|Trang chủ | Prayers online | Vietcạtholic News | Giáo lư phổ thông | Giới trẻ |

  Con t́m bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không t́m người bạn không bao giờ phản bộ con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào. (ĐHV.130)   

 
Tiểu sử các Thánh

Têrêxa Avila

 

 

 

Người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh mà c̣n nhờ những lương thực thiêng liêng - Mt 4,4

 

Giới Thiệu Tác Phẩm

 

Têrêxa Avila

VỊ THÁNH HAY XUẤT THẦN

One morning in August 1567, a strange caravan passed through the gates of the town of Avila. It consisted of four covered wagons with wooden wheels and no springs. In the first wagon sat a veiled woman - la madre - in the second and third some of her nuns; the fourth and last carried the belongings of the travelers and their holy vessels. Father Julian, the ordained priest of St. Joseph's, rode on a donkey next to the wagon of the madre, and muleteers, in the colorful Spanish clothes of their profession, walked along, left and right, with the teams. It was scorching hot. The road was bad, in places almost impassable. The stubborn mules paid little attention to the encouraging shouts of arre! arre! of their drivers, who had to have recourse to their most powerful Castilian oaths, and after the first five miles would have liked nothing better than to give into the mules and turn back. Medina, the destination of the little caravan, was still seventy miles off. Theresa, who wanted to reach her goal at all costs, had nothing to say to pacify the muleteers but that God had ordered this trip and that they should keep going for His sake. At first her words were drowned in the general swearing. But before long those tough men were gently walking along, listening to Theresa who was talking to them as a mother talks to her children.

Một buổi sáng tháng 8.1567, một đoàn xe kỳ lạ đi qua cổng thành phố Avila. Đoàn xe gồm bốn xe có mui, chạy trên các bánh xe bằng gỗ và không có nhíp nhún. Trong xe thứ nhất có một phụ nữ đội khăn, đó là la madre (mẹ); trong xe thứ hai và thứ ba có vài nữ tu của mẹ; xe thứ tư cũng là xe cuối cùng chở những đồ dùng và vật thánh của các phụ nữ ấy. Cha Julian, linh mục tuyên úy của tu viện thánh Giuse, cỡi lừa đi bên cạnh chiếc xe thổ mộ của mẹ. Đám người dắt lừa mặc quần áo Tây Ban Nha sặc sỡ đúng theo nghề của họ, tháp tùng hai bên thành từng toán. Hôm đó trời nóng cháy da. Đường xấu, có những chỗ như không thể vượt qua được. Mấy chú lừa bướng bỉnh như chẳng để ư tới những tiếng ḥ hét “đi! đi!” của người cỡi. Họ phải dùng tới những lời chửi rủa thậm tệ nhất của người miền Castilla để thúc lừa bước tới. Đi được năm dặm họ không c̣n cách nào hơn là theo ư lừa đề nghị quay lại. Đang khi đó Medina, nơi phải tới của đoàn xe này, c̣n xa tới 70 dặm. Têrêxa muốn bằng mọi giá phải đi tới nơi nên vuốt giận những người dắt lừa và bảo rằng nếu Chúa đă muốn họ lên đường th́ họ phải tiếp tục đi theo ư Ngài. Ban đầu những lời mẹ nói như ch́m trong tiếng chửi thề của họ. Thế nhưng không bao lâu sau, những người chai ĺ đó đă ngoan ngoăn tiếp tục cuộc hành tŕnh, để tai nghe những lời đầy t́nh mẫu tử của mẹ.

In Medina del Campo the little caravan of poverty was anything but welcome. The firmly established Carmelite and Augustinian monks looked askance at the intruders, whose postulates of asceticism might put their lives of comfortable piety in an unfavorable perspective, and whose complete destitution would doubtless absorb much of the charitable potential of Medina's fifty thousand souls. All sorts of ob­stacles were put in the way of Theresa's plans for a new con­vent. The only house offered her as shelter for her nuns was a dilapidated building with a leaking roof and cracks in the walls. No one could recall ever having seen it occupied, and even tramps and vagrants would not stay there, because they could always find something better.

