sử dụng lịch Grêgoriô.

Her soul had finally passed into God's eternal quietude, but her body continued to belong to the restlessness of the earth. After she had been allowed to rest for nine months in her tomb at Alba, she again found herself on a springless peasant cart moving along the rough roads of Spain in the direction toward Avila. This time the body of the saint obeyed the com­mand of Father Gracian, the general of the order of the discalced Carmelites.

Thế là cuối cùng linh hồn Têrêxa đă đi vào nơi yên nghỉ đời đời của Chúa, nhưng thân xác ngài vẫn tiếp tục thuộc về (xxx) mặt đất luôn sôi sục này. Sau khi nằm yên được 9 tháng trong mộ ở Alba, thân xác mẹ lại được đưa lên một cỗ xe quê mùa không nệm đi về Avila, theo quyết định của cha Gracian, bề trên tổng quyền ḍng Cát Minh  đi chân đất.

A satyrs' play appended to the sublime tragedy of a great life, that is in sum what this trip was like. Theresa had died on her last tour of inspection in Alba de Tormes. She had died in Alba and was interred in Alba. She was born in Avila and had been the prioress of a convent in Avila. Scarcely had the news of miracle-working powers in her body reached Avila when a violent dispute broke out between Alba and Avila as to which of the two held the better claim to the earthly re­mains of the saint. Gracian decided in favor of Avila. Not only because it was there that she had come into the world but also because it was there that the Lord had revealed Him­self to her for the first time, so that Avila was the birthplace of her sainthood as well as of the reform. But Alba de Tormes was in the domain of the. powerful house of the dukes of Alba, and they considered the body of the saint as part of their ducal treasure. The people of Avila had to proceed under the cover of great secrecy if they wanted to get hold of the body. Theresa must be stolen.

Có thể nói vắn tắt, chuyến đi này không khác ǵ một màn hài kịch của những người cuồng si được chắp nối với bi kịch cao đẹp của một vị thánh. Têrêxa đă chết trong chuyến kinh lư cuối cùng ở Alba de Tormes, đă chết và được chôn cất tại đó. Thế nhưng mẹ sinh ra ở Avila và đă từng làm bề trên một tu viện ở Avila. Những tin tức về thi hài làm phép lạ của mẹ vừa về tới Avila th́ đă có sự căi cọ kịch liệt giữa hai thành phố xem ai có tư cách hơn để giữ thi hài thánh nhân. Cha Gracian bênh vực Avila không những v́ đó là nơi Têrêxa chào đời mà c̣n là nơi khai sinh sự thánh thiện cũng như khai sinh cuộc cải cách. Thế nhưng Alba de Tormes là lănh địa của các công tước quyền thế, họ coi thi (xxx) hài thánh nhân là một phần tài sản của họ. Dân chúng ở Avila đành phải tiến hành một cách kín đáo nếu họ muốn có thi hài của mẹ; họ phải ăn cắp thôi.

Gracian had taken the Carmelite prioress at Alba into his confidence, and she, in order to forestall every possible inter­ference, had all her nuns take part in an early morning choral service. While the nuns were singing, their miracle-working saint was removed from her tomb, loaded on a cart and sent off to Avila.

No sooner had the body been interred in Avila than it began to work miracles. They were kept strictly secret because the ducal house of the Albas must not hear about them. Also the subsequent exhumation of the body, which was undertaken­ by a special delegation of churchmen, took place behind closed doors, and all the participants had to vow absolute silence. But in spite of all vows the whole town of Avila knew the following day that the body, when it was removed from its coffin, had shown no signs of decomposition and that one of its hands was stretched out, clearly as a gesture of blessing which she meant to bestow upon her native town. It took exactly as long as it takes a mounted messenger to get from Avila to Alba, before the nuns at Alba were informed that the tomb before which they mourned and prayed was empty and that the body of their saint stretched out its blessing hand over the town of Avila.

Cha Gracian đă tiết lộ bí mật ấy cho bà bề trên ở Alba và để chận trước mọi sự can thiệp bất ngờ, bà đă bắt các nữ tu có mặt để hát kinh phụng vụ từ sáng sớm. Trong khi các nữ tu đang hát th́ vị thánh hay làm phép lạ được dời khỏi mộ, chất lên một cỗ xe thô sơ và chạy về Avila.

Thi hài ấy vừa được chôn xong ở Avila th́ các phép lạ bắt đầu thấy xuất hiện. Người  ta giữ các phép lạ ấy rất kín v́ không muốn để nhà công tước ở Alba hay tin. Việc chôn cất thi hài tiếp sau đó cũng được một phái đoàn đặc biệt gồm các chức sắc của Hội Thánh tiến hành đằng sau các cánh cửa đóng kín, và mọi người có mặt lúc đó phải thề giữ im lặng tuyệt đối việc này. Thế nhưng dù thề thốt bao nhiêu đi nữa, ngay ngày hôm sau cả thành Avila đều biết khi lôi (xxx) xác ra khỏi ḥm ai cũng nh́n nhận là xác không có dấu hiệu ǵ tan vữa cả, một bàn tay của mẹ ch́a ra ngoài như để ban phép lành cho tỉnh nhà ḿnh. Tin ấy đến tai dân thành Alba rất nhanh. Các nữ tu ở Alba bỗng hay tin rằng ngôi mộ mà họ đang đứng khóc và cầu nguyện đằng trước này hoàn toàn trống rỗng, thánh nhân đă ch́a tay ban phép lành cho thành Avila.

Out of fear of the duchess of Alba the prioress ordered her nuns to preserve absolute silence in this matter. A young lay sister, however, who was working in the kitchen, listened at the door, baked a birthday cake for the ducal patroness, and baked into it a little note in which the whole story of the stolen body and the miracles it had worked in Avila was reported in full.