Khi đến Medina del Campo đoàn xe nghèo nàn đó chẳng được tiếp đăi ân cần chút nào. Bởi lẽ các tu sĩ Cát Minh và Đaminh lâu đời ở đây nh́n những người khách không được mời với cặp mắt nghi ngờ. Họ sợ những nguyên tắc khổ hạnh của các chị em có thể đẩy cuộc sống đạo thoải mái tiện nghi của họ vào chỗ bất lợi, và t́nh trạng hoàn toàn thiếu thốn của các chị em chắc chắn sẽ rút hết tiến bố thí của 50.000 linh hồn ở Medina này. V́ thế họ dựng lên đủ thứ trở ngại để ngăn mẹ thực hiện dự tính thành lập tu viện tại đây. Ngôi nhà duy nhất được dâng cúng làm chỗ tá túc cho mẹ và các chị em là một ṭa nhà đă đổ nát, mái dột, tường nứt. Không ai nhớ là nhà đó đă có người tới ở bao giờ chưa. Ngay cả đám du thủ du thực cũng không dừng chân ở đó v́ họ vẫn có thể kiếm được chỗ khá hơn.

The following morning the townspeople of Medina were awakened by the sound of a new bell which came out of the old house and announced the first mass of the Discalced. That night a few eggs lay in front of the convent gate, and soon there was bread and cheese to feed the nuns.

Sáng hôm sau, dân chúng ở Medina bị đánh thức bởi tiếng chuông mới mẻ vang lên từ căn nhà cũ kỹ ấy, báo hiệu giờ cử hành thánh lễ đầu tiên của các nữ tu đi chân đất tại đây. Ngay đêm hôm đó đă thấy người đến đặt một ít trứng, trước cổng tu viện, rồi bánh ḿ, phó mát để nuôi các nữ tu.

A few days later, right after the matins, St. Joseph’s resounded with the loud noise of busy hammering. Workmen had started the job of repairing the leaks in the roof and of filling the cracks in the walls. In the course of the morning a van drew up in front of the building, and tables and wooden benches were unloaded. No one had called in the carpenters and roofers; no one had ordered the tables and benches. Charity had sent them to the home of the discalced nuns. A farmer’s wife came to implore the nuns to pray for her daughter who was dangerously ill. A few weeks later the girl, who had recovered, came in herself and stayed as a novice. The people of Medina had sided with the nuns; but for the present the angered monks persisted in their hostility.

Vài ngày sau, ngay sau giờ kinh sáng, tu viện thánh Giuse lại ồn ào với những tiếng búa, tiếng đập. Những người thợ đă bắt đầu sửa chữa những lỗ dột trên mái nhà và trám các vết nứt trên tường. Hôm đó người ta lại thấy một chiếc xe kéo dừng trước cửa tu viện, và bàn ghế được khiêng xuống. Chẳng ai mời thợ mộc, thợ hồ tới. Cũng chẳng ai đặt bàn ghế cả. Chính ḷng bác ái đă đưa họ đến nhà các nữ tu đi chân đất ấy. Vợ một bác nông dân đến nài nỉ các nữ tu cầu nguyện cho cô con gái thập tử nhất sinh. Vài tuần sau cô gái ấy b́nh phục và đến xin làm tập sinh của tu viện. Dân chúng ở Medina đă đứng về phe các nữ tu, nhưng lúc này các tu sĩ căm giận vẫn khăng khăng chống đối.

Then one day the madre was informed that two monks wished to speak to her. She found two calced Carmelite monks, who made an extremely incongruous pair. The one was a man of mature age, of powerful build, a giant in monk's garb; the other a youth of some twenty-four years, of small stature, barely reaching up to his partner's chest, and of such slender and delicate build that there was something ethereal about him, a boy in the garb of a monk.

Rồi một hôm người ta báo cho mẹ Têrêxa có hai tu sĩ muốn nói chuyện với mẹ. Mẹ nhận ra đó là hai tu sĩ thuộc ḍng Cát Minh mang giày, một cặp không cân xứng chút nào; một người đứng tuổi, vạm vỡ trong chiếc áo ḍng, người kia c̣n trẻ độ chừng hai mươi bốn tuổi, vóc dáng nhỏ nhắn chỉ cao tới ngực người kia, thon thả mảnh mai tới độ nơi người ấy ta như thấy có cái ǵ thanh cao thoát tục, không khác nào một cậu bé trong y phục thầy tu.

The stately figure was the prior of the calced Carmelites of Medina, Antonio de Heredia; his youthful companion was Friar John, one of the monks of his monastery. The prior spoke for both of them. The example of the discalced nuns, he said, had aroused in them the desire to lead a similarly pious life. By giving them her rules - they had thought - she, Theresa, might help them in their plan to establish a discalced monastery.

Người oai vệ kia là tu viện trưởng Cát Minh đi giày ở Medina, quí danh là Antonio de Heredia, c̣n người đồng hành trẻ trung của ông là tu sĩ Gioan, một trong các tu sĩ của tu viện. Tu viện trưởng thưa chuyện thay cho hai người. Ông cho biết gương của các nữ tu đi chân đất đă làm họ khao khát muốn sống một cuộc sống đạo đức tương tự. Theo họ, nếu mẹ Têrêxa trao cho họ xem luật ḍng của mẹ là mẹ có thể giúp họ thực hiện kế hoạch lập đan viện các tu sĩ đi chân đất tại đây.

This unexpected request fulfilled for Theresa, through a gift of unsolicited grace, what she had not dared to hope for in her boldest dreams: the possibility of extending her work to the male branch of the Carmelites and thus of imbuing the entire order with her ideas of reform and restoration. She consented with joy in her heart. When she looked once more at the strange pair, her innate sense of humor could not re­press the roguish observation: "Blessed be the Lord, for I have a friar and a half for the foundation of my new monastery."

Lời yêu cầu bất ngờ ấy đă thực hiện cho mẹ một điều mẹ không dám ao ước cả trong những giấc mơ táo bạo nhất của ḿnh, qua một ơn không dám cầu khẩn mà được ban: đó là khả năng mở rộng công cuộc của mẹ sang cả ngành nam của ḍng, nhờ đó có thể làm cho toàn ḍng thấm nhuần những tư tưởng cải tổ và phục hưng của mẹ. Mẹ hân hoan chấp nhận lời yêu cầu đó. Khi nh́n lại hai người khách lạ lùng ấy một lần nữa, óc trào phúng bẩm sinh của mẹ không khỏi đưa ra lời nhận xét tinh nghịch này: “Xin chúc tụng Chúa, v́ nay con đă có được một tu sĩ rưỡi để thành lập tu viện mới”.

But after her first more exhaustive conversation with the two Carmelite monks, she recognized that the half­friar would be considerably more important for the propaga­tion of her ideas of monastic reform than the venerable giant, the converted prior of the calced monks, and that this frail youth in a monk’s cowl was sent to her by God and would become her equal as partner in her life’s work. For Friar John was no less a person than the Carmelite monk, whom the history of the saints remembers as St. John of the Cross, San Juan de la Cruz, one of the most gifted, most immaculate mystic poets of world literature.

Tuy nhiên sau khi nói chuyện cho cạn nguồn, mẹ lại nhận thấy tu sĩ chỉ được một nửa kia sẽ rất quan trọng cho công việc quảng bá những tư tưởng cải tổ nhà ḍng, hơn là người khổng lồ đáng kính nọ, vị bề trên mới hoán cải của các tu sĩ mang giày. Chàng thanh niên mảnh khảnh trong lốt áo nhà tu này đúng là do Chúa gởi tới và sẽ trở thành người cộng tác ngang hàng với mẹ trong công cuộc để đời ấy của ḿnh. Bởi v́ tu sĩ Gioan kia c̣n là ǵ hơn nữa chứ không phải chỉ là một tu sĩ Cát Minh. Anh chính là thánh Gioan Thánh Giá (San Juan de la Cruz), một trong những nhà thơ thần bí tài hoa nhất, tinh khiết nhất trong lịch sử văn chương thế giới.

He was of peasant stock, the son of a linen weaver, quite unorthodox, it is true, with his visions befalling him during his walks through forests and fields, and the mystic hymns which he composed. He had turned his back on the world and sought the safety of a God-pleasing life in a Carmelite monastery. But in the worldly bustle of contemporary monas­ticism he had not found the answer to his quest and was con­vinced that salvation could only be attained in the spirit of Theresa’s reform.

Anh vốn gốc nông thôn, con trai một người thợ dệt vải, không chính thống mấy, thật vậy,  v́ những thị kiến anh đă thấy khi dạo qua các cánh rừng, qua đồng ruộng cũng như v́ những thánh thi thần bí do anh sáng tác. Anh đă quay lưng với thế gian và đi t́m sự b́nh an bằng cách sống đẹp ḷng Chúa trong một đan viện Cát Minh. Thế nhưng trong không khí rộn ràng mang màu sắc thế tục của các đan viện thời ấy anh đă không t́m được câu trả lời cho ước vọng của ḿnh, anh xác tín rằng chỉ có thể có được sự giải thoát khi sống trong tinh thần canh tân của mẹ Têrêxa.

He contributed to her work his enthusiasm arising from a deep longing for true piety, his faith strengthened by mystical experience, and the quietude of his heart which had its source in heaven.