V́ sợ công tước phu nhân, bà bề trên ra lệnh các nữ tu phải tuyệt đối giữ kín chuyện này. Tuy nhiên một chị giáo dân c̣n trẻ giúp việc trong bếp lén nghe ngoài cửa, đă nhét một tờ giấy nhỏ vào trong chiếc bánh sinh nhật mừng công tước phu nhân, cho biết toàn bộ câu chuyện xác bị đánh cắp và những phép lạ đă xảy ra tại Avila.

The duchess was touched by the simple gift of her devout nuns. She cut the cake with her own ducal hand but got into a frenzy of rage when she read the message of the baked-in note. She forgot her birthday party and all her guests and rushed from her palace out into the street and, running in the direction of the convent, she kept screaming in pitiful lament: "They have stolen my saint! They have stolen my Santa Teresa!" What infamous wrong, crying to high heaven, had been done her! To be sure, Theresa was born in Avila, but she had died in Alba, and from Alba she had ascended to heaven. Theresa's body was the rightful property of Alba. The duchess of Alba need not tolerate such infamous thievery. She dis­patched an express courier to the pope in Rome, requesting him to right the wrong that Alba had suffered. The ducal house of the Albas was a powerful pillar of Roman might. The pope ordered the body to be returned. In order to fore­stall every possible interference, it was necessary to proceed under the cover of great secrecy. Theresa's body must be stolen again. One night, when the nuns, the bishop and the whole town were fast asleep, a covered wagon rumbled through the city gate of Avila. It carried Theresa's body back to Alba.

Công tước phu nhân rất cảm động trước món quà đơn sơ của các nữ tu. Sau khi cắt bánh, bà bỗng nổi giận khi đọc được mẫu tin đó. Bà quên cả bữa tiệc sinh nhật, quên cả (xxx) khách khứa, từ cung điện bổ nhào ra đường, và vừa chạy về phía tu viện vừa gào khóc thảm thiết: “Người ta đă cướp xác vị thánh của tôi! Người ta đă cướp xác thánh Têrêxa!”. Bà phải chịu một tai họa bỉ ổi, một nỗi oan ức phải kêu thấu tới trời! Đành rằng Têrêxa sinh ở Avila nhưng ngài đă chết ở Alba và từ Alba ngài được lên thiên đàng. Xác Têrêxa phải thuộc quyền sở hữu của Alba. Công tước phu nhân không thể chịu được sự ăn cắp bỉ ổi đó. Bà cấp tốc sai một phái viên tới gặp Đức Giáo Hoàng ở Rôma, yêu cầu ngài đền bù thiệt hại mà Alba phải chịu. Ḍng họ Alba xưa nay vốn là cột trụ thế lực ở Rôma. Đức Giáo Hoàng ra lệnh phải trả lại thi hài thánh Têrêxa. Để đề pḥng mọi can thiệp có thể xảy tới phải tiến hành việc trao trả hết sức bí mật. Lại phải ăn cắp xác Têrêxa thôi. Một đêm kia, đang khi các nữ tu, giám mục và cả thành Avila c̣n yên giấc điệp th́ một cỗ xe bịt bùng chạy qua cổng thành. Nó đă mang thi hài Têrêxa về lại Alba.

But under the high altar of the church at Alba, where Theresa's body was now entombed, there was no final rest for it yet. Again and again the tomb was opened by special com­missions charged to ascertain that her body was really unaf­fected by mortal decomposition. And soon the news of her miracle-working powers attracted devout thieves who did not shrink back from plundering her tomb.

Tuy nhiên, dưới chân bàn thờ của thánh đường lớn tại Alba – nơi chôn cất Têrêxa - thánh nhân vẫn chưa được yên. Ngôi mộ của ngài được mở đi mở lại để các ủy ban đặc biệt kiểm nhận là xác ngài thực sự không bị rữa nát. Rồi không bao lâu sau tin tức về các phép lạ do thi hài thánh nhân đem lại đă lôi kéo các tên trộn mộ đạo âm mưu cướp lại xác đó.

Besides this comedy of errors, however, country and church were to bestow more dignified honors on the saint of the dis­calced reform. The Spanish Cortes and the king of Spain appealed together to Pope Urban VIII, who then declared St. Theresa, jointly with St. James, a patron of Spain. Meanwhile the process of her beatification was well underway. In the year 1614, seventy galleys of the Genoese fleet, under the command of Lord High Admiral Don Carter Porin, arrived at the port of Seville to deliver the decree of beatification of the Seraphic Theresa. Eight years later, forty years after her death, the seraphic madre was finally canonized together with Ignatius of Loyola and Francis Xavier.

2

Tuy nhiên, ngoài tṛ hề này, Nhà nước và Hội Thánh đă phải ban tặng nhiều danh dự đặc biệt cho vị thánh của công cuộc cải tổ ấy. Triều đ́nh và nhà vua Tây Ban Nha đă hợp tác xin Đức Giáo Hoàng Urban XIII công bố nhận thánh Têrêxa làm bổn mạng nước Tây Ban Nha, cùng với thánh Giacôbê. Hồ sơ phong thánh của ngài bắt đầu được xúc tiến. Năm 1614, dưới sự hướng dẫn của đô đốc Don Carter Porin, bảy mươi chiếc trong đoàn tàu của cảng Genoa đến cảng Sevilla để trao sắc lệnh phong chân phúc cho Têrêxa. Rồi tám năm sau, tức bốn mươi năm sau khi mất, Têrêxa được phong thánh cùng với thánh Inhaxiô Lôiôla và Phanxicô Xaviê.