Anh đă góp phần vào công cuộc của mẹ Têrêxa bằng sự nhiệt t́nh của ḿnh, một sự nhiệt t́nh xuất phát  từ khát vọng nung nấu bao lâu nay là được sống một cuộc đời đạo đức thật sự, từ ḷng tin tưởng vững mạnh nhờ trải qua những kinh nghiệm thần bí và từ sự b́nh an trong tâm hồn bắt nguồn từ trời cao.

Theresa and John were of different worldly lineage, of different sex and of different age; yet they were both of the same spiritual lineage, of the same spiritual sex and had the same spiritual maturity. They both were mystics, poets, saints. What distinguished them outwardly, was eliminated by an inner identity of purpose and ideal. Their work was enlivened by the same spirit, the same holiness. It was destined to be a unique kind of work, for the quietude of their hearts and the mysticism of their minds united these two visionaries in practi­cal activity and made of stillness and vision an earthly reality.

Têrêxa và Gioan thuộc hai ḍng dơi khác nhau, hai giới tính và hai lớp tuổi khác nhau. Thế nhưng cả hai đều chung một ḍng dơi tâm linh, chung một giới tính tâm linh và chung một tuổi trưởng thành tâm linh. Cả hai đều là những nhà thần bí, nhà thơ, là những thánh nhân. Những ǵ khiến họ khác nhau bên ngoài sẽ không đáng kể ǵ khi nh́n vào sự đồng nhất bên trong của hai người trước mục tiêu và lư tưởng. Công việc của họ được khởi sắc nhờ cùng một tinh thần, một sự thánh thiện. Công việc đó đă được tiền định để trở thành một công việc duy nhất: với sự an b́nh trong tâm hồn và với năo trạng thần bí, cả hai nhà thấu thị này sẽ liên kết với nhau trong các hoạt động thực tiễn, biến sự b́nh an nội tâm và những thị kiến ấy trở thành hiện thực trong trần thế.

The first monastery of discalced friars was set up in Du­ruelo, not far from Salamanca. The former prior of the calced Carmelites, Antonio de Heredia, now Antonio de Jesu, was also the first discalced prior; but it was Friar John’s spirit that pervaded the organization of the new institution, that   formulated the principles of its discipline and held absolute sway over all its concerns. The building of this first discalced monastery was a dungeonlike structure the furnishings of which consisted of two stones and two bundles of hay serving John and Antonio as pillows and beds. In course of time the monastery of the discalced friars at Duruelo grew in size. But nothing in its organization was changed. Only the number of pillows of stone and the number of bundles of hay were increased in proportion to the increased number of friars, of austere fasters and quiet worshipers.

2

Đan viện đầu tiên dành cho các nam tu sĩ đi chân đất được thành lập ở Duruelo, không xa Salamanca mấy. Cựu tu viện trưởng của các thầy ḍng Cát Minh đi giày là Antonio de Heredia, sau trở thành Antonio de Jesu nay cũng là tu viện trưởng đầu tiên của các thầy ḍng Cát Minh đi chân đất. Tuy nhiên chính tinh thần của tu sĩ Gioan đă lan vào hết mọi tổ chức của cơ sở mới thành lập này, làm thành những nguyên tắc kỷ luật và chỉ huy mọi bận tâm của nhà ḍng. Cơ sở của đan viện Cát Minh đi chân đất đầu tiên này có cấu trúc như một nhà tù. Đồ đạc cho hai vị chỉ gồm hai viên đá và hai bó cỏ khô dùng làm gối và làm giường. Thế nhưng với thời gian đan viện này đă mở mang thêm. Tuy nhiên, không có ǵ thay đổi trong tổ chức. Chỉ có số đá và số bó cỏ khô là tăng thêm, tỉ lệ với số tu sĩ, những người chay tịnh khắc khổ và thờ phượng âm thầm.

 

2

Medina del Campo, the first stage of Theresa’s reform work, signified thus not only the first foundation of a discalced convent outside of Avila but also the first successful move in her comprehensive campaign for the reform of both the male and female branches of the Carmelite order. It signified – something that had never been heard of before – success and fame for a Spanish woman. Here a woman appeared in the limelight of public attention who not only had broken the ban barring all women from participation in public activities but who had become the founder of an institution for men, in which men of all ages and nations were to participate.

Như thế, Medina del Campo, chặng đầu tiên trong chương tŕnh cải tổ của Têrêxa, không những là cơ sở đầu tiên của một tu viện loại này ở bên ngoài ranh giới Avila, mà c̣n là bước thành công đầu tiên trong, cuộc vận động rộng răi cho kế hoạch cải tổ nhà ḍng ở cả hai ngành nam và nữ. Đó chính là thành công và vinh dự của một phụ nữ Tây Ban Nha, điều chưa từng nghe nói trước đây. Một phụ nữ được mọi người chú ư không phải v́ đă phá được hàng rào ngăn cấm nữ giới tham gia các hoạt động công khai, mà c̣n đă trở thành nhà sáng lập một ḍng tu cho nam giới của mọi thế hệ và mọi quốc gia.

One after the other new convents and monasteries of the reform grew up under the creative hand of this indefatigable missionary. Theresa no longer had to fight for the consent of the communities; she no longer had to be content with dilapi­dated old homes. From everywhere she received letters re­questing her to honor this place or that by the foundation of a discalced convent.

Các tu viện mới lần lượt ra đời dưới bàn tay sáng tạo của nhà truyền giáo không biết mệt mỏi đó. Têrêxa không c̣n phải tranh đấu để được sự đồng t́nh của các cộng đoàn. Không c̣n phải bằng ḷng với những ngôi nhà cũ kỹ đổ nát. Mẹ nhận được từ mọi nơi thư yêu cầu mẹ làm vinh dự nơi này nơi nọ bằng cách thiết lập một tu viện Cát Minh đi chân đất.

The people vied with each other for the privilege of placing at her disposal houses and homes in which her nuns could live their life of pious contemplation. And now, when the fame of this popular saint had reached the court of Philip II, the nobility too did not wish to remain in the background but was eager to take an active part in the reform. The first of the rich and noble, who could pride her­self with having dedicated a house of poverty, was Theresa’s old acquaintance, the once disconsolate widow Luise de la Cerda.

Dân chúng đua nhau để được đặc ân giao cho mẹ sử dụng nhà cửa hầu các nữ tu có nơi sống đời chiêm niệm đạo đức. Rồi đến khi danh tiếng của vị thánh được nhiều người yêu mến này đến tai triều đ́nh vua Philip II, cả giới quí tộc cũng không chịu đứng núp trong hậu trường mà đă hăng hái góp phần quan trọng vào việc cải tổ.. Người quí tộc và giàu có đầu tiên hănh diện v́ đă dâng cúng một ngôi nhà cho lối sống khó là người quen cũ của mẹ, quả phụ Luy Cerda, người đă từng đau khổ buồn phiền.

When the princess Ana Eboli learned that her best-hated rival, the duchess de la Cerda, had stolen a march upon her, she decided to overtrump her and not just to put one of her houses in Pastrana at the disposal of the saintly reformer but to take the veil and move herself into the convent of poverty. She left her sumptuous palace, took leave from her one hundred costly robes and five hundred costly lace mantillas, donned an artistically mended garb of sackcloth, hired a rickety peasant cart, drove, accompanied by two chamber­maids, to the house which she herself had dedicated to the reform, and announced that she intended to live there hence­forth as a discalced Carmelite nun.

Khi công chúa Ana Eboli hay tin rằng đối thủ đáng ghét nhất của ḿnh là nữ công tước De la Cerda đă cướp quyền đi trước th́ chính công chúa quyết định đánh lá bài cao hơn. Không những chỉ giao cho nhà cải cách thánh thiện quyền sử dụng ngôi nhà của ḿnh ở Pastrana mà c̣n đội lúp gia nhập tu viện nghèo hèn đó. Công chúa bỏ cung điện tráng lệ, giă từ một trăm bộ áo đắt tiền, một trăm chiếc khăn choàng bằng “đăng ten” cao giá để mặc vào ḿnh một chiếc áo vải thô vá rất mỹ thuật, thuê một chiếc xe nhà quê lọc cọc, cùng với hai người hầu pḥng chạy tới căn nhà mà chính công chúa đă dâng cúng cho chương tŕnh cải tổ của Têrêxa, đồng thời tuyên bố từ nay sẽ sống tại đây như một nữ tu sĩ Cát Minh đi chân đất.

She insisted that her chambermaids be admitted to the no­vitiate too. Then the “newly baked chambernuns” were ordered to unpack her trunks. Her cell was filled with dozens of carefully patched Carmelite habits of various cuts and pat­terns, each one for a different occasion in her proposed career as a discalced nun. There was one for the matins, another one for vespers; one for the kitchen, one for contemplation, and a very special one for high mass in honor of the holy martyrs.