2

Among the names of those who supported Theresa's beati­fication are not only Christian potentates and dignitaries of the church but also the two greatest Spanish authors of the time: Miguel de Cervantes and Lope de Vega. For she, who was here to be admitted into the ranks of the blessed, had been granted, together with the grace of divine visions, also the grace of the word. She had lived the life of a saint and with the genius of a great poet had known how to put her experience into words. The ineffable had befallen her. God had appeared to her in His substanceless essence. And the poet in her had found the words which carried it over into the realm of tangible forms. She found similes for that which nothing resembles, images for what no one imagined and words for what was told her without speech. Her comparisons and her metaphors were considered by Cervantes as "jewels of poetry." She was carried away by ecstasies. In her raptures she was raised into heaven. And the rhythm of her ecstasies and the bliss of her raptures were transposed by her into the rhythm and the beauty of her verses and stanzas.

Trong số những người ủng hộ việc phong thánh Têrêxa đă có không những các vua quan Kitô giáo và các chức sắc Hội Thánh, mà c̣n có cả hai tác giả lớn của Tây Ban Nha lúc đó là Micaen Cervantes và Luis de Vega. V́ Têrêxa đă được Chúa ban cho không những ơn có các thị kiến mà cả những ơn ngôn ngữ nữa. Mẹ đă sống cuộc đời của một thánh nhân và, với tài năng của một đại thi hào, mẹ đă diễn tả được kinh nghiệm ấy của ḿnh thành văn chương. Đấng khôn tả đă hiện diện với mẹ trong chính bản chất hoàn toàn tinh thần của ḿnh. Thế mà nhà thơ của chúng ta đă t́m ra từ ngữ để biến kinh nghiệm ấy thành những h́nh thức có thể cảm được. Mẹ đă t́m ra những h́nh ảnh để diễn tả cái mà trên đời này không có ǵ tương tự, cái không thể nghĩ ra; mẹ đă t́m ra ngôn ngữ để kể lại những điều được kể cho ḿnh một cách vô ngôn. Cervantes coi những h́nh ảnh so sánh và ẩn dụ của mẹ là những “hạt ngọc của thi ca”. Mẹ đă xuất thần và trong những lúc đó Mẹ được nhấc lên trời. Nhịp độ của những cơn xuất thần cũng như hạnh phúc của những kinh nghiệm ấy đă được mẹ đưa vào nhịp độ và vẻ đẹp của những câu thơ, những đoạn tứ tuyệt.

Teresa de Cepeda, who was now a member of the com­munity of the blessed, was a poet by the grace of God. Her fame as a poet is recognized in the history of letters and lives on through modern times, while her work as a saintly re­former of the order of the Carmelites is merely a factor in the history of the church. And yet, everything she wrote, with all its immortal beauties, was meant exclusively to be of service to her reform; it has been loved and admired by readers everywhere for close to four hundred years, but it was conceived in all humility for the benefit of a few discalced nuns.

Têrêxa de Cepeda bây giờ đă trở thành một thành phần trong cộng đồng các thánh, cũng được Chúa ban cho trở thành thi sĩ. Danh tiếng của mẹ về mặt này đă được nh́n nhận trong lịch sử văn chương và c̣n sống qua nhiều thời đại; c̣n sự nghiệp cải cách ḍng tu của mẹ chỉ được biết đến trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên mọi điều mẹ viết ra với vẻ đẹp bất tử ấy chỉ là để phục vụ công cuộc cải tổ ḍng tu. Những vần thơ ấy được độc giả khắp nơi ưa thích và ngưỡng mộ gần 400 năm nay, thật ra chúng chỉ được thai nghén một cách khiêm tốn để phục vụ một thiểu số nữ tu đi chân đất thôi.

Everything in Theresa's life in interdependent. The vision­ary cannot be separated from the patient, nor the practical reformer from the contemplative mystic. As the one was al­ways caused and determined by the other, so also did the poet come to the fore through the militant nun.

Mọi sự trong cuộc đời Têrêxa đều lệ thuộc nhau. Con người thấu thị nơi mẹ không thể tách rời con người bệnh tật, nhà cải cách thực tiễn không thể đứng độc lập với nhà thần bí chiêm niệm. Vai tṛ này luôn luôn bị quyết định bởi vai tṛ kia. Tư thế nhà thơ có nổi bật được cũng là nhờ tư thế của một nhà tu xông xáo.

When her plans for the foundation of her first convent be­came known and started a furious attack of abuse against her, her father confessor made her write down a complete confes­sion which was to supply reliable and detailed information about the outer and inner course of her life. This was the oc­casion of the first version of her famous Vida. The second version, which is the one known today and which differs from the first in that it contains the story of Theresa's discalced foundations, was written at the official request of the Grand Inquisitor Francisco Soto y Salazar and was to assist the experts of the Holy Office in their investigation of the disputed case of the dissenting nun of the Carmelite order. This work Theresa composed while she was prioress of St. Joseph's at Avila, after her day's work, when her nuns had gone to rest. At the time she was almost fifty and still ailing. In her little cell she had no chair, no table, no window panes. It was winter, and the biting Castilian wind blew through the canvas­covered frames. The old madre sat crouching on the tile floor, pressing the parchment against the window board and writing in great haste one sheet after another, often hardly able to move her painfully frost-bitten fingers. But she would not give in and sat there and wrote, night after night, often till dawn, often till it was time for her to get up and attend morning mass.

Khi những kế hoạch thành lập tu viện đầu tiên bị tiết lộ, tạo ra một cuộc công kích dữ dội chống lại Têrêxa, cha giải tội của ngài đă bảo ngài viết một bản thú nhận thật đầy đủ cho biết chi tiết cuộc sống bên ngoài và bên trong tâm hồn ngài. Đây là dịp để ngài viết bản “Tiểu sử” (“Vida”) đầu tiên của ḿnh. Bản tiểu sử thứ hai - bản hiện nay được phổ biến, khác bản trước ở chỗ nó có kể lại việc thành lập các tu viện Cát Minh đi chân đất - cũng được viết ra theo yêu cầu chính thức của Chủ tịch Toà điều tra tôn giáo là Francisco Soto y Salazar và nhằm giúp các chuyên viên trong bộ Thánh vụ điều tra vụ tranh chấp với các nữ tu bất măn trong ḍng. Mẹ Têrêxa hoàn thành tập này đang khi làm bề trên tu viện thánh Giuse ở Avila, sau khi các nữ tu đă ngủ. Lúc đó ngài đă gần năm mươi tuổi và c̣n đau yếu. Trong căn tu pḥng nhỏ không bàn ghế, không có các ô cửa kính. Lúc đó lại đang mùa đông, những cơn gió cắt da cắt thịt ở Castilla thổi qua những khung cửa bịt vải. Mẹ bề trên già yếu ấy ngồi cúi ḿnh trên nền nhà lót gạch, ép tấm giấy sát khung cửa và viết vội viết vàng hết trang này sang trang khác, bằng những ngón tay đă bị tê cóng. Ngài vẫn không đầu hàng, mà cứ ngồi viết, hết đêm này tới đêm khác, thường kéo dài cho tới tờ mờ sáng hay thậm chí tới giờ thức dậy đi dự lễ.

During these icy nights a masterpiece was composed on the window board of the little cell. She did not find the time to polish and cut, to remove grammatical errors and pay atten­tion to correct punctuation. The whole manuscript of the Vida, as it is now kept at the Escorial, shows but fourteen cor­rections, but such flaws are more than made up for by literary merits, which no other autobiographical work of world litera­ture can claim with the possible exception of St. Augustine's Confessions.

Trong những đêm lạnh giá đó, một kiệt tác đă được thực hiện trên khung cửa của căn buồng nhỏ, ngài không c̣n th́ giờ để lau chùi và cắt xén những tấm giấy bằng da cho đẹp, cũng không có giờ để sửa các lỗi văn phạm, lỗi chấm câu. Toàn bộ bản thảo tập “Tiểu sử” ấy - hiện được giữ ở Escorial - chỉ có mười bốn chỗ sửa, nhưng những sai sót ấy đă được bù đắp bởi giá trị văn chương của toàn bộ, một điều mà không có tác phẩm tự thuật nào trong văn chương thế giới có thể đạt được, ngoại trừ cuốn “Tự thú” của thánh Âu Tinh.

The keenness and penetration of her self-analysis amazes modern psychologists and induced the great Danish philos­opher Harald Hoeffer to list St. Theresa among the founders of present-day psychology. The conciseness of her account of her illness is not surpassed by any modern pathography, and, aside from Dostoevski, no creative genius has equaled this saintly self-analyst of the sixteenth century in her masterly in­sight into the functional interdependence of disease and crea­tive powers. Yet all these qualities of her work result simply from the endeavor of a God-fearing nun to present to her con­fessor and to her judges a factual confession in which nothing is withheld and nothing glossed over. Who reveals himself honestly, reveals himself fully. And thus there emerges from Theresa's Vida a complete. and lifelike picture of her charac­ter an extraordinary personality, a woman teeming with life, of great determination, humor and sensitivity. And precisely these traits of her character emerge also from her hundreds of fascinating letters, which have been collected in three heavy volumes.

Sự phân tích bản thân một cách sâu sắc xuyên suốt trong tác phẩm làm các nhà tâm lư hiện nay phải ngạc nhiên, và khiến đại triết gia người Đan mạch là Harold Hoeffer phải xếp Têrêxa vào số các nhà sáng lập ra khoa tâm lư hiện đại. Không có chỗ nào mô tả bệnh lư khúc chiết hơn bản tường tŕnh bệnh t́nh của Têrêxa thực hiện, và ngoài Dostoevski, không có thiên tài nào có thể sánh với nhà phân tích của thế kỷ 16 đó, khi tŕnh bày rất rơ ảnh hưởng hỗ tương của bệnh tật và sức sáng tạo. Tuy nhiên tất cả những đặc điểm này chỉ là do người nữ tu kính Chúa ấy muốn tŕnh bày cho cha giải tội và các thẩm phán ở Toà điều tra một bản tự thú hết sức trung thực, không giấu giếm hay che đậy điều ǵ. Ai thố lộ trung thực sẽ là người thố lộ đầy đủ nhất. V́ thế, từ tập “Tiểu sử” ấy ta đă rút ra được một bức tranh mô tả đầy đủ và trung thực về chính ngài - một nhân vật ngoại thường, một phụ nữ giàu sinh lực, có ư chí, óc trào phúng và sự nhạy cảm. Những nét đặc biệt này cũng hiện rơ trong cả trăm lá thư hấp dẫn của ngài, đă được thu thập lại thành ba bộ dày cộm.

Her confession was written for her confessor and for the Inquisition; for no one else. Her second work was conceived for her nuns. Immediately after the completion of her Vida, she began work on her Way of Perfection. Here she shows the way which she herself had found after many errors and much suffering. She, who had learned through experience, teaches the inexperienced step by step about the road which leads from vocal prayer to the prayer of silence, from meditation to contemplation, from physical asceticism to the highest form of spiritual asceticism, to the uttermost limits of human exist­ence where the second realm begins in which the Lord Him­self welcomes the pilgrim. For although Theresa had been exalted to the noble rank of sainthood by the grace of God, her conception of grace, like that of her contemporary St. Ignatius of Loyola, was deeply democratic, and she held that perfection is atttainable for anyone who truly strives after it. She admonished her nuns to seek nothing but the highest: "God deliver you, sisters, from saying when you have done something that is not perfect:

 

 