Her meals, carefully prepared for a discalced faster, were brought over from her palace. She insisted on keeping her predicate of nobility and received visitors from outside when­ever she pleased. From the first the nuns and even the prior­ess were ordered around by her, for she saw no reason why she should not be the mistress of them all.

Công chúa cũng nài nỉ cho hai người hầu pḥng của ḿnh được vào nhà tập nữa. Sau đó “các nữ tu hầu pḥng mới ra ḷ” đó được lệnh mở những chiếc rương. Thế là tu pḥng của bà chất tới hằng tá y phục Cát Minh được ráp nối rất cẩn thận từ nhiều khúc vải khác nhau về màu và kiểu, mỗi y phục sẽ được dùng vào mỗi dịp khác nhau suốt quá tŕnh làm nữ tu đi chân đất trong kế hoạch của bà. Có một cái mặc khi đọc kinh sáng, một cái mặc khi đọc kinh chiều, một cái mặc làm bếp, một cái mặc khi chiêm niệm và một cái rất đặc biệt mặc trong những dịp lễ trọng kính các thánh tử đạo.

Các bữa ăn của bà, nấu nướng rất cẩn thận cho một người chay tịnh đi chân đất, được mang từ cung điện tới. Bà đ̣i giữ danh hiệu quí tộc và đ̣i tiếp khách bất cứ lúc nào bà muốn. Ngay từ đầu bà đă ra lệnh cho các nữ tu và cả chị bề trên đứng hầu quanh ḿnh, v́ cho rằng không có lư do ǵ cấm bà không làm bà chủ mọi người trong nhà.

Theresa was just occupied with the organization of a new convent in Alba de Tormes, when the prioress of Pastrana wrote to her in despair about the antics of princess Eboli. At once she rushed to Pastrana, for what was going on there was even more important than the establishment of a new house of the reform. It concerned the integrity and purity of the re­form as a whole. No gift of money, no donation of houses, however liberal, could confound her in the pursuit of her ideal of pious living. And when she arrived in Pastrana and stood face to face with the princess to discuss the situation that had developed, she was not a grateful protégé talking to a gener­ous patron but a determined protagonist of the ideal of poverty fighting the arrogance of a presumptuous representa­tive of wealth. A displeased superior reprimanded an unruly nun, who had dared to violate the rules of silence, poverty and humility. The princess was accustomed to order, not to obey, and in a rage she exclaimed : “This is my house, and I demand that my orders be obeyed!” But Theresa replied: “This is the house of the Lord, and I demand that His orders be obeyed!” The princess had nothing more to say.

Lúc đó Têrêxa đang bận tổ chức một tu viện mới ở Alba de Tormes. Một ngày kia mẹ nhận thư của chị bề trên thất vọng nói về những tṛ lố bịch của công chúa Eboli. Mẹ lập tức quay về Pastrana, v́ sự việc đang xảy ra ở đó c̣n quan trọng hơn cả việc thành lập một tu viện cải cách mới. Nó đụng tới sự toàn vẹn và thuần khiết của toàn bộ chương tŕnh canh tân. Không có tiền biếu hay nhà cúng nào, dù rộng răi đến đâu đi nữa, có thể làm mẹ chao đảo khi theo đuổi lư tưởng đạo đức của ḿnh. Khi về tới Pastrana và đối diện với bà công chúa để nói về t́nh h́nh mới xảy ra, mẹ không đóng vai một người được che chở đang tỏ ḷng tri ân đối với người bảo trợ hào hiệp, nhưng mẹ cư xử như người chủ xướng kiên quyết của lư tưởng sống nghèo, chống lại tính hách dịch của một người đại diện tự phụ của tiền bạc. Mẹ cư xử như một bề trên đang phật ḷng trách cứ một nữ tu đi sai luật, dám vi phạm các luật giữ im lặng, sống nghèo và khiêm tốn. Bà công chúa vốn đă quen ra lệnh chứ không quen vâng phục, giận dữ hét lên: “Đây là nhà tôi, tôi yêu cầu phải thi hành lệnh của tôi”. Têrêxa liền đáp lại: “Đây là nhà Chúa, và tôi yêu cầu phải thi hành mệnh lệnh của Chúa”. Bà công chúa không biết nói ǵ hơn.

She left within the hour. She took her chambermaids and her trunks with her and vowed vengeance upon the ungrateful nuns. In the eyes of the faithful, however, Theresa’s fearless demeanor in front of the powerful princess strengthened her reputation and that of the reform she stood for. She had proved that she knew not only how to found an order of poverty but also how to defend it.