Những lời tự thú của ngài được viết ra cho cha giải tội và cho Toà điều tra chứ không cho ai khác. C̣n công tŕnh thứ hai tức là các thư - được thực hiện cho các nữ tu của ngài. Ngay sau khi hoàn thành tập tiểu sử, ngài bắt đầu viết cuốn “Đường hoàn thiện”. Trong đó ngài kể lại con đường mà ngài đă khám phá ra được sau bao sai sót và đau khổ. Ngài học lại điều đó từ kinh nghiệm của ḿnh và nay ngài chỉ lại cho những ai chưa kinh nghiệm biết con đường đi từ khẩu nguyện đến cầu nguyện bằng thinh lặng, từ suy niệm đến chiêm niệm, từ khổ chế thân xác đến khổ chế tinh thần ở mức cao nhất, hay những giới hạn xa nhất của cuộc sống con người, nơi đó bắt đầu thế giới thứ hai, có Thiên Chúa đang chờ đón người lữ khách. Dù được nâng lên hàng cao đẳng trong các thánh do một ân sủng của Thiên Chúa, nhưng quan niệm của ngài về ân sủng, giống quan niệm của một thánh nhân cùng thời là Inhaxiô Lôiôla, là một quan niệm rất dân chủ: ngài cho rằng bất cứ ai thực sự cố gắng đều có thể đạt được sự hoàn thiện. Ngài khuyên các nữ tu của ḿnh đừng t́m ǵ hết mà chỉ t́m những sự hoàn hảo nhất: “Khi chị em làm một điều ǵ không hoàn hảo, Chúa không cho phép chị em nói:

 

`We are no angels, we are no saints.' Though we are not, it is the greatest help to believe that with God's aid we can be. This sort of presumption I wish to see in this house." And elsewhere: "It is true that His Majesty grants His favors to whom He chooses; yet if we sought Him as He seeks us, He would give them to all of us. He only longs for souls on whom He may bestow them, for His gifts do not diminish His riches."

 

“Tôi không phải là thiên thần cũng không phải là thánh.” Dù không phải là thiên thần hay thánh nhân, nhưng ta sẽ được nâng đỡ rất nhiều nếu tin rằng ta có thể trở thành thiên thần hay thánh nhân với sự giúp đỡ của Thiên Chúa. Tôi muốn thấy niềm tin đó trong nhà này”. Ở một chỗ khác Têrêxa lại nói:

“Đúng là Chúa ban ơn huệ cho những kẻ Ngài chọn. Thế nhưng nếu ta cứ t́m Ngài như Ngài t́m ta, Ngài sẽ ban cho tất cả chúng ta những ơn huệ đó. Ngài chỉ khao khát những linh hồn để Ngài có thể đổ những ân huệ ấy xuống, v́ có cho đi nhiều như thế sự phong phú giàu có của Ngài cũng không giảm đi”.

Theresa who had herself been transformed and transfigured by exercises of prayer, imparted in the Way of Perfection her knowledge to her nuns. Her directions culminate in her dis­cussion of the Lord’s Prayer in which she succeeds in making her readers partake of the whole invigorating power of this prayer. Only Leo Tolstoi, the saint of Jasnaja Poljana, equals Theresa in her grasp of its spiritual immediacy.

Một người đă nhờ thực hành cầu nguyện mà được biến đổi, biến dạng, nay muốn thông chia sự hiểu biết ấy cho các nữ tu của ḿnh trong cuốn “Đường hoàn thiện”. Những lời chỉ dạy của ngài đạt tới đỉnh cao trong bài luận bàn về kinh Lạy Cha. Ở đây ngài đă thành công khi làm cho độc giả cảm được sức mạnh bồi dưỡng của kinh ấy. Chỉ có Leo Tolstoi. Vị thánh của Jasnaja Piljana là sánh kịp Têrêxa trong việc cảm nhận sức mạnh của kinh Lạy Cha.

The striking imagery, the originality of similes, the passion­ate eloquence, which are the literary qualities of this work, resulted from the practical endeavor of a prioress to show her nuns the way of perfection. Her mystical experience of God, however, could not be transmitted by the most convincing explanation, by the most exact prosaic description, and since she still wanted to share it with her daughters, she found for it, for their benefit, the poetic form of her hymns. Thus were conceived her most beautiful songs, the “Calls of the Soul to God,” and her exquisite “Spiritual Canticles.”

H́nh ảnh cảm kích, những so sánh độc đáo, bút pháp hùng hồn, đó là những đặc điểm văn chương của toàn bộ tác phẩm này. Đó cũng là kết quả của ḷng nhiệt thành nơi một tu viện trưởng muốn dạy môn sinh của ḿnh con đường hoàn thiện. Tuy nhiên kinh nghiệm thần bí của ngài về Thiên Chúa không thể được truyền đạt một cách tường tận, chính xác tối đa được. Rồi để chia sẻ cho con cái ḿnh điều ấy ngài đă t́m đến một phương thế khác là dùng h́nh thức thi ca của các thánh thi mà diễn đạt. Từ đó mới có những bài thơ trác tuyệt như “Tiếng gọi của linh hồn” và “những thánh ca tâm linh”.

In 1577, ten years after the completion of the Way of Perfection and five years before her death, Theresa wrote at Toledo her third and last major work, the Interior Castle. Thus the story of her soul is rounded off as a trilogy; the mystic directions of the leader of the discalced Carmelite nuns are completed; and the unique art of constructive analy­sis of the poet Theresa attains consummate and classical per­fection. This work, like her earlier ones, was written at the behest and for the benefit of the movement of her reform. Her confessor, Father Jerome Gracian, who meanwhile had been made general of the order of the discalced Carmelites, ordered her to reduce the mystic experiences of her reunion with God to a systematic presentation, suitable for the instruc­tion of her nuns.

Năm 1577, nghĩa là mười năm sau khi hoàn thành cuốn “Đường hoàn thiện” và năm năm trước khi qua đời , tại Toledo ngài đă viết tác phẩm thứ ba và cũng là tác phẩm lớn cuối cùng của ngài, tựa đề “Lâu đài nội tâm”. Như vậy chuyện linh hồn của ngài được kể lại đầy đủ như một tác phẩm ba tập, những chỉ dẫn thần bí của người lănh đạo các nữ tu đi chân đất đă được ghi lại xong xuôi, và nghệ thuật phân tích độc đáo của nhà thơ Têrêxa đă đạt tới đỉnh cao. Tác phẩm “Lâu đài nội tâm”, cũng giống như các tác phẩm trước được viết ra do sự thúc bách và v́ ích lợi của phong trào cải tổ ḍng tu. Cha giải tội của Têrêxa là Jeroma Gracian – nay đă làm bề trên tổng quyền ḍng Cát Minh đi chân đất – đă ra lệnh cho ngài tŕnh bày những kinh nghiệm thần bí của ngài trong việc kết hợp với Thiên Chúa thành một hệ thống, có thể dùng để dạy dỗ các nữ tu.

By order of one of her earlier confessors at Avila, Theresa had told in her Vida the truthful and detailed story of God's grace and her visions; in her Way of Perfection she had showed her nuns the way of prayer which she herself had taken to God. And now Father Gracian requested from her a systematic account of her inner kingdom of God.

Theo lệnh một cha giải tội trước ở Avila, Têrêxa đă thuật lại chi tiết và trung thực ơn Chúa và những thị kiến của ḿnh trong tập “Tiểu sử” (Vida). Rồi trong tập “Đường hoàn thiện” ngài lại chỉ cho các nữ tu cách cầu nguyện với Chúa mà chính ngài đă thi hành. Bây giờ, cha Gracian lại yêu cầu ngài tŕnh bày một cách hệ thống thế giới của Thiên Chúa trong tâm hồn ngài.

She was keenly aware of the painful discrepancy between the experi­ence of ecstasy and the verbal rendering of it. "Some of it," she writes, "is so sublime that it is not fitting for man, while living in this world, to understand it in a way that can be told; how this which we call unio mystica is effected and what it is I cannot tell. Mystical theology explains it, and I do not know the terms of science; nor can I understand what the mind is, nor how it differs from the soul or the spirit either."

Ngài ư thức rất rơ quăng cách đáng tiếc giữa kinh nghiệm xuất thần và việc diễn tả kinh nghiệm ấy thành lời. “Một đôi điều trong kinh nghiệm ấy cao siêu đến nỗi đang khi c̣n sống tại trần gian này con người không thể hiểu được để có thể kể lại cho người khác. Tôi không thể tŕnh bày làm sao cái ta quen gọi là “nhiệm hiệp” (“unio mystica”) đă xảy ra và bản chất của nó là ǵ. Thần học cố gắng giải thích điều đó, c̣n tôi không biết những thuật ngữ khoa học, cũng không hiểu tâm trí là ǵ, khác với linh hồn hoặc thần khí thế nào.

When Father Gracian asked her to write The Interior Castle, she replied : "Why do you want me to write? Let learned men write who have studied, for I am a fool and won't know what I am saying: I will use one word in place of another, and I will do harm. There are plenty of books on these matters. For the love of God I wish you would Iet me spin my flax, follow my chores and duties of religion, like the other sisters, for I am not fit for writing." And when she gave in and began her work in a spirit of obedience, she wrote the opening sentence : "I know not what to say nor how to com­mence this work which obedience has laid upon me."

Khi Cha Gracian bảo ngài viết cuốn “Lâu đài nội tâm”, ngài đáp lại: “Tại sao cha muốn con viết? Cha hăy để những người thông thái, những người đă học hỏi viết, v́ con chỉ là đứa ngu đần không biết ḿnh đang nói ǵ: con sẽ dùng chữ này vào chỗ này thay v́ vào chỗ khác, và con sẽ làm hại độc giả nhiều hơn. Có nhiều sách nói về vấn đề này rồi. V́ t́nh yêu Chúa, con mong cha để con ngồi dệt vải, làm các việc vặt trong nhà và các bổn phận trong ḍng cũng như các chị em khác, con không có khiếu viết”. Thế nhưng cuối cùng ngài phải chấp nhận. Khi ngồi viết trong tinh thần vâng phục, ngài đă mở đầu tác phẩm như sau: “Tôi không biết nói ǵ và phải bắt đầu công việc này thế nào - một công việc mà v́ đức vâng lời tôi phải thi hành.”

Quite apart from the difficulty of the subject, the circum­stances under which she commenced this work were the most unfavorable that could be imagined. The year 1577 was among the hardest of her life. It was a year of desperate struggles which she was forced to wage with tied hands. Her adversaries Tostado and Sega struck blow upon blow against the reform; the mitigation circulated calumniatory pamphlets against her; she was exiled to her convent at Toledo and con­demned to restrict her fight for the reform to letter writing. On the 2nd of June she began to write The Interior Castle. Two weeks later she had to interrupt and could resume her work only by the middle of November.

All these vicissitudes were aggravated by illness. An epi­demic of influenza which had spread all over Spain broke Theresa's power of resistance, and when she finally recovered, her old ills came back with increased violence.

"I must tell you what is going on in my head," she says in The Interior Castle. "I suffer from noises which make it al­most impossible for me to write about essential business.

Không kể những khó khăn của đề tài, những hoàn cảnh biên soạn tác phẩm của ngài cũng hết sức bất lợi. Năm 1577 là một trong những năm khó khăn nhất của đời ngài. Đó là năm bị “trói tay trói chân” trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng. Các đối thủ của ngài là Tostado và Sega đă giáng hết đ̣n này đến đ̣n khác trên công cuộc cải tổ của ngài. Phe theo qui chế châm chước đă cho phổ biến những tập tài liệu nhục mạ ngài. Ngài bị đày tới tu viện Toledo và đành phải giới hạn công cuộc đấu tranh ấy trong những thư từ thôi. Ngày 2.6 ngài khởi sự viết cuốn “Lâu đài nội tâm”. Hai tuần sau ngài phải cắt ngang công việc và măi giữa tháng 11 mới tiếp tục lại.