2

Trong ṿng một giờ bà rời khỏi tu viện, mang theo các chị hầu pḥng, rương ḥm và thề sẽ trả thù các nữ tu vô ơn đó. Tuy nhiên, đối với các tín hữu thái độ can đảm của Têrêxa khi đứng trước bà công chúa quyền hành kia càng củng cố thêm danh tiếng của Têrêxa và công cuộc cải tổ mà mẹ đang đại diện. Mẹ đă chứng minh không những ḿnh biết thành lập nhà ḍng nghèo khó mà c̣n biết bảo vệ nó nữa.

2

The Carmelites of the mitigated rule watched with growing concern the success of mother Theresa's movement. The houses of the discalced increased in quick succession. The re­form had begun to affect the male branch of the Carmelite order as well. It was no longer the convent of the Incarnation alone but the entire order that was in danger.

Các tu sĩ Cát Minh của các tu viện hưởng qui chế giảm nhẹ ngày càng chú ư theo dơi những thành công của phong trào do mẹ Têrêxa khởi xướng. Các tu viện của các tu sĩ chân đất gia tăng liên tục và nhanh chóng. Cuộc cải tổ bắt đầu có tác dụng tới ngành nam của ḍng Cát Minh. Bây giờ không phải chỉ có tu viện Nhập Thể mà toàn bộ nhà ḍng đang lâm nguy.

As a Carmelite nun Theresa was still subject to the jurisdiction of the order, although as a saint, whose name was known and admired throughout Spain, she was proof against a direct attack. It was no longer possible, as it had been, to recall her to the Incarna­tion and have a jury of nuns pass judgment on her; but it was possible to paralyze her work by giving her a position of honor at the mother convent. The Carmelites of the mitigated rule knew how to lay the trap of honorary rewards.

V́ là nữ tu Cát Minh nên mẹ Têrêxa vẫn c̣n lệ thuộc quyền tài thẩm của nhà ḍng, cho dù như một vị thánh mà tên tuổi được biết tới và ngưỡng mộ khắp nước Tây Ban Nha, mẹ không thể bị tấn công trực tiếp được. Bây giờ không c̣n có thể triệu hồi mẹ về lại tu viện Nhập Thể như trước kia, và không thể thành lập một bồi thẩm đoàn các nữ tu để xét xử mẹ. Thế nhưng vẫn có thể làm tê liệt công việc của mẹ bằng cách cho mẹ một vị trí danh dự ngay tại nhà ḍng. Các nữ tu Cát Minh theo qui chế khoan nhượng biết cách dùng những phần thưởng danh dự để gài bẫy người khác.

The Carmelite provincial made Theresa the prioress of the Incarnation. Her task was to remedy the prevailing laxness and to lead the nuns back to a stricter form of devotion. What a triumph! What wonderful recognition of her organiza­tional skill! What satisfaction to be placed as prioress over the nuns who had once passed judgment against her! But mainly, what splendid opportunity of taking her away, for three entire years, from her work for the reform and of keeping her imprisoned at the Incarnation!

Cha giám tỉnh đặt Têrêxa làm tu viện trưởng tu viện Nhập Thể. Nhiệm vụ của mẹ là sửa chữa t́nh trạng buông thả và đưa các nữ tu trở lại đời sống nghiêm nhặt hơn. Thật là một chiến thắng! Một sự công nhận tuyệt vời tài tổ chức của mẹ! Thật là hài ḷng khi được đặt làm bề trên của những người trước đây đă lên án ḿnh! Nhưng chủ yếu, thật là một cơ hội tuyệt diệu để kéo mẹ ra khỏi những công việc cải tổ và gián tiếp giam mẹ tại tu viện Nhập Thể trong ba năm!

At first Theresa was shocked by the assignment. She looked through the intrigue which was hiding behind the mask of honor and recognition. At the height of success she was forced to abandon her work as a reformer in order to function as the prioress of a convent of the mitigated rule, where the nuns were protesting in open rebellion against her appointment.

Ban đầu Têrêxa sửng sốt trước sự bổ nhiệm ấy. Mẹ thấu suốt mưu mô nấp đàng sau mặt nạ danh dự và truy nhận đó. Khi đă thành công tột đỉnh mẹ lại bị buộc phải bỏ công việc của một nhà cải tổ để làm bề trên một tu viện theo qui chế khoan nhượng, một nơi mà các nữ tu đang công khai phản đối sự bổ nhiệm này.