Những thăng trầm ấy càng nặng nề do t́nh h́nh sức khoẻ yếu kém của ngài. Một trận dịch cúm lan tràn cả nước Tây Ban Nha lúc đó đă phá tan sức kháng cự của ngài, và khi b́nh phục, những cơn bệnh cũ lại tái phát mănh liệt.

 

Trong tác phẩm đó ngài viết: “Con phải kể cho cha nghe những ǵ đang diễn ra trong đầu óc con. Con phải nghe những tiếng động khủng khiếp và không thể nào tập trung viết những điểm chính được..

It seems as though many swollen rivers were rushing within my brain over a precipice; and then again, drowned by the noise of the water, are voices of birds singing and whistling. I weary my brain and increase my headaches by striving to obey."

Yet no sooner had she begun to write than she achieved the impossible and managed to describe the divine events which she had witnessed in her visions. The fitting expression for the inexpressible came with easy precision. The distinction be­tween the various types of vision was carried through by this humble and untutored nun with a degree of lucidity which scholars later on have compared to that of the great scholastic thinker St. Thomas Aquinas. All external troubles vanished, the whole world of external events faded away while she was writing The Interior Castle. And even the interruption of full five months, which the struggle for the reform imposed upon her, seemed to last but one second. When she took up her work again, it was as though she were merely proceeding on a new sheet. The whole turmoil of rushing rivers, the singing and whistling of birds in her head, was silenced as soon as she set out to write about divine truth and the meaning of all creation.

 

 

Con có cảm tưởng như nhiều con sông tràn bờ đă ào ạt chảy xuống vực thẳm trong đầu óc con, rồi tiếng nước ầm ầm nhận ch́m tất cả những tiếng chim ca hót. Đầu óc con mệt mỏi, con nhức đầu mỗi lúc một nặng v́ phải cố tuân theo lời cha”.

Tuy nhiên, hễ cầm bút là ngài làm được ngay những điều tưởng là không thể làm được, như khi mô tả những biến cố thần linh đă thấy trong các thị kiến. Ngài bỗng nhiên t́m ra những thành ngữ thích hợp để diễn tả những điều khôn tả một cách chính xác và dễ dàng. Người phụ nữ khiêm tốn, không được học hành bao nhiêu này đă phân biệt được các loại thị kiến khác nhau một cách minh bạch đến độ sau này các học giả đă sánh với sự phân biệt sáng suốt của nhà đại tư tưởng kinh viện là thánh Tôma Aquinô. Mọi xáo trộn bên ngoài hay toàn bộ thế giới với những biến cố ấy như biến mất, khi ngài cầm bút viết cuốn “Lâu đài nội tâm”. Ngay cả khi phải gián đoạn suốt năm tháng để đấu tranh cho công cuộc cải tổ dường như cũng chỉ dài chừng một giây. V́ khi bắt đầu công việc trở lại, ngài cảm thấy không khác ǵ dừng lại để lật qua trang mới. Tiếng ồn ào của sông nước, tiếng chim ca hót trong đầu ngài bỗng im bặt, mỗi khi ngài cầm bút viết những sự thật thần linh và ư nghĩa của thụ tạo.

 

 

Let all physical ills torture her, the nun who was describing the treasure of her soul, did not feel her body. But then, was this really an ailing, untutored nun, who sat there writing? Ecstasy was writing forher! Ecstasy, which knows all words and similes and which has the power to express the inexpressible; which knows more about the distinctions be­tween various kinds of vision than the most learned doctors of the church. And such ecstasy is not a thing of this world. Persecutions can not harm it. Rushing waters and the twitter of birds cannot disturb it. Such ecstasy it was that wrote down on paper Theresa's Interior Castle in four short weeks.

Các cơn bệnh cứ hành hạ ngài đi khi ngài bắt đầu mô tả kho tàng trong tâm hồn ḿnh, v́ lúc đó ngài đâu c̣n cảm thấy thân xác nữa. Đây có đúng là người nữ tu đau ốm quanh năm, không thành thạo công việc không, đang ngồi viết đó không? Dường như chính cơn xuất thần đang viết thay cho ngài. T́nh trạng xuất thần như chỉ cho ngài thấy các từ, các h́nh ảnh so sánh để diễn tả cái khôn tả, giúp ngài sành về các thị kiến c̣n hơn cả các bậc tiến sĩ thông thái nhất của Hội Thánh. T́nh trạng đó không phải là một thực tại của thế giới này, nên có bách hại tra tấn cũng không làm hại nó được. Ḍng nước có tuôn đổ, chim có ríu rít rối cả lên, cũng không thể quấy rầy nó được. Chính t́nh trạng xuất thần đó đă đóng vai tṛ quyết định để hoàn tất tác phẩm trong bốn tuần lễ ngắn ngủi.

Legend has it that a nun once entered Theresa's cell to deliver a message and found the madre sitting in front of a blank sheet of parchment. Theresa had not noticed that some­one had entered and the nun observed she was in a trance. When Theresa came to again, the sheet was all covered with her forceful handwriting. In one of her letters to brother Lorenzo, Theresa described this ecstatic period in her Iife in her characteristically impressive style: "I go about these days like a drunkard in some ways."

Tương truyền rằng một lần kia có một nữ tu bước vào tu pḥng ngài để trao một lá thư. Chị thấy ngài ngồi yên trước một trang giấy c̣n trống. Têrêxa không chú ư rằng đă có người vào, c̣n chị kia thấy ngài đang ở trong t́nh trạng ngây ngất. Khi Têrêxa bừng tỉnh th́ trang giấy đă đầy những hàng chữ của một nét chữ rất sinh động. Trong một lá thư gởi cho em Lorenzo, Têrêxa mô tả lúc xuất thần với giọng văn cảm kích rất đặc trưng của Ngài: “Chị đă trải qua những ngày ấy như một chàng trai say rượu”.

On November 29th, 1577, the work was finished. "Al­though, as I told you," she says in the epilogue, "I felt reluc­tant to begin this work, yet now it is finished, I am very glad to have written it, and I think my trouble has been worth while, though I confess it has cost me but little. If anything in this book is to the point, you must understand that it did not originate in me and that there is no reason to attribute it to me; for with my scant understanding and skill I could write nothing of this sort, unless God, in His mercy, enabled me to do so."

Ngày 29.11.1577 tác phẩm hoàn tất. Têrêxa viết trong phần kết: “Như con đă thưa với cha, dù con cảm thấy miễn cưỡng khi bắt đầu tác phẩm này, nhưng nay thấy nó hoàn tất con lại sung sướng v́ đă viết xong. Con nghĩ rằng những vất vả của con thật bơ công, dù phải thành thực thú nhận rằng con chẳng vất vả bao nhiêu. Nếu có điều nào trong cuốn này đụng đúng vấn đề, cha phải hiểu rằng đó không phải là do con, và không có lư do ǵ để gán cho con điều đó. V́ với tŕnh độ hiểu biết và khả năng nghèo nàn của con, con không thể viết được một thứ ǵ giống như vậy nếu Chúa không thương t́nh giúp đỡ”.

The madre, whose only concern in life was to show her nuns the way to God, wrote this book, too, as she says, "only to my sisters; the idea that anyone else could benefit from it, would be absurd." But no sooner had Luis de Leon, one of the greatest poets of the Spanish renaissance, published her work by order of the king, than fame took it immediately upon its wings. And fame corrected her humbly erroneous verdict and incorporated the work, which was written for her nuns, in the treasure of the inalienable possessions of mankind.

2

Đây cũng là một tác phẩm của một người mẹ suốt đời chỉ quan tâm làm sao cho con cái ḿnh thấy được đường dẫn tới Chúa. V́ thế Têrêxa nói: “(Tác phẩm này) chỉ dành cho các chị em của tôi. Thật là dại khi nghĩ rằng có người khác t́m được lợi ích nơi tác phẩm này”. Thế nhưng vừa khi được Luis de Leon, một trong các đại thi hào Tây Ban Nha thời Phục hưng, xuất bản theo lệnh đức vua, tác phẩm ấy đă nổi tiếng như cồn. Rồi chính danh tiếng ấy đă sửa lại nhận định khiêm tốn của mẹ về nó và đưa tác phẩm ấy - vốn chỉ dành cho các nữ tu - vào trong kho tàng văn chương giá trị của nhân loại.

2

Immortalized by posterity, the madre of a Spanish convent became the seraphic mother which we see in her today. Her spiritual descendants grew more numerous as the centuries rolled on. To the ranks of her discalced daughters were added popes and theologians, great poets and thinkers. Pascal and Malebranche, Leibnitz and even Voltaire, the apostle of skepticism, were among them. The truth of her teachings has not been shaken by centuries of scientific thought. She is the seraphic mother, today as yesterday and tomorrow, for all those who wish to transcend the ephemerality of ego and world, to start on the road of perfection to God. That the goal, toward which her road takes us, does actually exist has been confirmed before and after her time by all the loftiest teachers of mankind : the Brahmins of the Upanishads eight hundred years before Christ; Sakyamuni, the mystical teacher of Buddhism; St. Paul; the Neoplatonists; the mystics of the Middle Ages; the poets of Persian Sufism; and painters and poets as el Greco, Milton, Tennyson, William Blake, Francis Thompson.

Hậu thế suy tôn mẹ - một mẹ bề trên của một tu viện ở Tây Ban Nha đă trở thành mẹ chung cho nhiều người hôm nay. Con cái tinh thần của mẹ càng ngày càng đông. Không kể các nữ tu Cát Minh đi chân đất c̣n thấy cả các Đức Giáo Hoàng các nhà thần học, các thi hào và các nhà tư tưởng, như Pascal, Malebranche, Leibnitz và cả Voltaire - một tông đồ nhiệt t́nh của chủ nghĩa hoài nghi. Chân lư trong các giáo huấn của mẹ đă qua bao thế kỷ rồi mà vẫn không bị tư tưởng khoa học làm lung lay. Hôm nay cũng như hôm qua và ngày mai, Têrêxa đúng là bà mẹ cao cả của tất cả những ai muốn vượt lên cái tôi và thế giới phù du này để đi vào con đường hoàn thiện và lên với Thiên Chúa. Mục tiêu ấy có thật, đó là một điều đă được các bậc thầy của nhân loại trước và sau Têrêxa xác nhận: từ các Bramiens trong kinh Upanishads 800 năm trước công nguyên; Thích Ca Mâu Ni, một bậc thầy thần bí trong Phật giáo; thánh Phaolô, các triết gia Tân Platon, các nhà thần bí thời trung cổ, các thi sĩ của đạo Suffi ở Ba Tư, các họa sĩ và thi sĩ như El Greco, Milton, Tennyson, William Blake, Francis Thompson.

But what made of the madre of Avila the seraphic mother of the great chorus mysticus, is mainly her motherliness. In her writings a mother guides with loving hands the novice to the ultimate secrets of God. For Theresa not only knew the way but pursued it as a loving and motherly guide encourag­ing others to follow.

Thế nhưng cái làm cho bà bề trên tu viện Avila trở thành người mẹ cao cả của tập thể những người thần bí chính là t́nh mẫu tử của bà. Trong các bút tích của mẹ, ta đọc thấy h́nh ảnh một người mẹ đang âu yếm dắt tập sinh tới những bí mật sâu xa nhất của Thiên Chúa. Têrêxa không những biết đường mà c̣n đích thân đi theo đường đó, như người dẫn đường đầy t́nh mẫu tử bước trước cho con cái đi theo.

Hết

Về đầu trang  | Trở lại

Copyright © 2004 Giáo Hạt Phú Yên. All Rights Reserved.