But when Theresa started on her way back to the Incarna­tion, she did so not only because she was bound by her vows to render obedience to the order, but she meant to devote her­self wholeheartedly to the solution of the task that had been entrusted to her. She knew that this newest assignment was a trap of her enemies, but if she had really resolved to serve God, she must serve Him, also in the trap of her enemies, with undiminished ardor. She now had but one end in view: to lead the “poor things” of the Incarnation, who had once been her fellow nuns, back on the one and only road to God. Mis­fortune turned into a new task, and in order to cope with it effectively, she appointed St. John of the Cross as father con­fessor of the Incarnation, for in him the nuns would have a spiritual leader after her mind, of her humility and quietude of soul.

Thế nhưng trên đường về tu viện Nhập Thể, Têrêxa không những muốn chu toàn lời khấn vâng phục mà c̣n muốn hiến dâng trọn vẹn con người ḿnh để thi hành nhiệm vụ đă được trao cho. Mẹ biết rằng công việc mới này là cái bẫy kẻ thù giăng ra, nhưng nếu đă quyết tâm phụng sự Chúa mẹ phải phụng sự Ngài ngay cả trong bẫy của kẻ thù, phụng sự với một ḷng hăng hái không hề suy giảm. Bây giờ mẹ chỉ có một mục tiêu trước mắt là hướng dẫn những “người tội nghiệp” của tu viện Nhập Thể – những kẻ đă từng là đồng bạn với mẹ – quay về con đường duy nhất dẫn tới Chúa. Sự rủi ro đă biến thành sứ mạng, và để đương đầu với sứ mạng cách hiệu quả, mẹ chỉ định thánh Gioan Thánh giá làm cha giải tội của tu viện, v́ các nữ tu sẽ t́m được nơi ngài một nhà d́u dắt tinh thần theo tinh thần của mẹ: khiêm tốn và b́nh an trong tâm hồn.

The nuns of the Incarnation received her in a spirit of undisguised hostility. She was greeted with insults and ac­cusations. But after the provincial had confirmed the finality of his decision, the anger of the nuns turned into apprehen­sion, for they feared the retaliatory strictness of their new superior. The first chapter day, when the prioress was to make her speech of acceptance, a worried file of nuns moved into the refectory. But what a surprise was awaiting them there! The rostrum, which they were wont to see reserved for the prioress, was occupied by a statue of the Holy Virgin. Theresa was kneeling before it. When she arose to speak to the nuns, she pointed to the Virgin and said: “This is your new prioress. Her orders you and I will have to obey. I have only been appointed to lead you and be your guide in obedience.”

Các nữ tu ở tu viện Nhập Thể đón tiếp Têrêxa trong thái độ thù nghịch không che đậy. Mẹ được đón tiếp bằng những lời nhục mạ và tố cáo. Thế nhưng sau khi cha giám tỉnh xác nhận quyết định dứt khoát của ngài, các nữ tu ấy đổi sự giận dữ thành sợ sệt v́ họ sợ bà bề trên mới này khép vào khuôn khổ như để trả thù. Ngay ngày quan trọng đó, khi mẹ bề trên sắp đọc diễn văn nhận chức, các nữ tu bước vào nhà cơm trong tâm trạng lo lắng sợ sệt. Thế nhưng thật bất ngờ: diễn đàn thường dùng cho mẹ bề trên bây giờ lại dùng để đặt một pho tượng Đức Mẹ. C̣n Têrêxa qú trước tượng. Khi đứng dậy ngỏ lời với chị em, mẹ chỉ vào tượng Đức Mẹ và nói: “Đây là Mẹ bề trên mới của chị em. Ngài sẽ ra lệnh cho chị em, và tôi cũng phải vâng theo. Tôi chỉ được đề cử dẫn dắt chị em và hướng dẫn trong sự vâng phục”.

As if by magic, all fear had vanished from the hearts of the nuns, and also all indignation and all hate. Before long the nuns of the Incarnation asked Theresa that the parlor be abolished; they took up the practice of mental prayer in the quietude of their cells and patterned their lives more and more after the rules of the discalced.

Rồi như có phép mầu, tất cả mọi lo sợ, phẫn nộ và thù ghét đều biến mất. Chẳng bao lâu chính các nữ tu ở tu viện Nhập Thể đều xin mẹ dẹp bỏ pḥng khách; họ thi hành việc tâm nguyện trong tu pḥng riêng, uốn nắn cuộc sống ḿnh càng ngày càng giống với luật lệ của các nữ tu đi chân đất.

 

Về đầu trang  | Trở lại

Copyright © 2004 Giáo Hạt Phú Yên. All Rights Reserved.